K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

10 tháng 12 2024

pH = 0,097 ⇒ [H+] = 0,8 (M)

⇒ nH+ = 0,8.0,2 = 0,16 (mol)

⇒ nH2SO4 = 0,08 (mol)

⇒ nH2SO4.3SO3 = 0,02 (mol)

⇒ mH2SO4.3SO3 = 0,02.338 = 6,76 (g)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu :                                     Mẹ và quả Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng.   Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.   Và chúng tôi, một...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu :
                                    Mẹ và quả
Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.
 
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
 
Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái
Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.
(Trích từ tập thơ “Mẹ của nhà thơ”, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Phụ Nữ, 2008)

Câu 1. Liệt kê các từ ngữ và hình ảnh miêu tả hành động của người mẹ trong bài thơ.
Câu 2. Nêu ý nghĩa tượng trưng của hai hình ảnh sau: “giọt mồ hôi mặn”, “quả non xanh”.
Câu 3. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai? Chủ thể trữ tình đã thể hiện cảm xúc khi chứng kiến sự vất vả của người mẹ trong bài thơ?
Câu 4.   Em hiểu thế nào về hai câu thơ sau:
'Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.'
Theo em, thông điệp nào có ý nghĩa nhất từ văn bản trên? Vì sao?

1
11 tháng 4

Câu 1. Các từ ngữ và hình ảnh miêu tả hành động của người mẹ là, hái quả, vun trồng, trông vào tay mẹ, giọt mồ hôi rỏ xuống, thể hiện sự chăm chỉ, tần tảo, âm thầm lao động vì con cái.

Câu 2. “Giọt mồ hôi mặn” tượng trưng cho sự vất vả, hi sinh, công sức lao động của người mẹ, còn “quả non xanh” tượng trưng cho người con chưa trưởng thành, chưa đủ chín chắn, chưa đền đáp được công ơn của mẹ.

Câu 3. Chủ thể trữ tình là người con, chủ thể đã thể hiện cảm xúc thương yêu, xót xa và biết ơn sâu sắc trước sự hi sinh thầm lặng của mẹ, đồng thời có sự lo lắng khi mẹ ngày càng già yếu.

Câu 4. Hai câu thơ thể hiện nỗi lo sợ của người con khi mẹ đã già, sức yếu nhưng bản thân mình vẫn chưa trưởng thành, chưa đủ chín chắn để đền đáp công ơn mẹ. Thông điệp ý nghĩa nhất là mỗi người cần biết trân trọng, yêu thương và sớm báo đáp công ơn cha mẹ, vì thời gian trôi qua rất nhanh, nếu không kịp trưởng thành thì sẽ hối tiếc khi cha mẹ già đi.

12 tháng 4

Câu 1. Sơ đồ quan hệ nhân vật trong đoạn trích Sống hay không sống đó là vấn đề

Hamlet là trung tâm, hoàng tử Đan Mạch, con của vua Hamlet cũ
Vua Claudius là chú của Hamlet, đồng thời là kẻ giết cha Hamlet và cưới mẹ Hamlet
Hoàng hậu Gertrude là mẹ Hamlet, vợ của vua Hamlet cũ và sau đó lấy Claudius
Ophelia là người yêu của Hamlet, con gái của Polonius
Polonius là cha của Ophelia, cận thần của vua Claudius
Laertes là anh trai của Ophelia, con trai của Polonius

Mối quan hệ chính
Hamlet mâu thuẫn với Claudius vì thù giết cha
Hamlet có tình yêu với Ophelia nhưng bị giằng xé nội tâm
Gertrude là mẹ Hamlet nhưng đứng về phía Claudius
Polonius phục vụ Claudius và gián tiếp gây hiểu lầm giữa Hamlet và Ophelia
Laertes yêu thương em gái và sau này đối đầu với Hamlet

Giải thích, đoạn trích chủ yếu thể hiện bi kịch nội tâm của Hamlet nên các mối quan hệ xoay quanh xung đột giữa nghĩa vụ trả thù, tình cảm gia đình và tình yêu.


14 tháng 4

I keep fit and healthy by maintaining a balanced lifestyle, I exercise regularly such as jogging or doing home workouts to stay active, I also try to eat healthy food like vegetables, fruits, and drink enough water every day, besides that I get enough sleep to help my body recover, I avoid unhealthy habits like eating too much fast food, this helps me stay energetic and feel better both physically and mentally

3 tháng 12 2024

Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu là một tác phẩm quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ này không chỉ nổi bật về nội dung mà còn có hình thức đặc sắc.

  1. Thể phú cổ phong: Bài thơ được viết theo thể phú cổ phong, một thể thơ truyền thống của văn học Trung Quốc nhưng đã được Việt hóa. Thể thơ này cho phép sự kết hợp giữa văn xuôi và văn vần, tạo nên sự linh hoạt trong cách biểu đạt.

  2. Kết cấu chặt chẽ: Bài thơ có kết cấu rõ ràng, gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần kể chuyện và phần kết luận. Mỗi phần đều có vai trò riêng, góp phần vào việc truyền tải thông điệp của tác giả.

  3. Hình ảnh sống động: Trương Hán Siêu sử dụng nhiều hình ảnh tự nhiên và lịch sử để khắc họa cảnh vật và diễn biến trên sông Bạch Đằng. Những hình ảnh này không chỉ có giá trị miêu tả mà còn có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

  4. Ngôn ngữ tinh tế: Ngôn ngữ trong bài thơ vừa giàu chất thơ, vừa mang tính học thuật. Tác giả sử dụng nhiều điển cố, điển tích để tăng tính trang trọng và sâu sắc cho tác phẩm.

Bằng cách kết hợp những yếu tố trên, Trương Hán Siêu đã tạo nên một tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân, đồng thời phản ánh tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc của ông

14 tháng 4

Câu 1. Trong cuộc sống, mỗi người luôn được khuyên hãy là chính mình, tuy nhiên chia sẻ của MC Trác Thúy Miêu lại đặt ra một góc nhìn khác khi cho rằng tại sao phải là chính mình nếu có thể trở thành điều gì đó hữu ích hơn, theo em đây là một quan điểm đáng suy ngẫm, bởi lẽ việc là chính mình không có nghĩa là giữ nguyên mọi điểm mạnh yếu mà không thay đổi, nếu bản thân còn hạn chế, chưa tốt thì việc cố chấp giữ nguyên cái tôi có thể khiến con người trở nên trì trệ, trong khi đó xã hội luôn cần những con người có giá trị, biết cống hiến và hoàn thiện bản thân, vì vậy việc hướng tới trở thành một người có ích là điều cần thiết, tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc đánh mất bản thân, bởi nếu chạy theo những tiêu chuẩn bên ngoài mà quên đi giá trị riêng thì con người sẽ dễ trở nên mờ nhạt, sống không có bản sắc, do đó cần hiểu rằng “là chính mình” phải đi kèm với việc không ngừng rèn luyện để trở nên tốt hơn, hữu ích hơn cho gia đình và xã hội, mỗi người cần biết cân bằng giữa việc giữ gìn cá tính riêng và phát triển bản thân, bởi chỉ khi vừa là chính mình vừa trở thành người có ích thì cuộc sống mới thực sự có ý nghĩa và trọn vẹn

Lá ngô lay ở bờ sông Bờ sông vẫn gió Người không thấy về Xin người hãy trở về quê Một lần cuối... một lần về cuối thôi Về thương lại bến sông trôi Về buồn lại đã một thời tóc xanh Lệ xin giọt cuối để dành Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha Cây cau cũ, giại hiên nhà Còn nghe gió thổi sông xa một lần Con xin ngắn lại đường gần Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi. câu 1:...
Đọc tiếp

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.

câu 1: xác định phương thức biểu đạt của văn bản trên? 

câu 2: chủ thể trữ tình của bài thơ xuất hiện trực tiếp qua từ ngữ nào  

câu 3: từ ngữ nào trong bài thơ bộc lộ tâm tư tình cảm của tác giả 

câu 4: chỉ ra và nên tác dụng biện pháp tu từ nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ:
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh

câu 5: anh/chị hiểu thư thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ:

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
câu 6: xác định đề tài và chủ đề của bài thơ?

câu 7: nêu cảm xúc chủ đạo của người viết thể hiện qua bài thơ 

câu 8: bài thơ gợi cho em xuy nghĩ gì về tình mẫu tử trong cuộc sống? ( trình bày khoảng 5-7 dòng )

trả lời hộ mình với ạ

1
14 tháng 4

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, ngoài ra có kết hợp miêu tả để làm rõ cảm xúc và cảnh vật
Câu 2. Chủ thể trữ tình xuất hiện trực tiếp qua từ ngữ con, xin người, xin mẹ
Câu 3. Những từ ngữ bộc lộ tâm tư tình cảm của tác giả là xin, thương, buồn, lệ, một lần cuối, con xin, vì đó là các từ ngữ thể hiện nỗi nhớ, sự đau xót, lời cầu mong tha thiết
Câu 4. Biện pháp tu từ là điệp ngữ, lặp lại từ về, một lần, cuối, tác dụng nhấn mạnh lời khẩn cầu tha thiết mong người mẹ trở về quê lần cuối, làm nổi bật nỗi xót xa, lưu luyến và tình cảm sâu nặng của người con
Câu 5. Hai câu thơ gợi cảnh bờ sông vẫn vậy, gió vẫn thổi, thiên nhiên không đổi nhưng người thì không thấy trở về, qua đó diễn tả nỗi trống vắng, chờ đợi, buồn thương trước sự vắng bóng của người thân
Câu 6. Đề tài của bài thơ là tình mẫu tử và nỗi niềm của người con trước mẹ, chủ đề của bài thơ là lời khẩn cầu tha thiết của người con mong mẹ trở về quê lần cuối, đồng thời thể hiện tình yêu thương mẹ sâu nặng và nỗi đau trước sự chia lìa
Câu 7. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là buồn thương, tha thiết, nghẹn ngào, xúc động trước tình mẹ con và nỗi mất mát
Câu 8. Bài thơ gợi cho em hiểu rằng tình mẫu tử là tình cảm vô cùng thiêng liêng và sâu nặng. Mẹ luôn là người yêu thương, hi sinh và che chở cho con suốt cuộc đời. Khi còn có mẹ, mỗi người phải biết yêu thương, quan tâm và trân trọng mẹ nhiều hơn. Đừng để đến khi sắp mất đi mới cảm thấy tiếc nuối. Tình mẹ là điểm tựa lớn nhất trong cuộc sống của mỗi con người.

Văn bẳn: Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông  Lá ngô lay ở bờ sông Bờ sông vẫn gió Người không thấy về Xin người hãy trở về quê Một lần cuối... một lần về cuối thôi Về thương lại bến sông trôi Về buồn lại đã một thời tóc xanh Lệ xin giọt cuối để dành Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha Cây cau cũ, giại hiên nhà Còn nghe gió thổi sông xa một lần Con xin ngắn lại đường gần Một...
Đọc tiếp

Văn bẳn: Bờ sông vẫn gió - Trúc Thông 

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.

I : đọc hiểu 

câu 1: xác định phương thức biểu đạt của văn bản trên?

câu 2: chủ thể trữ tình của bài thơ xuất hiện trực tiếp qua từ ngữ nào?

câu 3: từ ngữ nào trong bài thơ bộc lộ tâm tư tình cảm của tác giả 

câu 4: chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ:
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh

câu 5: anh/chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ :

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió
Người không thấy về
câu 6: xác định đề tài và chủ đề của bài thơ?

câu 7: nêu cảm xúc chủ đạo của người viết thể hiện qua bài thơ?

câu 8: bài thơ gợi cho em xuy nghĩ gì về tình mẫu tử trong cuộc sông? (trình bày khoảng 5-7 dòng)

--> mọi người trả lơid hộ mình với ạ 

1
14 tháng 4

Câu 1.
Phương thức biểu đạt: biểu cảm (kết hợp miêu tả), giải thích: bài thơ chủ yếu bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình

Câu 2.
Chủ thể trữ tình xuất hiện trực tiếp qua từ “con”, “xin”, giải thích: thể hiện người con đang bộc lộ cảm xúc với mẹ

Câu 3.
Các từ ngữ bộc lộ tâm tư tình cảm: “xin”, “thương”, “buồn”, “lệ”, giải thích: đây là những từ thể hiện rõ cảm xúc nhớ thương, xót xa

Câu 4.
Biện pháp tu từ: điệp từ “một lần”, “về”
Tác dụng: nhấn mạnh khát khao, lời cầu xin tha thiết của người con mong mẹ trở về quê lần cuối, thể hiện tình cảm sâu nặng và nỗi đau xót

Câu 5.
Ý nghĩa: hai câu thơ gợi cảnh bờ sông quen thuộc vẫn còn đó, thiên nhiên không đổi nhưng con người thì đã xa vắng, qua đó thể hiện nỗi nhớ thương, sự trống vắng và mong ngóng người thân trở về

Câu 6.
Đề tài: tình cảm gia đình, cụ thể là tình mẹ con
Chủ đề: thể hiện nỗi nhớ thương, xót xa của người con đối với mẹ, đồng thời ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng

Câu 7.
Cảm xúc chủ đạo: buồn thương, tha thiết, xúc động, xen lẫn nỗi tiếc nuối và đau xót trước sự chia xa

Câu 8.
Bài thơ gợi cho em suy nghĩ rằng tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và sâu nặng nhất trong cuộc sống. Mẹ luôn hi sinh thầm lặng vì con, còn con cái cần biết yêu thương, trân trọng mẹ khi còn có thể. Đừng để đến khi mất đi mới hối tiếc. Mỗi người nên quan tâm, chăm sóc và dành thời gian cho mẹ nhiều hơn, bởi mẹ là người không thể thay thế trong cuộc đời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Lớp IX LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao? VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết. LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn? VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Lớp IX

LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.

LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?

LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.

VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...

LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.

VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.

LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.

LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.

VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...

LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.

VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).

VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...

LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?

VŨ NHƯ TÔ - Được!

LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.

VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...

LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.

LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.

LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...

VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?

LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.

VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.

LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?

VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?

LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.

VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?

LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.

VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.

0