K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tại Hoàng thành Thăng Long        Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tại
Hoàng thành Thăng Long

       Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ, xưa chưa từng có” (Việt sử lược) hay “Nhà/ cung điện đều sơn son, cột vẽ hình long, hạc, tiên nữ” ("Quế hải ngu hành chí"(1), Phạm Thành Đạt). Song, để hình dung được vẻ đẹp đó là diều không đơn giản.

       Thăng Long có vị trí đắc địa, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là đất thiêng hội tụ những tinh hoa của đất nước và khu vực. Tại đây, từ năm 1010, các triều đại Lý, Trần, Lê nối tiếp nhau quy hoạch, xây dựng cung điện, lầu gác làm nơi thiết triều, nơi làm việc và sinh hoạt của Hoàng đế, Hoàng gia và Triều đình. Tuy nhiên, những hiểu biết về kiến trúc hoàng cung thời Lý - Trần và thậm chí thời Lê còn hết sức hạn chế, do hiện nay ở Việt Nam không còn lưu giữ được một công trình cung điện nào cùng thời. Điều đó cũng đồng nghĩa, kiến trúc cung điện hoàng cung Thăng Long vẫn còn là bí ẩn của lịch sử kiến trúc Việt Nam.

       Dưới lòng đất khu di sản Hoàng thành Thăng Long, kết quả khai quật khảo cổ học từ năm 2002 - 2017, đã xác định được một quần thể nền móng kiến trúc Đại La. Nét truyền thống dễ nhận thấy trong kiến trúc cổ truyền người Việt là cột hiên nằm rất gần với cấp nền(2) nên phần mái hiên của kiến trúc nhô ra không nhiều. Trong đó, nền móng kiến trúc giai đoạn Thăng Long được làm rất kiên cố và bền vững, bộ vì(3) đặt trực tiếp trên chân tảng đá chạm hoa sen để đỡ mái.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 1: Tượng đầu rồng trang trí nóc mái, thời Lý

 Hình 2: Tượng đầu sư tử trang trí bờ dải, thời Lý

Hình 3: Lan can đá chạm rồng, thời Lý

Hình 4: Chân tảng đá hoa sen đặt trên móng cột, thời Lý

Hình 5: Gạch vuông lát nền, thời Lý

Hình 6: Tượng đầu chim phượng trang trí trên mái, thời Lý

       Theo GS Ueno (Nhật Bản) “kiến trúc cung điện thời Lý có thể đã sử dụng đấu củng(4) nhưng hiện tượng phần hiên không nhô ra nhiều cho thấy đấu củng thời Lý thuộc loại đơn giản”. Tuy nhiên, cũng không loại trừ thời Lý - Trần đã sử dụng kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng giống như ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Dâu (Bắc Ninh) và Bối Khê (Hà Nội). Đây là những kiến trúc còn bảo lưu được ít nhiều phong cách cuối thời Trần.

       Vật liệu kiến trúc cũng rất đa dạng, phong phú, mái cung điện lợp ngói âm - dương và ngói phẳng, góc mái, đầu nóc trang trí các loại tượng tròn đất nung hình rồng, phượng, sư tử. Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”. Vẻ đẹp đó còn là cảm hứng của văn học, thi ca; bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh(5) (năm 1125) viết “mái hiên bay cao như cánh chim, ngói xếp như bày vảy cá” hay “ngói sen ngàn lớp tựa vẩy cá, sương sớm giọt giọt ngỡ hạt châu” (Thiệu Long tự bi minh(6), 1226), hình ảnh Xi Vẫn(7) - tượng chim phượng trang trí trên mái soi ngược xuống mặt nước được thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334) viết trong bài thơ chùa Diên Hựu “In ngược hình chim, gương nước lạnh”. Thời Trần kế thừa và đã sáng tạo loại ngói sen lợp mái, mang lại sắc thái riêng cho kiến trúc đương thời.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 7: Minh họa cách lợp ngói rồng thời Lê sơ, thế kỷ XV-XVI

Hình 8: Ngói dương men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

Hình 9: Ngói âm men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ thế kỷ XV

Hình 10: Ngói Rồng men vàng lợp mái cung điện, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

       Đến thời Lê, kiến trúc cung điện Thăng Long đã có nhiều thay đổi do ảnh hưởng lớn từ hệ tư tưởng nho giáo nhưng vẻ đẹp và sự hoa mỹ thì càng được nâng cao. Nếu ai đó được một lần nhìn thấy loại “ngói rồng” tráng men xanh, men vàng phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long thì sẽ hiểu được kiến trúc cung điện đẹp đến nhường nào. Lý Tiên Căn (sứ giả nhà Thanh) viết về kiến trúc cung điện thời Lê như sau: “chỉ có nhà vua mới được lợp ngói màu vàng, quan và dân lợp bằng cỏ” (trích An Nam tạp ký). Đánh giá về kiến trúc cung điện Thăng Long, PGS.TS Tống Trung Tín bày tỏ: “Phải còn rất lâu nữa chúng ta mới hiểu được kiến trúc hoàng cung Thăng Long.” bởi những khám phá của khảo cổ học mới chỉ là bước đầu làm phát lộ di tích di vật. Quá trình nghiên cứu chắc chắn còn phải kéo dài và rất khó khăn trong bối cảnh thiếu thốn nguồn tư liệu đương thời để so sánh, ví dụ như: tên gọi các cung điện, bộ khung gỗ, chưa kể đến trang trí nội thất bên trong các cung điện đó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 11: Phối cảnh tưởng tượng về mặt bằng kiến trúc cung điện thời Lý tại khu khảo cổ học
18 Hoàng Diệu, Hà Nội

       Qua khám phá của khảo cổ học và thư tịch cổ có thể thấy kiến trúc cung điện, lầu gác tại hoàng cung Thăng Long đều là kiến trúc có bộ khung gỗ, mái lợp ngói, trang trí nội ngoại thất rất công phu và tráng lệ, chứng tỏ trình độ kỹ thuật, mỹ thuật và trình độ quy hoạch xây dựng đô thành đã rất phát triển dưới thời Lý, Trần, Lê tạo cho Thăng Long vị thế xứng đáng là quốc đô qua nhiều triều đại, trải dài lịch sử 779 năm (1010 - 1789). Những thành tựu nhiều mặt đó phản ánh sự kết tinh, giao thoa và tiếp biến văn hóa(8) của Thăng Long với các vùng văn hóa trong nước cũng như các nền văn minh trong khu vực. Đó cũng là một trong những giá trị nổi bật toàn cầu của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long mà UNESCO đã ghi danh là di sản thế giới năm 2010.

(TS. Trần Thế Anh, Ths. Đỗ Đức Tuệ, Ths. Nguyễn Hồng Quang, bài đăng trên tạp chí Kiến trúc số 10 - 2018)

Chú thích: 

(1) Quế hải ngu hành chí: Tập bút kí cho Phạm Thành Đại (1126 - 1193) thời Tống biên soạn. Phạm Thành Đại từng giữ chức trưởng quan của Quảng Nam Tây lộ - đầu mối thông tin giữa nhà Tống và Đại Việt.

(2) Cấp nền: Cầu nối đi lại phía trước ngôi nhà, là vị trí nối liền giữa sân và nhà, là nơi kết nối giao thông các hoạt động sống trong và ngoài của căn nhà.

(3) Bộ vì: Một bộ phận thuộc mái nhà có nhiệm vụ chống đỡ, kết nối hệ mái với những bộ phận khác để làm tăng độ kiên cố, vững chắc cho hệ mái. Đồng thời nó cũng giúp nâng cao giá trị thẩm mĩ cho ngôi nhà.

(4) Đấu củng: Một loại kết cấu mái theo kĩ thuật chồng tường (các loại gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau). Nó không chỉ có tác dụng mở rộng diện tích hiên nhà, tăng khả năng chịu lực mà còn đóng vai trò như một chi tiết để tô điểm, trang trí.

(5) Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (Bia chùa Hương Nghiêm trên núi Càn Ni): Văn bia được khắc ở chùa Hương Nghiêm, thôn Diên Hào, huyện Lôi Dương nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia không ghi người soạn nhưng theo khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn thì tác giả bài văn bia này có thể là nhà sư Hải Chiếu.

(6) Thiệu Long tự bi (Bia chùa Thiệu Long): Văn bia được khắc ở chùa Thiệu Long, xã Tam Hiệp, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Bia này được khắc năm Bính Tuất (1226), năm đầu của nhà Trần.

(7) Xi Vẫn: Một trong những đứa con của rồng. Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh ra chín đứa con nhưng không còn nào trở thành rồng cả. Chín con của rồng được gọi bằng những cái tên khác nhau là Bị Hí, Xi Vẫn, Bồ Lao, Bệ Ngạn, Thao Thiết, Công Phúc,… Xi Vẫn là con thứ hai, mang hình dáng đầu rồng đuôi cá.

(8) Tiếp biến văn hóa: Quá trình thay đổi văn hóa và thay đổi tâm lí sau cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa.

Câu 1. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 2. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Em ấn tượng với thông tin nào trong văn bản? Vì sao?        

0
14 tháng 4

Câu 1. Nhận định “đọc một câu thơ nghĩa là ta gặp gỡ một tâm hồn” đã khẳng định bản chất của thơ ca là tiếng nói của cảm xúc, là nơi người đọc có thể chạm đến thế giới nội tâm của người viết, điều đó được thể hiện rõ qua bài thơ “Bài thơ yêu đời” của Nguyễn Hữu Bào, trước hết ta bắt gặp một tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên, chỉ với những hình ảnh quen thuộc như cơn mưa đêm “mưa thật là to”, “trăng sao ướt hết” đã gợi nên một nỗi buồn nhẹ nhàng, tinh tế, đó là cái nhìn giàu cảm xúc của một tâm hồn biết rung động, nhưng ngay sau đó là sự chuyển biến nhanh chóng khi “sáng nay trời vội trở về”, ánh nắng chan hòa, chim hót, bướm bay, tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống, qua đó ta thấy một tâm hồn yêu đời, lạc quan, luôn hướng về ánh sáng, không dừng lại ở thiên nhiên, bài thơ còn cho thấy tình yêu cuộc sống gắn với con người, hình ảnh “mẹ em phơi lụa hong tơ” giản dị mà ấm áp, thể hiện tình cảm gia đình thân thương, đồng thời cũng phản ánh một cuộc sống lao động bình yên, đặc biệt, câu thơ “em mơ em ước mọi người ấm no” đã bộc lộ rõ vẻ đẹp tâm hồn nhân hậu, biết nghĩ đến người khác, đó không chỉ là niềm vui cá nhân mà còn là khát vọng chung về một cuộc sống tốt đẹp hơn, về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh trong sáng, giàu sức gợi, giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết phù hợp với cảm xúc hồn nhiên, qua đó giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được tâm hồn trong trẻo, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và giàu lòng nhân ái của tác giả, như vậy qua mỗi câu thơ ta thực sự được gặp gỡ một tâm hồn đẹp, điều đó đã làm sáng tỏ nhận định trên

3 tháng 12 2024

bptt : nhân hóa

giải thích : vì con ong làm gì biết yêu hoa , nó được nhân cách hóa có đặc điểm giống như con người

14 tháng 4

Câu 1. Bài văn

Trong cuộc sống, có rất nhiều người để lại trong em những ấn tượng sâu sắc, nhưng người mà em yêu quý và kính trọng nhất chính là mẹ. Mẹ không phải là người nổi tiếng hay giàu có, nhưng mẹ là người luôn hi sinh thầm lặng vì gia đình, đặc biệt là vì em.

Mỗi ngày, mẹ đều dậy từ rất sớm để chuẩn bị bữa sáng và lo cho em đến trường. Dù công việc vất vả, mẹ vẫn luôn dành thời gian quan tâm, hỏi han việc học của em. Có những lúc em làm sai, mẹ không la mắng mà nhẹ nhàng khuyên bảo, giúp em hiểu ra lỗi của mình. Chính sự dịu dàng và bao dung ấy khiến em luôn cảm thấy ấm áp và an tâm.

Em còn nhớ những lúc em bị ốm, mẹ luôn thức suốt đêm để chăm sóc. Bàn tay mẹ tuy không còn mềm mại nhưng lại rất ấm áp khi đặt lên trán em. Khi em buồn, mẹ luôn là người lắng nghe và động viên, giúp em có thêm nghị lực để vượt qua khó khăn.

Đối với em, mẹ không chỉ là người sinh thành mà còn là người bạn, người thầy dạy em cách sống tốt hơn mỗi ngày. Em hiểu rằng tất cả những gì mẹ làm đều xuất phát từ tình yêu thương vô điều kiện. Vì vậy, em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, ngoan ngoãn để mẹ luôn vui lòng.

Mẹ là người quan trọng nhất trong cuộc đời em. Dù sau này có đi đâu xa, em vẫn luôn nhớ về mẹ với tất cả tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc.

2 tháng 12 2024

"Trào tuôn" có nghĩa là tuôn chảy mạnh mẽ và không ngừng, thường dùng để diễn tả cảm xúc, nước mắt, hoặc dòng chảy nào đó.

"Cay nồng" là một cụm từ dùng để mô tả vị cay mạnh, gây cảm giác nóng rát và kích thích vị giác, thường gặp trong các loại thực phẩm có gia vị như ớt, tiêu, hoặc mù tạt.

14 tháng 4

Mở bài
Giới thiệu truyện ngắn “Cơm mùi khói bếp” của Hoàng Công Danh, nêu khái quát nhân vật người con trai và vấn đề cần phân tích là diễn biến tâm trạng của nhân vật

Thân bài
Khái quát hoàn cảnh nhân vật, người con trai sống xa quê, bận rộn với cuộc sống hiện đại nên dần xa cách với gia đình và những giá trị truyền thống

Diễn biến tâm trạng
Giai đoạn đầu, thờ ơ, vô tâm, xem nhẹ những bữa cơm quê, mùi khói bếp, chưa nhận ra tình cảm gia đình, giải thích: do bị cuốn vào nhịp sống nhanh và tiện nghi
Giai đoạn tiếp theo, bắt đầu cảm nhận, nhớ về quê hương khi bắt gặp mùi khói bếp hoặc hình ảnh quen thuộc, giải thích: kí ức tuổi thơ dần thức dậy
Giai đoạn cao trào, xúc động, hối hận, nhận ra giá trị của những bữa cơm gia đình, tình yêu thương của mẹ cha, giải thích: sự đối lập giữa hiện tại và quá khứ làm nhân vật thức tỉnh
Giai đoạn cuối, trân trọng, yêu thương, mong muốn quay về, gìn giữ những giá trị giản dị mà thiêng liêng

Đánh giá
Nội dung, thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc, nhắc nhở con người biết trân trọng những điều bình dị
Nghệ thuật, miêu tả tâm lí tinh tế, sử dụng hình ảnh mùi khói bếp giàu sức gợi, giọng văn nhẹ nhàng, giàu cảm xúc

Kết bài
Khẳng định lại diễn biến tâm trạng nhân vật, nêu ý nghĩa của truyện là lời nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng gia đình và cội nguồn

2 tháng 12 2024

9,558:2,7 bằng bao nhiêu nhỉ

3 tháng 12 2024

Từ để nguyên là : Hai

 

2 tháng 12 2024

Bài thơ "À ơi tay mẹ" của tác giả Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ sâu sắc, giàu cảm xúc, thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và sự gắn bó mật thiết giữa mẹ và con. Mở đầu bài thơ, hình ảnh "tay mẹ" được khắc họa thật giản dị nhưng đầy ấm áp, là biểu tượng của sự che chở, yêu thương vô bờ bến. Qua những vần thơ nhẹ nhàng, tác giả miêu tả bàn tay mẹ như là nơi con được ấp ủ, được nuôi dưỡng cả về thể xác lẫn tâm hồn. Mỗi lần mẹ vỗ về, là một lần con cảm nhận được sự an lành, như tiếng "À ơi" ru con trong vòng tay ấm áp, đem lại cảm giác bình yên và hạnh phúc. Bài thơ không chỉ là lời ru của mẹ mà còn là những suy tư, những cảm nhận của tác giả về tình yêu thương vô điều kiện của mẹ đối với con cái. "À ơi tay mẹ" mang đến cho người đọc những cảm xúc sâu lắng, gợi nhớ về những ký ức êm đềm, ngọt ngào của tuổi thơ dưới bàn tay yêu thương của mẹ.

   nhớ tick cho mình nhé

14 tháng 4

Trong bài “Sợi dây thun”, hình ảnh người mẹ hiện lên giản dị nhưng vô cùng cảm động, thể hiện tình yêu thương con sâu sắc và sự hi sinh thầm lặng. Người mẹ không có những hành động lớn lao mà chỉ qua những chi tiết nhỏ như chiếc sợi dây thun buộc tóc, nhưng lại chứa đựng biết bao tình cảm.

Người mẹ hiện lên là người tần tảo, chịu thương chịu khó. Cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn nên mẹ luôn chắt chiu, tiết kiệm từng chút một. Chiếc sợi dây thun tưởng chừng rất nhỏ bé nhưng lại được mẹ giữ gìn cẩn thận, sử dụng nhiều lần. Điều đó cho thấy mẹ luôn lo toan cho cuộc sống, đặt lợi ích của gia đình lên trên bản thân mình.

Không chỉ vậy, người mẹ còn là người giàu tình yêu thương con. Mọi hành động của mẹ đều hướng về con, từ việc chăm sóc đến những điều nhỏ nhặt nhất. Sợi dây thun không chỉ là vật dụng mà còn là biểu tượng của tình mẫu tử, gắn bó với tuổi thơ của con. Qua đó, ta cảm nhận được sự ấm áp, gần gũi và tình cảm chân thành mà mẹ dành cho con.

Đặc biệt, người mẹ còn thể hiện sự hi sinh thầm lặng. Mẹ chấp nhận vất vả, thiếu thốn mà không một lời than phiền, chỉ mong con được đủ đầy hơn. Những hi sinh ấy không ồn ào nhưng lại rất lớn lao, khiến người đọc xúc động và trân trọng.

Qua hình ảnh người mẹ trong bài “Sợi dây thun”, tác giả đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời nhắc nhở mỗi người hãy biết yêu thương, kính trọng và biết ơn mẹ. Bài văn giúp em hiểu rằng tình mẹ luôn là điều quý giá nhất trong cuộc sống.

14 tháng 4

Câu 1. Đoạn thơ đã gợi lên trong em những cảm xúc thật xúc động về tình cảm bà cháu, hình ảnh người bà hiện lên với mái tóc bạc, làn da mồi khiến em cảm nhận rõ sự hi sinh và vất vả của bà theo năm tháng, câu thơ “vắng con, xa cháu” gợi nỗi cô đơn khiến em càng thêm thương bà hơn, đặc biệt hình ảnh so sánh “bà như quả ngọt chín rồi” vừa đẹp vừa giàu ý nghĩa, cho thấy bà đã trải qua nhiều gian truân nhưng vẫn giữ được tấm lòng ấm áp, yêu thương con cháu, em cảm nhận được tình cảm sâu nặng và sự biết ơn đối với bà, từ đó em tự nhắc nhở bản thân phải yêu thương, quan tâm và chăm sóc bà nhiều hơn

Câu 2. Nhân vật người mẹ trong văn bản “Quà của yêu thương” của Trần Văn Thiên hiện lên với những phẩm chất cao đẹp, trước hết đó là tình yêu thương con sâu sắc và thầm lặng, người mẹ luôn quan tâm, chăm sóc con từ những điều nhỏ nhất mà không đòi hỏi sự đền đáp, qua những hành động giản dị nhưng chân thành, ta thấy được sự hi sinh to lớn của mẹ dành cho con, bên cạnh đó người mẹ còn là người giàu đức hi sinh, luôn đặt lợi ích của con lên trên bản thân mình, dù gặp khó khăn vẫn cố gắng mang lại cho con những điều tốt đẹp nhất, hình ảnh “quà của yêu thương” không chỉ là món quà vật chất mà còn là biểu tượng cho tình cảm thiêng liêng của mẹ, về nghệ thuật, tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, kết hợp với những chi tiết chân thực, cảm động đã khắc họa rõ nét hình ảnh người mẹ, qua đó giúp người đọc cảm nhận sâu sắc giá trị của tình mẫu tử, từ đó mỗi người thêm trân trọng và biết ơn mẹ của mình