K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Lớp IX LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao? VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết. LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn? VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Lớp IX

LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.

LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?

LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.

VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...

LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.

VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.

LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.

LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.

VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...

LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.

VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).

VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...

LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?

VŨ NHƯ TÔ - Được!

LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.

VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...

LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.

LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.

LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...

VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?

LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.

VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.

LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?

VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?

LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.

VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?

LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.

VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.

0
...
Đọc tiếp
Phân tích cấu tạo ngữ pháp cho những câu sau  xác định kiểu câu của chúng: a) Chồng  ốm nặng làm cho gia đình  càngnghèo hơn. b) Thế  bằng lời kể đã cho tôi những chi tiếtbằng ghi chép đã cho tôi những cảm xúc chânthật. c) Hai nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng loạingười không bao giờ  thể chiến thắng đượcbệnh tật. d) Buổi sớm kia, khi trở dậy trong căn phòng nhà trọtôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe . e) Chúng ta phải cố gắng dân tộc hóa lời nói  câuvăn của chúng ta. a) Chính phủ tặng  mẹ ấy danh hiệu  mẹ Việt Nam anh hùng. b) Trong nhiều năm qua, người ta đã chứng kiến sựphát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền. c) Họ đang đấu tranh để đạt được sự bình đằng hoàntoàn giữa nam  nữ. d) Cuộc sống của họ cũng sang một hướng khác.  e)  gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện. f) Trong năm học tớicác em hãy cố gắngsiêng nănghọc tậpngoan ngoãnnghe thầyyêu bạn. g) Hàng năm, khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia cung cấp cho  hội vài chục cử nhân báo chí.
1
14 tháng 4

Câu 1. a) Chủ ngữ chồng bà, vị ngữ ốm nặng làm cho gia đình bà càng nghèo hơn, kiểu câu đơn, vì chỉ có một cụm chủ vị chính
b) Chủ ngữ cô, vị ngữ đã cho tôi những chi tiết bằng ghi chép, đã cho tôi những cảm xúc chân thật, kiểu câu ghép, vì có hai cụm chủ vị song song
c) Chủ ngữ hai nhà nghiên cứu, vị ngữ cũng thừa nhận rằng loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, trong đó có mệnh đề phụ loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, kiểu câu phức
d) Chủ ngữ tôi, vị ngữ thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe lá, phần khi trở dậy trong căn phòng nhà trọ là trạng ngữ, kiểu câu đơn mở rộng
e) Chủ ngữ chúng ta, vị ngữ phải cố gắng dân tộc hóa lời nói và câu văn của chúng ta, kiểu câu đơn

Câu 2. a) Chủ ngữ chính phủ, vị ngữ tặng bà mẹ ấy danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, kiểu câu đơn
b) Chủ ngữ người ta, vị ngữ đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền, trạng ngữ trong nhiều năm qua, kiểu câu đơn
c) Chủ ngữ họ, vị ngữ đang đấu tranh để đạt được sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ, kiểu câu đơn
d) Chủ ngữ cuộc sống của họ, vị ngữ cũng sang một hướng khác, kiểu câu đơn
e) Chủ ngữ nó, vị ngữ gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện, kiểu câu đơn
f) Chủ ngữ các em, vị ngữ hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn, trạng ngữ trong năm học tới, kiểu câu đơn
g) Chủ ngữ khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia, vị ngữ cung cấp cho xã hội vài chục cử nhân báo chí, trạng ngữ hàng năm, kiểu câu đơn

Câu1:...
Đọc tiếp
Câu1: phân tích cấu tạo ngữ pháp cho những câu sau  xácđịnh kiểu câu của chúng: a) Chồng  ốm nặng làm cho gia đình  càngnghèo hơn. b) Thế  bằng lời kể đã cho tôi những chi tiếtbằng ghi chép đã cho tôi những cảm xúc chânthật. c) Hai nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng loạingười không bao giờ  thể chiến thắng đượcbệnh tật. d) Buổi sớm kia, khi trở dậy trong căn phòng nhà trọtôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe . e) Chúng ta phải cố gắng dân tộc hóa lời nói  câuvăn của chúng ta. a) Chính phủ tặng  mẹ ấy danh hiệu  mẹ Việt Nam anh hùng. b) Trong nhiều năm qua, người ta đã chứng kiến sựphát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền. c) Họ đang đấu tranh để đạt được sự bình đằng hoàntoàn giữa nam  nữ. d) Cuộc sống của họ cũng sang một hướng khác.  e)  gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện. f) Trong năm học tớicác em hãy cố gắngsiêng nănghọc tậpngoan ngoãnnghe thầyyêu bạn. g) Hàng năm, khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia cung cấp cho  hội vài chục cử nhân báo chí.
1
14 tháng 4

Câu 1. a) Chủ ngữ chồng bà, vị ngữ ốm nặng làm cho gia đình bà càng nghèo hơn, kiểu câu đơn, vì chỉ có một cụm chủ vị chính
b) Chủ ngữ cô, vị ngữ đã cho tôi những chi tiết bằng ghi chép, đã cho tôi những cảm xúc chân thật, kiểu câu ghép, vì có hai cụm chủ vị song song
c) Chủ ngữ hai nhà nghiên cứu, vị ngữ cũng thừa nhận rằng loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, trong đó có mệnh đề phụ loại người không bao giờ có thể chiến thắng được bệnh tật, kiểu câu phức
d) Chủ ngữ tôi, vị ngữ thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe lá, phần khi trở dậy trong căn phòng nhà trọ là trạng ngữ, kiểu câu đơn mở rộng
e) Chủ ngữ chúng ta, vị ngữ phải cố gắng dân tộc hóa lời nói và câu văn của chúng ta, kiểu câu đơn

Câu 2. a) Chủ ngữ chính phủ, vị ngữ tặng bà mẹ ấy danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng, kiểu câu đơn
b) Chủ ngữ người ta, vị ngữ đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền, trạng ngữ trong nhiều năm qua, kiểu câu đơn
c) Chủ ngữ họ, vị ngữ đang đấu tranh để đạt được sự bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ, kiểu câu đơn
d) Chủ ngữ cuộc sống của họ, vị ngữ cũng sang một hướng khác, kiểu câu đơn
e) Chủ ngữ nó, vị ngữ gửi cho tôi một món quà qua đường bưu điện, kiểu câu đơn
f) Chủ ngữ các em, vị ngữ hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn, trạng ngữ trong năm học tới, kiểu câu đơn
g) Chủ ngữ khoa báo chí ở Trường Đại học Quốc gia, vị ngữ cung cấp cho xã hội vài chục cử nhân báo chí, trạng ngữ hàng năm, kiểu câu đơn

17 tháng 12 2025

Câu 1:

Trong truyện ngắn "Người bán mai vàng" của Nguyễn Quang Hà, nhân vật Mai hiện lên là biểu tượng của một thế hệ trẻ năng động, vừa giàu lòng nhân ái, vừa có khát vọng đổi mới cuộc đời. Trước hết, Mai là người con hiếu thảo và có trái tim bao dung. Thừa hưởng tâm hồn tinh tế từ người cha mù, anh không chỉ yêu hoa mai bằng sự si mê mãnh liệt mà còn mở rộng lòng mình để cưu mang Lan – một cô bé mồ côi – trong lúc khốn cùng nhất. Hành động đưa Lan về nuôi dưỡng và xây dựng tổ ấm hạnh phúc cùng cô cho thấy một nhân cách cao đẹp, luôn trân trọng giá trị của chữ "Tâm" mà cha mình đã truyền dạy. Tuy nhiên, điểm bứt phá ở Mai chính là ý chí và trách nhiệm với gia đình. Đứng trước sự khắc nghiệt của thiên tai và cái nghèo bủa vây, Mai không chọn cách sống cam chịu hay "ẩn dật" như trước. Anh trăn trở về việc "những người trồng hoa ở Huế sống bằng cách nào?" và quyết tâm đi học hỏi kinh nghiệm thực tế. Mai đại diện cho tư duy thực tế: anh nhận ra tình yêu nghệ thuật phải đi đôi với khả năng kinh tế để duy trì sự sống. Dù việc cưa bỏ một nửa vườn mai để lấy vốn là một quyết định đau đớn, nhưng nhờ sự năng nổ và nhạy bén của vợ chồng Mai, anh đã giúp gia đình bắt nhịp với cuộc sống mới. Qua nhân vật Mai, tác giả khẳng định rằng sự năng động và ý chí vươn lên, khi được đặt trên nền tảng của tình thân và lòng nhân hậu, sẽ tạo nên sức sống bền bỉ cho con người.

Câu 2:

Trong thời đại kỹ thuật số hiện nay, bên cạnh những giá trị tích cực, mạng xã hội cũng kéo theo những hệ lụy về mặt lối sống. Một trong những hiện tượng đáng lo ngại là lối sống khoe khoang, phô trương "ảo" những thứ không thuộc về mình của một bộ phận giới trẻ.

Thực chất, đây là lối sống mượn những giá trị vật chất hào nhoáng bên ngoài như đồ hiệu, xe sang, hay những chuyến du lịch xa xỉ của người khác để "đắp" lên bản thân mình trên không gian mạng. Thay vì nỗ lực để tự sở hữu, họ chọn cách "phù phép" bằng công cụ chỉnh sửa hình ảnh hoặc mượn danh nghĩa để tạo ra một vỏ bọc hoàn hảo, giàu sang.

Nguyên nhân của hiện trạng này bắt nguồn từ tâm lý hám danh lợi và sự thiếu tự tin vào giá trị thực của bản thân. Nhiều người trẻ chịu áp lực từ "hào quang" của người khác trên mạng xã hội, dẫn đến nỗi sợ bị tụt hậu. Họ lầm tưởng rằng sự ngưỡng mộ thông qua những cái "like", những lượt "comment" khen ngợi về sự giàu có sẽ nâng tầm giá trị con người mình , nhưng điều đó là hoàn toàn sai lệch .

Hậu quả của lối sống này rất khôn lường. Trước hết, nó biến con người trở thành nô lệ của sự giả dối. Khi sống trong một cái bóng quá lớn không phải là mình, người trẻ dễ rơi vào trạng thái bất an, luôn phải lo sợ bị bóc trần. Điều này không chỉ gây lãng phí thời gian vào những giá trị vô nghĩa mà còn làm xói mòn lòng tự trọng. Nguy hiểm hơn, nó tạo ra một thế hệ chỉ thích "sống mòn", lười lao động nhưng lại muốn hưởng thụ, gây ra cái nhìn lệch lạc về giá trị của sự thành công.

Như nhân vật Mai trong câu chuyện Người bán mai vàng, anh đã chọn cách đối mặt với cái nghèo bằng lao động thực tế và sự học hỏi chân chính. Đó mới là giá trị bền vững.

Để loại bỏ thói phô trương "ảo", mỗi bạn trẻ cần hiểu rằng: "Chiếc áo không làm nên thầy tu". Giá trị của một con người nằm ở tri thức, tâm hồn và những gì chúng ta thực sự làm ra bằng đôi tay và khối óc của mình.

Tóm lại, sự hào nhoáng mượn tạm chỉ là phù du. Thay vì mải mê xây dựng một lâu đài trên cát, giới trẻ hãy tập trung tu dưỡng và sống thật với chính mình. Bởi lẽ, niềm hạnh phúc đích thực chỉ đến khi ta được là chính ta, với tất cả những gì thực chất nhất.

20 tháng 12 2025

câu 1

Nhân vật Mai trong văn bản “Người bán mai vàng” là một người giàu cảm xúc, có tấm lòng nhân hậu và biết đồng cảm với người khác. Qua việc chứng kiến hoàn cảnh của ông già bán mai, Mai không chỉ quan sát mà còn suy nghĩ sâu sắc về số phận con người và giá trị của tình cảm gia đình. Mai cảm nhận được nỗi đau, sự hi sinh thầm lặng của ông lão khi phải bán đi chậu mai gắn bó với gia đình mình để lo chongười thân. Điều đó cho thấy Mai là người sống tình cảm, có trái tim nhạy cảm trước những cảnh đời khó khăn. Sự xúc động và trăn trở trong suy nghĩ của Mai thể hiện một tâm hồn giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tình thân và những giá trị giản dị của cuộc sống. Qua nhân vật Mai, tác giả gửi gắm thông điệp về lòng yêu thương, sự sẻ chia giữa con người với con người, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng hạnh phúc gia đình mình đang có.

câu 2

Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những lối sống tích cực, vẫn còn tồn tại một bộ phận giới trẻ có lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thuộc về mình. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, cần được nhìn nhận và phê phán nghiêm túc.

Trước hết, lối sống khoe khoang, phô trương “ảo” thể hiện qua việc nhiều bạn trẻ thường xuyên đăng tải hình ảnh sang chảnh, hàng hiệu, xe xịn hay cuộc sống xa hoa trên mạng xã hội dù thực tế không phải như vậy. Họ mượn đồ, chỉnh sửa hình ảnh hoặc nói quá sự thật để tạo vỏ bọc hào nhoáng cho bản thân.Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ tâm lý muốn được chú ý, muốn được công nhận, chạy theo hình thức và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mạng xã hội. Ngoài ra, sự thiếu bản lĩnh, thiếu hiểu biết và định hướng đúng đắn cũng khiến nhiều bạn trẻ dễ sa vào lối sống ảo.

Hậu quả của lối sống này là rất nghiêm trọng. Nó khiến con người sống giả tạo, đánh mất giá trị thật của bản thân, dễ so sánh, ganh đua và nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực.Không chỉ vậy, việc chạy theo hào nhoáng bên ngoài còn làm giới trẻ sao nhãng học tập, lao động và các giá trị đạo đức tốt đẹp.

Để khắc phục, mỗi bạn trẻ cần nhận thức rõ giá trị thật của bản thân, sống trung thực, giản dị và biết nỗ lực vươn lên bằng chính khả năng của mình. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục, định hướng lối sống đúng đắn, giúp giới trẻ hiểu rằng giá trị con người không nằm ở sự phô trương mà ở nhân cách và cống hiến.

Tóm lại, lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” của một bộ phận giới trẻ là hiện tượng tiêu cực cần được phê phán và điều chỉnh. Mỗi người trẻ cần biết sống trung thực, khiêm tốn, nỗ lực khẳng định bản thân bằng giá trị thật. Chỉ khi sống đúng với chính mình, con người mới có được sự tôn trọng và hạnh phúc lâu dài.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)   Đọc văn bản sau:   Người bán mai vàng        Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá:...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4 ĐIỂM)

 

Đọc văn bản sau:

 

Người bán mai vàng

 

     Ngay cả ở đất Cố Đô, không mấy ai biết ở chân núi Ngũ Tây có một vườn mai vàng. Chủ vườn mai ấy là hai cha con ông già mù. Vườn mai có từ bao giờ không nhớ. Gốc cây sù sì, nổi u, nổi cục, rêu xanh bám từng đám, loang lổ, cổ kính. Khi nghe gió đông về, ông già mù rờ rờ từng cành cây bứt hết lá: “cho cây tụ nhựa”. Những ngày giá lạnh nhất, mặc chiếc áo dạ sờn, mái tóc bạc ghé tai vào gốc mai, ông nghe rõ cả dòng nhựa đang chảy âm thầm trong gốc mai cổ. Đôi bàn tay nhăn nheo, khô khẳng lần sờ từng mắt mầm, xem mầm đã nứt nanh đến đâu.

 

     Những chùm nụ xanh lớn dần nôn nao hay chính lòng ông nôn nao. Tay ông mân mê, vuốt ve từng núm nụ không biết chán, cái láng lẩy của da nụ làm những ngón tay mê mẩn. Như không biết gió lạnh, suốt ngày ông quanh quẩn với từng gốc mai. Núm nụ đầu tiên, mới nhú màu cánh vàng hé nở, ông biết liền. Ngón tay ông đặt đúng vào cái nụ ấy. Ông nhận ra bằng hương thơm của hoa mai dẫn đường hay bằng linh cảm ông cũng không biết, chỉ biết rằng, ông đã đến đúng nụ hoa cần đến. Rồi mừng rỡ gọi con:

 

     – Ra mà xem, Mai ơi, hoa sắp nở rồi!

 

     Người con trai dù đang ăn, đang uống cũng bỏ, chạy nhào ra với cha. Lập tức anh cũng bị cái màu vàng óng ả vừa nứt hé ra kia hút hồn. Cả hai cha con không biết ai mê mải hơn ai. Cái tên Mai ông đặt cho con bắt đầu từ nỗi si mê ấy. […]

 

     Mùa xuân năm ấy hai cha con chặt mai đem bán bên vỉa hè trước cổng Thương Bạc. Hai cha con ngủ lại giữ mai. Đêm hai mươi tám tết cuối năm đó, Mai gặp cô bé dắt mẹ đi ăn xin, bà mẹ bị cảm lạnh chết. Cô khóc đứt hơi. Ôm xác mẹ lăn lộn dưới mái ni-lông che bên cột đèn vườn hoa. Tiếng cô khóc kéo Mai lại. Nhóm từ thiện đường phố chôn cất cho bà mẹ. Cám cảnh, Mai nói với cô bé:

 

     – Lan ơi – tên cô bé – đời ăn mày khổ lắm. Anh biết. Nhà anh rất nghèo, em có muốn về nhà ở với cha con anh không?

 

     Trong lúc khốn cùng, có một bàn tay dắt, còn gì hơn. Lan đứng bán mai cùng cha con Mai, đến gần giao thừa mới về nhà. Tết ấy, nhà Mai vui hơn. Mai gắng sức nuôi thêm một người. Chỉ một năm sau, Lan đã có thể góp sức cùng anh nuôi nổi mình. Ba năm sau Lan trở thành một thiếu nữ xinh tươi. Hoàn toàn khác cô gái Mai nhặt được ở Thương Bạc. Hai người yêu nhau từ lúc nào. Già Mai bằng lòng cho hai người thành vợ thành chồng. Vườn mai vàng bên núi Ngũ Tây chứng giám cho đám cưới của họ. […]

 

     Tình thương yêu trong gia đình vượt lên được cái nghèo. Già Mai chiêm nghiệm cả tối, nói được một câu với con dâu: “Đời không gì bằng chữ Tâm, Lan ạ. Con nhớ điều ấy cho ba.”. Lan sinh con trai. Ông nội lấy chữ Tâm đặt tên cho cháu. Cu Tâm ra đời vào những năm gian lao. Năm đầu trời đại hạn. Nước mặn trên sông Hương tràn lên tận bến Tuần. Lúa cháy. Từ thành phố xuôi về Thuận An, toàn thấy xe đi bán nước ngọt. Con suối chảy quanh năm trước vườn mai cạn khô. Xuôi xa một cây số dòng suối mới bắt đầu có nước lại. Mai và Lan cùi cụi suốt ngày gánh nước tưới mới cứu được vườn mai. Tết ấy mai mất mùa. Năm sau trời lạnh buốt. Ba cha con già Mai cắt cỏ ủ gốc, qua Tết mai mới chúm nụ. Lại thêm một năm trời giật mất miếng cơm. Mai thương cha, thương vợ. Trong nỗi quẫn trí, anh bật nảy một điều trong óc: “Những người trồng hoa ở Huế, họ sống bằng cách nào?”.

 

     Ý nghĩ ấy kéo anh đi. Già Mai ở nhà trông cháu. Lan vào rừng kiếm củi, hái lá nón. Mai lần mò đến các gia đình trồng hoa. Lâu nay anh sống cam chịu, sống bó mình. Tự ti cũng có, buông thả cũng có. Anh bằng lòng sống đạm bạc ở một gia đình con con. Nhiều lúc không hơn người đi ở ẩn. Những vườn hoa của đồng nghiệp làm anh bừng tỉnh. Song tỏ tường rồi thì anh buồn.

 

     Anh mang theo nỗi niềm ấy về nhà. Lan lựa lời, lúc có cha chồng, Lan mới dám hỏi:

 

     – Răng anh buồn rứa?

 

     Hết bữa cơm chiều, Mai mới nói được với cha và vợ:

 

     – Mai vàng quý. Song chẳng ai sống được bằng vườn mai. Họ trồng cúc, trồng hồng, trồng tùng, trồng bách và cả trồng mai trong chậu nữa mới sống nổi bằng nghề hoa. Những người có vườn rộng họ trồng huệ, trồng lay ơn. Nghĩa là họ phải trồng tất cả những gì trồng được. Cách trồng, chúng ta đi học. Nhưng cái chúng ta thiếu là không có vốn. Không có vốn thì không thể nói mạnh được điều gì.

 

     Không khí gia đình chùng hẳn xuống. Nỗi bất lực đè nặng lên họ. […] Ông già Mai lặng thinh. Vừa cõng cháu trên lưng, vừa lang thang trong vườn mai. Ông đếm từng cây mai một. Bàn tay xương xẩu rờ rẫm, vuốt ve chúng, như bàn tay già rờ rẫm đứa con xa lâu ngày gặp lại. Gió lạnh và mưa bay. Ông già đã nhận ra mùi hoa mai nở. Ông ngồi tựa cột ngửa mặt lên nhìn trời hít ngửi mùi hoa ngây ngất. Ông như nghe rõ từng tiếng lách tách của mỗi cánh hoa xòe nở. Ông tự nói với mình: “Đời mình sắp qua rồi. Đã đến đời con cháu. Vườn mai này sẽ là của chúng.”. […]

 

     Ông nói:

 

     – Cha bằng lòng cho con cưa nửa vườn mai, cưa cả cây, những cơ quan giàu có họ chẳng thích mua kiểu mai cây của mình đó sao. Ba bằng lòng cho các con, để các con có vốn ban đầu.

 

     – Thật chứ ba? – Mai reo lên.

 

     – Miễn sao vợ chồng con có hạnh phúc. Ngần ấy cũng đủ làm niềm vui tuổi già của ba rồi.

 

     Đúng ngày cưa mai, ông già Mai dắt cháu lang thang khắp đồi núi Ngũ Tây. Ông kể cho cháu nghe, xưa kia, không phải đồi trọc như bây giờ, mà là những cánh rừng, mùa xuân về nở đầy hoa mai. Thằng bé nghe chẳng hiểu gì. Nó dắt ông hết mỏm đồi này sang mỏm đồi khác, còn ông già cứ kể. Đi thật xa và kể để ông khỏi nghe tiếng cưa đang cắt những cây mai có từng mảnh đời ông hóa thân trong đó. Sau đó là những đêm không ngủ. Ông lần ra vườn mai. Đặt bàn tay mình nơi nhát cây bị cắt. Nghe nhựa mai dính dính nơi bàn tay. Ông chết lặng đi và âm thầm khóc một mình. Ông những tưởng mình sẽ gục ngã cùng những cây mai bị cắt kia, song sức ông đã hồi sinh nhờ sự năng nổ của vợ chồng Mai, bắt được cái nhịp của cuộc sống mới bằng chính những cánh mai vàng.

 

(Nguyễn Quang Hà, Tạp chí Sông Hương, số ra tháng 2 năm 1995)

 

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

 

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản trên.

 

Câu 2. Tóm tắt văn bản trong khoảng 5 đến 7 câu.

 

Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai.

 

Câu 4. Em thích nhất chi tiết nào trong văn bản? Vì sao?

 

Câu 5. Yếu tố “tình cảm gia đình” có ảnh hưởng như thế nào đến nhân vật Mai?

 

26
14 tháng 12 2025

câu 1 ngôi kể thứ ba

17 tháng 12 2025

Câu 1. Ngôi kể của văn bản Văn bản được kể theo ngôi kể thứ ba. Tác dụng: Giúp người kể chuyện quan sát một cách khách quan, bao quát toàn bộ diễn biến câu chuyện và đi sâu vào diễn biến tâm lý của nhiều nhân vật khác nhau (ông già Mai, Mai, Lan).

Câu 2. Tóm tắt văn bản (khoảng 5 - 7 câu) Dưới chân núi Ngũ Tây có một gia đình hai cha con ông già mù sống bằng nghề chăm sóc vườn mai vàng cổ kính. Một mùa Tết nọ, anh Mai (con trai ông cụ) đã cưu mang và đưa cô bé mồ côi tên Lan về nuôi dưỡng, sau này hai người nên duyên vợ chồng. Cuộc sống trở nên khó khăn khi thời tiết khắc nghiệt khiến mai mất mùa, anh Mai nhận ra gia đình cần thay đổi cách làm kinh tế để thoát nghèo nhưng thiếu vốn. Thấu hiểu tâm tư của con, ông già mù đã nén nỗi đau thầm kín, đồng ý cho con cưa bỏ một nửa vườn mai quý để bán lấy vốn làm ăn. Dù vô cùng xót xa khi mất đi những "kỷ vật" gắn bó cả đời, ông già vẫn cảm thấy an lòng khi nhìn thấy sự năng nổ và tương lai tươi sáng của con cháu. Sự hy sinh của ông đã giúp gia đình tìm thấy nhịp sống mới trên mảnh đất quê hương.

Câu 3. Nhận xét về nhân vật ông già Mai Nhân vật ông già Mai hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: Người nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế: Tuy mù lòa nhưng ông có khả năng giao cảm đặc biệt với thiên nhiên. Ông nghe được tiếng nhựa chảy, cảm nhận được từng nụ hoa hé nở bằng linh cảm và tình yêu mãnh liệt dành cho cây mai. Người cha giàu lòng nhân hậu: Ông không chỉ đồng ý cho con trai cưu mang người lạ (Lan) mà còn luôn lấy chữ "Tâm" để giáo dục con cái. Sự hy sinh cao cả: Chi tiết ông đồng ý cưa nửa vườn mai – vốn là máu thịt, là linh hồn của ông – để cho con vốn làm ăn là minh chứng rõ nhất cho tình yêu thương vô bờ bến. Đó là sự hy sinh "cái tôi" và niềm đam mê cá nhân vì tương lai và hạnh phúc của con cháu

Câu 4. Chi tiết ấn tượng nhất Chi tiết: Hình ảnh ông già Mai dắt cháu đi lang thang trên đồi núi Ngũ Tây để tránh nghe tiếng cưa cắt vào những gốc mai. Vì sao: Đây là chi tiết đắt giá và gây xúc động nhất. Nó cho thấy sự giằng xé nội tâm đau đớn của ông già. Tiếng cưa ấy không chỉ cắt vào cây mà như đang cắt vào da thịt, vào những kỷ niệm đời ông. Hành động đi thật xa để "khỏi nghe" vừa cho thấy sự yếu lòng của một tâm hồn nhạy cảm, vừa cho thấy bản lĩnh của một người cha sẵn sàng chấp nhận đau thương để đánh đổi lấy sự ấm no cho gia đình.


Câu 5. Ảnh hưởng của yếu tố “tình cảm gia đình” đến nhân vật Mai Tình cảm gia đình là động lực then chốt chi phối mọi suy nghĩ và hành động của nhân vật Mai: Biết sẻ chia và yêu thương: Nhờ sự giáo dục của cha, Mai có tấm lòng nhân hậu, biết thương xót và cưu mang Lan trong lúc khốn cùng nhất. Ý chí vươn lên thoát nghèo: Chính tình thương dành cho cha già, vợ yếu và con nhỏ ("Mai thương cha, thương vợ") đã thôi thúc anh thoát khỏi sự tự ti, buông thả để đi tìm hướng đi mới cho vườn hoa. Sự kết nối thế hệ: Tình cảm gia đình giúp Mai hiểu được giá trị của chữ "Tâm", giúp anh có thêm sức mạnh để bắt nhịp với cuộc sống mới, biến sự hy sinh của cha thành thành quả lao động thực tế.

14 tháng 4

Câu 1. Hành trình theo đuổi ước mơ trong cuộc sống là một chặng đường dài đầy thử thách nhưng cũng vô cùng ý nghĩa, mỗi người khi có ước mơ sẽ có mục tiêu để phấn đấu và vươn lên, tuy nhiên con đường đó không hề dễ dàng mà luôn tồn tại khó khăn, thất bại và cả những lúc muốn từ bỏ, điều quan trọng là con người phải có ý chí, sự kiên trì và lòng tin vào bản thân để tiếp tục bước đi, bên cạnh đó cần không ngừng học hỏi, rèn luyện và biết điều chỉnh bản thân để tiến gần hơn đến ước mơ, hành trình ấy không chỉ giúp ta đạt được mục tiêu mà còn giúp ta trưởng thành hơn, hiểu rõ giá trị của nỗ lực và sự cố gắng, vì vậy mỗi người hãy dũng cảm theo đuổi ước mơ của mình và không ngừng cố gắng để biến ước mơ thành hiện thực Câu 2. Bài thơ “sáng nay trong vườn nhỏ” của Lam là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, qua hình ảnh ngọn cỏ bị sâu ăn, tác giả đã gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về nghị lực sống của con người, trước hết về nội dung, bài thơ xây dựng hình ảnh một ngọn cỏ nhỏ bé, yếu ớt nhưng lại mang trong mình sức sống mạnh mẽ, dù bị tổn thương “bị sâu ăn tan tành” nhưng ngọn cỏ vẫn “cố xanh rì”, điều đó thể hiện tinh thần kiên cường, không khuất phục trước nghịch cảnh, lời nói của người bố “bố lại thấy kiên cường” đã mở ra cách nhìn mới, giúp ta nhận ra rằng trong những điều tưởng như đáng thương lại ẩn chứa sức mạnh đáng quý, từ đó bài thơ gửi gắm thông điệp rằng con người cần có ý chí, phải biết đứng dậy sau những mất mát và không nên buông xuôi trước khó khăn, về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi, hình ảnh ngọn cỏ mang tính biểu tượng cho con người trong cuộc sống, phép tương phản giữa “đáng thương” và “kiên cường” làm nổi bật ý nghĩa của bài thơ, giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, giàu tính triết lí, tất cả đã góp phần tạo nên một bài thơ ngắn nhưng giàu giá trị nhân văn, qua đó giúp người đọc nhận ra ý nghĩa của nghị lực và niềm tin trong cuộc sống

3 tháng 12 2024

                 Gia đình:

    Yêu sao hai tiếng gia đình,

Nơi thân thương ấy tim mình mang theo.

    Dòng đời vạn nẻo cheo leo,

Còn cha còn mẹ ngàn đèo cũng qua. 

Tác giả: Thương Hoài Olm (0385 168 017)

 

 

 

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Còn thời cưỡi ngựa bắn cung Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.INDIRA GANDHI      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa:...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung

Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

INDIRA GANDHI

      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa: “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”. Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn là nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may.”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu: “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.". 

      Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

      Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng: “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta lạc đường không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

      Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, hãy trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

      Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu nằm bên khu chợ nhỏ xíu ở một thị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn buộc phải làm.

      Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha anh ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần với xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch, tốt cho sức khỏe và chất lượng hảo hạng.

      Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

      Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

      Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

      Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

      Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, nó giống như một tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người cho rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mại không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

      Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung,

Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun… bắn ruồi.”

       Âu cũng là lẽ thường tình vậy.

      Oprah Winfrey có nói: “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Chỉ có người ngốc nghếch mới tin rằng mình có thể giương cung được mãi.

      Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ông chỉ tập trung vào cái mình đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì thì tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

      Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) đều làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi là một thợ gốm học việc, ông vẫn tận tâm như vậy.

      Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra minh chứng trong văn bản thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho những ước mơ, nghề nghiệp trong cuộc sống. 

Câu 3. Chi tiết về Hosokawa Morihiro có ý nghĩa như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những thông điệp nào từ văn bản? 

1
14 tháng 4

Câu 1.
Kiểu loại văn bản: nghị luận xã hội, giải thích: văn bản bàn về quan niệm sống, ước mơ, nghề nghiệp và đưa ra lập luận, dẫn chứng để thuyết phục

Câu 2.
Minh chứng: “Làm thợ may chán chết”, “mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu”, giải thích: thể hiện sự coi thường, đánh giá thấp nghề thợ may, cho rằng không danh giá

Câu 3.
Ý nghĩa chi tiết Hosokawa Morihiro: làm nổi bật quan điểm sống đúng đắn, dù từng là người có địa vị cao vẫn có thể lựa chọn cuộc sống giản dị và làm công việc mình yêu thích, qua đó khẳng định giá trị của sự chuyên tâm và đam mê quan trọng hơn danh tiếng

Câu 4.
Nhận xét: cách dẫn dắt tự nhiên, bắt đầu từ câu chuyện gần gũi, sau đó mở rộng thành vấn đề xã hội, lập luận chặt chẽ, kết hợp lí lẽ với dẫn chứng thực tế, giọng văn nhẹ nhàng nhưng thuyết phục

Câu 5.
Thông điệp rút ra: không có ước mơ hay nghề nghiệp nào là tầm thường, cần tôn trọng mọi công việc, hãy sống và làm việc theo đam mê, chuyên tâm với lựa chọn của mình, không chạy theo danh tiếng mà quên đi giá trị thật của bản thân, giải thích: văn bản nhấn mạnh ý nghĩa của việc hiểu mình và làm tốt điều mình yêu thích

Câu 1. (2 điểm)      Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Câu 2. (4 điểm)      Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:        Đàn kêu nghe tiếng nên xinh, Đàn kêu tang tịch tình tinh tang...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:

       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,

Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.

      Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,

Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?

      Đàn kêu: Ai chém xà vương,

Đem nàng công chúa triều đường về đây?

      Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày

Có sao phụ nghĩa lại rày vong ân?

      Đàn kêu: Sao ở bất nhân,

Biết ăn quả lại quên ân người giồng?

      Đàn kêu năn nỉ trong lòng,

Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.

       […] Đàn kêu thấu đến cung phi,

Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.

(Trích theo Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr.1989 - 1993)

Chú thích: 

(1) Thạch Sanh: Truyện thơ Nôm, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, dựa trên truyện cổ tích thần kì Thạch Sanh.

0
14 tháng 4

Lan: Bữa nay đi học sớm dữ vậy, có chuyện gì hông?
Mai: Ờ, hôm qua làm bài kiểm tra hơi “đi vào lòng đất” nên nay phải cố gắng lại thôi
Lan: Vậy là hiểu rồi ha, thôi ráng học chăm lại nha
Mai: Ừ, để không bị cô “nhắc tên” nữa thì mệt lắm đó

Giải thích: câu “hôm qua làm bài kiểm tra hơi đi vào lòng đất” là nghĩa hàm ẩn, ý nói làm bài không tốt, từ “hông”, “bữa nay” là từ địa phương miền Nam