K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (trang 99 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1): - Những từ in đậm sử dụng phép hoán dụ, chúng có nghĩa là:  a. “nhắm mắt xuôi tay”: ý nói đến cái chết.  b. “mái nhà tranh, đồng lúa chín” : thay thế cho quê hương, làng mạc, ruộng đồng nói chung.  c. “áo cơm cửa nhà” : nói đến của cải vật chất, những thứ tốt đẹp mà người tốt, hiền lành xứng đáng được hưởng.  Câu 2 (trang 100...
Đọc tiếp

Câu 1 (trang 99 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Những từ in đậm sử dụng phép hoán dụ, chúng có nghĩa là: 

a. “nhắm mắt xuôi tay”: ý nói đến cái chết. 

b. “mái nhà tranh, đồng lúa chín” : thay thế cho quê hương, làng mạc, ruộng đồng nói chung. 

c. “áo cơm cửa nhà” : nói đến của cải vật chất, những thứ tốt đẹp mà người tốt, hiền lành xứng đáng được hưởng. 

Câu 2 (trang 100 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Các biện pháp tu từ được sử dụng là: 

a. So sánh : ví khoảng cách giữa “Đời cha ông với đời tôi” cũng xa như “con sông với chân trời” 

→ Tác dụng: Diễn tả ý từ xưa đến nay, từ thế hệ cha ông đến thế hệ chúng ta, từ quá khứ đến hiện tại là một khoảng cách xa vời vợi. Thế nhưng khoảng cách đó đã được nối liền bởi các truyện cổ dân gian; “đời cha ông với đời tôi” tưởng rất xa mà lại hóa rất gần. 

b. Nhân hóa : qua các từ ngữ “chống lại”, “xung phong” 

→ Tác dụng: Tăng tính gợi hình, gợi cảm, làm cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn đồng thời nhấn mạnh tác dụng và phẩm chất cao quý của cây tre: tre cũng có những hành động và đức tính giống như con người. 

* Nghĩa của từ ngữ  

Câu 3 (trang 100 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Câu thơ: “Đẽo cày theo ý người ta/ Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì” gợi liên tưởng đến thành ngữ: “Đẽo cày giữa đường”. 

- Nghĩa của thành ngữ “Đẽo cày giữa đường” là: Những người không độc lập, không có chính kiến riêng, luôn bị tác động và thay đổi theo ý kiến người khác thì làm việc gì cũng không đạt được kết quả. 

Câu 4 (trang 100 sgk Ngữ văn lớp 6 Tập 1):

- Nghĩa của thành ngữ “Tre già măng mọc” là: nói đến sự nối tiếp giữa các thế hệ, thế hệ trước già đi sẽ có thế hệ sau thay thế; thế hệ trước sẽ truyền lại những kinh nghiệm, tri thức, phẩm chất,… đáng quý cho thế hệ sau.

0
29 tháng 11 2024

Hiện tưởng chửi bậy trong môi trường học đường là hành vi đáng bị bài trừ. Vì những lời lẽ đó vô cùng là thô tục. Những người chửi bậy đa số là đầu gấu, giang hồ, trùm trường gọi chung là thành phần bất hảo. Đa phần những thành phần đó không được giáo dục tốt như bố mẹ là dân chơi , cờ bạc , rượi chè,..những học sinh chửi bậy đa phần là do  cách ứng xử của phụ huynh không tốt nên con cái của họ mới học theo .

29 tháng 11 2024

Nói tục chửi bậy là một hiện tượng khá phổ biến trong môi trường học đường. Ở nhiều nước trên thế giới, đây không phải là vấn đề quá nghiêm trọng nhưng ở Việt Nam, đó lại là một chủ đề nhạy cảm và được quan tâm. Có người cho rằng nói tục là một cách để giải tỏa stress, thể hiện sự bức xúc. Nhưng trên thực tế, nói tục lại làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và gây ra nhiều tác hại đối với chính bản thân người nói. Nói tục có thể khiến con người cảm thấy tự tin hơn nhưng lại là rào cản trong giao tiếp và mất ****ự tôn trọng từ người khác. Hơn nữa, việc sử dụng ngôn ngữ không đúng mực trong môi trường học đường sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và giá trị văn hóa của mỗi cá nhân. Vì vậy, mỗi người nên tự rèn luyện bản thân và tránh xa việc nói tục chửi bậy.

29 tháng 11 2024

 Câu 1.

Đoạn văn được rút ra từ tác phẩm 'Tranh luận cá heo và con người' của E. B. White. Cốt lõi của đoạn văn này nằm ở việc xác định ai là người chỉ huy của con tàu cá heo, điều này kích thích một cuộc tranh luận thú vị giữa các nhân vật khác nhau trong văn bản. Về mặt nội dung, tác giả khám phá vai trò của con người trong việc xác định sự dẫn đầu, khám phá bản chất của quyền lực và khả năng đánh giá quá cao bản thân của chúng ta. Về mặt nghệ thuật, đoạn văn thể hiện sự đối lập giữa cá heo và con người thông qua đối thoại, mô tả và giai thoại của tác giả. Việc sử dụng phép ẩn dụ về tàu cá heo cùng câu hỏi tu từ đã tạo ra sự căng thẳng và làm nổi bật chủ đề chính của văn bản. Cách viết của tác giả đơn giản và dễ tiếp cận, giúp truyền tải thông điệp của văn bản tới độc giả.

Câu 2.

Trong xã hội hiện đại, nhịp sống ngày càng nhanh hơn, do vậy nhiều người phải vật lộn để duy trì cân bằng và tĩnh tại trong cuộc sống của mình. Sống chậm là hành động cố tình di chuyển với tốc độ chậm hơn và chú ý đến những điều xảy ra xung quanh chúng ta. Sống chậm có thể mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm căng thẳng và lo lắng, tăng khả năng sáng tạo và cải thiện sức khỏe tổng thể. Một cách để sống chậm là thực hành chánh niệm, tập trung vào hiện tại và chú ý đến suy nghĩ và cảm xúc của mình. Ngủ đủ giấc và tham gia các hoạt động làm giảm căng thẳng như thiền, yoga cũng có thể giúp sống chậm lại. Ngoài ra, sống chậm còn bao gồm việc giảm các tác nhân gây xao nhãng trong cuộc sống, như mạng xã hội và giải trí công nghệ. Sống chậm là một thử thách đối với nhiều người, nhưng với sự luyện tập và quyết tâm, bất cứ ai cũng có thể hưởng lợi từ việc sống chậm lại. Bằng cách sống chậm lại, chúng ta có thể trân trọng thế giới xung quanh mình và tận hưởng sự phong phú của cuộc sống.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:         Chiều tàn hút gió cheo leo, Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.         Chằn tinh gặp lại đại bàng, Cả hai cùng có chung mang mối thù.         Bàn nhau kiếm cách trả thù, Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.         Vượt qua mấy lớp quân canh, Vào cung lấy trộm gây thành án oan.         Bạc vàng châu...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

        Chiều tàn hút gió cheo leo,
Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.
        Chằn tinh gặp lại đại bàng,
Cả hai cùng có chung mang mối thù.
        Bàn nhau kiếm cách trả thù,
Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.
        Vượt qua mấy lớp quân canh,
Vào cung lấy trộm gây thành án oan.
        Bạc vàng châu báu đem mang,
Bỏ vào lều nhỏ của chàng Thạch Sanh.
        Tội thời tang vật rành rành,
Lý Thông chủ toạ án hình chém ngay.
        Giam vào trong ngục đợi ngày,
Thạch Sanh oan uổng giãi bày không xong.

        Buồn đâu xâm chiếm cõi lòng,
Đàn buông dây có dây không khẽ khàng.
        “Đàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đưa công chúa lên hang mà về?”
        Tiếng đàn như tỉnh như mê,
Giọng đàn ai oán não nề xót xa.
        Tiếng vang đến tận cao xa,
Đến tai công chúa cách ba quãng đường.
        Trong lòng chợt nhớ chợt thương,
Chợt đau chợt khổ vấn vương bồi hồi.
        Tự dưng lại thốt thành lời,
Xin vua cha được gặp người rung tơ.
        Nửa lòng như tỉnh như mơ,
Nửa lòng đang rối như tơ ương vò.
        Làm sao nên cảnh bất ngờ,
Anh hùng nhận án tử chờ khai đao.
        Thạch Sanh thưa chuyện trước sau,
Chằn tinh giết trước, tiếp sau đại bàng.
        Cứu nàng công chúa khỏi hang,
Hàm oan nghiệp chướng mới mang tội này.
        Nhà vua nghe hết tấu bày,
Cảm thương công chúa đêm ngày nhớ mong.
        Ban truyền phò mã sắc phong,
Ngày lành tháng tốt kết phòng se hoa.
        Lý Thông tội nặng chớ tha,
Giao cho phò mã luận ra tội thành.

        Lý Thông mặt xám mắt xanh,
Mọp ngay dưới điện cổ đành chờ đao.
        Nghênh ngang có được lúc nào,
Kề dao vô cổ khác nào bún thiu.
        Tham lam gây ác đủ nhiều,
Chờ nghe luận tội phách siêu hồn rời.
        Sanh rằng tội rõ ràng rồi,
Chiếu theo phép nước ắt thời không tha.
        Nghĩ tình còn có mẹ già,
Tha cho về lại quê nhà tu thân.
        Lý Thông chắc chết mười phần,
Được ban tha bổng thất thần tạ ơn.
        Dập đầu máu đổ trên sân,
Dắt ngay tay mẹ lên đường về quê.
        Ác nhân trời bỏ đời chê,
Giữa đường sét đánh tức thì thiệt thân.

                                           (Thạch Sanh, Lý Thông, Duong Thanh Bach)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Tóm tắt văn bản bằng những sự kiện chính và cho biết văn bản thuộc mô hình cốt truyện nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 5. So sánh văn bản với truyện cổ tích Thạch Sanh, hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau cơ bản trong hai văn bản.

1
29 tháng 11 2024

 

  Câu 1: Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

Đoạn trích trên thuộc thể loại thơ lục bát, phản ánh một câu chuyện đầy kịch tính và cảm động về nhân vật Thạch Sanh. Nội dung chính của đoạn thơ xoay quanh sự oan ức của Thạch Sanh khi bị đổ tội bởi Chằn Tinh và Đại Bàng, hai nhân vật đại diện cho cái ác. Hình ảnh Thạch Sanh hiện lên như một người anh hùng chịu đựng bất công, nhưng vẫn giữ vững lòng chính nghĩa. Nghệ thuật trong đoạn thơ được thể hiện qua việc sử dụng thể thơ lục bát, tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc. Hình ảnh và ngôn từ được tác giả khéo léo lựa chọn, từ đó gợi lên cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc. Đặc biệt, những câu thơ miêu tả tâm trạng của Thạch Sanh khi bị giam cầm, cùng với tiếng đàn ai oán của công chúa, đã tạo nên một không gian đầy bi thương, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật. Qua đó, tác giả không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn gửi gắm thông điệp về sự công bằng và lòng nhân ái.

Câu 2: Bàn về việc sống chậm trong xã hội hiện đại

Trong xã hội hiện đại, khi mà nhịp sống ngày càng nhanh, con người dường như bị cuốn vào vòng xoáy của công việc, học tập và những áp lực từ cuộc sống. Chúng ta thường xuyên bị áp lực bởi thời gian, từ việc phải hoàn thành công việc đúng hạn đến việc phải theo kịp xu hướng của xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, việc sống chậm lại đang trở thành một xu hướng được nhiều người quan tâm.

Sống chậm không có nghĩa là lười biếng hay không làm việc, mà là một cách tiếp cận cuộc sống với tâm thế bình tĩnh hơn. Khi sống chậm, chúng ta có thời gian để suy nghĩ, để cảm nhận và để trân trọng những điều nhỏ bé xung quanh. Điều này không chỉ giúp giảm căng thẳng mà còn tăng cường sức khỏe tinh thần. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người biết sống chậm thường có tâm trạng tốt hơn, ít lo âu và hạnh phúc hơn.

Một trong những cách để sống chậm là thực hành chánh niệm. Chánh niệm giúp chúng ta tập trung vào hiện tại, nhận diện cảm xúc và suy nghĩ của bản thân mà không phán xét. Thực hành chánh niệm có thể đơn giản như việc dành ra vài phút mỗi ngày để thiền, hoặc chỉ đơn giản là hít thở sâu và cảm nhận không khí xung quanh. Ngoài ra, việc giảm thiểu thời gian sử dụng công nghệ cũng là một cách hiệu quả để sống chậm. Thay vì dành hàng giờ trên mạng xã hội, chúng ta có thể dành thời gian cho gia đình, bạn bè hoặc tham gia các hoạt động ngoài trời.

Sống chậm cũng đồng nghĩa với việc biết trân trọng những khoảnh khắc trong cuộc sống. Chúng ta có thể tìm thấy niềm vui trong những điều giản dị như một bữa cơm gia đình, một buổi chiều đi dạo công viên hay một cuốn sách hay. Những khoảnh khắc này thường bị bỏ qua trong guồng quay hối hả của cuộc sống, nhưng lại mang đến cho chúng ta cảm giác bình yên và hạnh phúc.

Cuối cùng, sống chậm không chỉ là một lựa chọn cá nhân mà còn là một thông điệp xã hội. Trong bối cảnh mà nhiều người đang phải đối mặt với stress, lo âu và trầm cảm, việc khuyến khích mọi người sống chậm lại có thể góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống. Chúng ta cần tạo ra một môi trường mà ở đó, mọi người có thể thoải mái sống chậm, tận hưởng cuộc sống và kết nối với nhau.

Tóm lại, sống chậm trong xã hội hiện đại không chỉ là một xu hướng mà còn là một nhu cầu thiết yếu. Nó giúp chúng ta tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, trân trọng những giá trị thực sự của cuộc sống và xây dựng những mối quan hệ ý nghĩa. Hãy bắt đầu từ những điều nhỏ bé nhất, để cuộc sống của chúng ta trở nên phong phú và trọn vẹn hơn.
15 tháng 4

Câu. Đoạn thơ thể hiện tình cảm sâu sắc của người con đối với mẹ, mở đầu là hình ảnh thời gian trôi qua in dấu trên mái tóc mẹ chuyển sang màu trắng và tấm lưng ngày càng còng xuống, qua đó cho thấy sự hi sinh, vất vả của mẹ để con khôn lớn, hình ảnh đối lập giữa mẹ già đi và con lớn lên càng làm nổi bật tình mẫu tử thiêng liêng, tiếp theo tác giả nhắc đến lời hát của mẹ như chứa đựng cả cuộc đời, đó là những lời ru nuôi dưỡng tâm hồn, chắp cánh ước mơ cho con, giúp con trưởng thành và bay xa, đoạn thơ sử dụng hình ảnh giản dị mà giàu cảm xúc, giọng điệu nhẹ nhàng tha thiết, qua đó thể hiện lòng biết ơn, yêu thương và trân trọng của người con dành cho mẹ, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người

15 tháng 4

Chào cậu, mình viết thư này muốn trao đổi một chút về vấn đề tuổi trẻ và việc lãng phí thời gian, mình thấy đây là điều rất đáng suy nghĩ, vì tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất, có nhiều cơ hội để học tập, trải nghiệm và phát triển bản thân, tuy nhiên nếu không biết trân trọng thì rất dễ rơi vào tình trạng lãng phí thời gian vào những việc không có ý nghĩa như chơi game quá nhiều, lướt mạng xã hội vô ích hay trì hoãn công việc, điều này có thể khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều cơ hội quý giá, theo mình mỗi người nên biết lập kế hoạch, xác định mục tiêu rõ ràng và sử dụng thời gian hợp lý để học tập, rèn luyện kỹ năng cũng như chăm sóc bản thân, mình nghĩ nếu biết tận dụng tốt tuổi trẻ thì sau này sẽ không phải hối tiếc, còn cậu thì nghĩ sao về vấn đề này, mong nhận được chia sẻ của cậu
Thân mến

16 tháng 4

Câu 1. việc chăm sóc và nuôi dạy hải âu Luck giúp Zorba học được trách nhiệm, tình yêu thương, sự hi sinh vì người khác, hiểu rằng phải giữ lời hứa và làm điều đúng đắn dù khó khăn vì Zorba đã cố gắng nuôi dạy Luck dù khác loài
Câu 2. câu nói khẳng định bản chất và tự do của mỗi cá thể, Luck là hải âu nên phải sống đúng với bản chất của mình, phải bay để thực hiện ước mơ và sống đúng cuộc đời của mình, không thể bị giam giữ hay sống thay người khác
Câu 3. thông điệp có ý nghĩa nhất là hãy sống đúng với bản chất và ước mơ của bản thân, vì mỗi cá nhân đều có giá trị riêng, khi dám sống đúng với chính mình thì mới thực sự hạnh phúc và phát triển

17 tháng 5

Câu 1 (2 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích:
“Chèo đi rán thứ sáu/ … / Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!”

Đoạn trích thể hiện sâu sắc mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa con người và biển cả. Hình ảnh “chèo đi” gợi nhịp sống lao động quen thuộc, nhọc nhằn nhưng bền bỉ của con người miền biển. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là nơi gửi gắm niềm tin, hi vọng và cả số phận con người. Lời khẩn cầu “Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!” vang lên tha thiết như một lời thề gắn bó trọn đời. Ở đó, biển được nhân hóa như một sinh thể có linh hồn, có thể thấu hiểu, chở che cho con người. Qua giọng điệu chân thành, xúc động, đoạn thơ bộc lộ tình yêu biển sâu nặng, đồng thời phản ánh tâm thế của con người lao động: dù vất vả, hiểm nguy nhưng vẫn không thể rời xa biển. Đoạn trích vì thế mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, ngợi ca sự thủy chung, bền chặt giữa con người và môi trường sống của mình.


Câu 2 (4 điểm)

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về giá trị của tình thân trong cuộc sống

Trong hành trình dài rộng của đời người, có những giá trị bền vững luôn âm thầm nâng đỡ chúng ta vượt qua mọi biến cố, và tình thân chính là một trong những giá trị thiêng liêng nhất. Tình thân không ồn ào, phô trương nhưng lại có sức mạnh to lớn, là điểm tựa tinh thần không thể thay thế trong cuộc sống con người.

Tình thân là mối quan hệ ruột thịt gắn bó giữa những người trong gia đình: ông bà, cha mẹ, anh chị em. Đó là thứ tình cảm được hình thành một cách tự nhiên, không cần điều kiện hay toan tính. Khi ta còn nhỏ, tình thân là vòng tay chở che, là sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ. Khi trưởng thành, tình thân trở thành nơi để ta quay về sau những vấp ngã, thất bại trong cuộc đời.

Giá trị lớn nhất của tình thân nằm ở sự yêu thương và bao dung. Trong gia đình, con người được sống là chính mình, được chấp nhận cả những thiếu sót và sai lầm. Khi cả thế giới quay lưng, gia đình vẫn là nơi dang rộng vòng tay đón ta trở về. Chính sự bao dung ấy giúp con người có thêm niềm tin, nghị lực để đứng dậy và tiếp tục bước đi.

Không chỉ vậy, tình thân còn góp phần hình thành nhân cách con người. Một gia đình giàu yêu thương sẽ nuôi dưỡng những con người biết sẻ chia, biết sống vì người khác. Ngược lại, sự thiếu vắng tình thân có thể khiến con người trở nên cô đơn, lạc lõng, dễ đánh mất phương hướng sống. Vì thế, gia đình không chỉ là mái ấm vật chất mà còn là môi trường đầu tiên giáo dục con người về đạo đức, lối sống.

Trong xã hội hiện đại, khi nhịp sống ngày càng nhanh, con người dễ mải mê với công việc, mạng xã hội mà vô tình lãng quên tình thân. Những bữa cơm gia đình thưa dần, những cuộc trò chuyện bị thay thế bằng sự im lặng. Điều đó khiến giá trị của tình thân có nguy cơ bị phai nhạt. Chính vì vậy, mỗi người cần ý thức trân trọng, gìn giữ và nuôi dưỡng tình cảm gia đình bằng những hành động nhỏ nhưng chân thành: một lời hỏi han, một bữa cơm sum họp, hay đơn giản là dành thời gian lắng nghe nhau.

Tóm lại, tình thân là cội nguồn yêu thương, là nền tảng tinh thần vững chắc giúp con người sống tốt hơn và hạnh phúc hơn. Dù xã hội có đổi thay, tình thân vẫn luôn là giá trị bền vững, cần được trân trọng và gìn giữ suốt đời.


Câu 1:

Mọi giá trị văn chương chân chính chỉ thực sự tỏa sáng khi nó lặn sâu vào bể sâu của số phận con người, phản ánh những thử thách ngặt nghèo nhất của kiếp nhân sinh. Trích đoạn trong truyện thơ dân gian Vượt biển của dân tộc Tày – Nùng chính là một minh chứng tiêu biểu, khi khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên cõi âm dữ dội cùng khát vọng sống mãnh liệt của linh hồn bị đày ải, thể hiện rõ nét qua những dòng thơ từ "Chèo đi..." đến "...biển hỡi!". Về nội dung, đoạn trích tái hiện không gian cõi âm đầy rẫy hiểm nguy với các "rán nước" dữ dội, dòng nước xoáy cuộn thác trào và quỷ dữ bủa giăng chực nuốt chửng thuyền bè. Qua đó, nhân vật người kể chuyện ngôi thứ nhất ("tôi") hiện lên với số phận đáng thương của một kẻ chết oan bị bắt làm phu chèo thuyền vượt biển. Đoạn thơ chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc khi gián tiếp tố cáo các thế lực bóc lột cõi âm, đồng thời ngợi ca ý chí kiên cường, khát vọng sống của con người trước nghịch cảnh. Để làm nên sức hấp dẫn ấy, nghệ thuật dân gian đã sử dụng kết cấu lặp tuần tiến đầy kịch tính kết hợp giọng điệu vừa gân guốc vừa bi thương. Biện pháp điệp cấu trúc cùng các từ láy tượng thanh (ầm ầm, ào ào, gầm réo) đã tạo nên một bức tranh âm thanh hung bạo, nghẹt thở. Đặc biệt, ngôn ngữ độc thoại, tiếng kêu cầu đầy bất lực ở cuối đoạn chính là chi tiết đắt giá bộc lộ nội tâm nhân vật chân thực nhất, khẳng định tầm vóc của các tác giả dân gian trong việc nâng niu giá trị con người. Sự kết hợp tài tình này đã chứng minh văn học là cuốn bách khoa toàn thư về tâm hồn, khẳng định sức sống lâu bền của tác phẩm trong nền văn học dân tộc. Nhìn vào hành trình vượt ghềnh thác ấy, mỗi người trẻ hôm nay cũng tự rút ra bài học về ý chí để bản lĩnh chèo lái con thuyền cuộc đời vượt qua mọi giông bão.

Câu 2:

"Gia đình là một món quà — thứ duy nhất tồn tại mãi mãi." Giữa dòng đời tấp nập với những bon chen, danh vọng và những mối quan hệ xã giao đầy toan tính, con người ta dễ dàng bị cuốn vào vòng xoáy của áp lực và mỏi mệt. Thế nhưng, có một điểm tựa thiêng liêng, một bến đỗ bình yên mà bất cứ ai cũng có thể tìm về, đó chính là tình thân. Tình thân – sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt giữa những người cùng máu mủ, ruột rà – giữ một tầm quan trọng cốt lõi, là cội nguồn sức mạnh và là bệ đỡ tinh thần không thể thiếu trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Để thấu hiểu giá trị ấy, trước hết chúng ta cần nhận thức rõ: "Tình thân" là gì? Tình thân chính là tình cảm gia đình, là sự gắn kết sâu sắc, thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, ông bà và các thế hệ trong một dòng tộc. Nó không đơn thuần là mối quan hệ sinh học dựa trên huyết thống, mà cốt lõi là tình yêu thương vô điều kiện, sự thấu hiểu, sẻ chia, chở che và sẵn sàng hy sinh cho nhau mà không đòi hỏi sự đền đáp. Một triết gia phương Tây từng khẳng định: "Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của số phận." Quả thực, những biểu hiện và lợi ích của tình thân vô cùng to lớn ở mọi phương diện. Đối với cá nhân, tình thân là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn từ thuở lọt lòng, là nơi dạy ta những bài học làm người đầu tiên. Khi đối mặt với nghịch cảnh, tình thân chính là lá chắn bảo vệ chúng ta. Hãy nhìn vào câu chuyện cảm động của người cha chở đứa con bị bại não đi khắp thế giới trong các cuộc thi ba môn phối hợp – ông Dick Hoyt và con trai Rick. Suốt hàng chục năm, bằng tình thân yêu mãnh liệt, người cha đã trở thành đôi chân, thành đôi cánh giúp người con tật nguyền cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống. Dẫn chứng này là minh chứng hùng hồn nhất cho thấy tình thân có thể giúp một cá nhân vượt qua nghịch cảnh tưởng chừng như không thể. Đối với mọi người xung quanh, một gia đình hòa thuận, yêu thương nhau sẽ lan tỏa năng lượng tích cực, tạo nên sợi dây kết nối tình làng nghĩa xóm tối đẹp. Xét trên phương diện xã hội, gia đình là tế bào của xã hội; khi mỗi tế bào ấy ngập tràn tình thân, xã hội sẽ bớt đi những tệ nạn, bớt đi sự băng hoại đạo đức và trở nên văn minh, nhân ái hơn. Để tình thân luôn là ngọn lửa sưởi ấm, chúng ta cần có những giải pháp thiết thực để vun đắp. Danh ngôn có câu: "Tình yêu gia đình là mầm mống của tình yêu quê hương và của mọi đức hạnh xã hội." Do đó, bản thân mỗi cá nhân cần phải chủ động học cách lắng nghe, thấu hiểu và dành thời gian chất lượng cho người thân thay vì chỉ chăm chú vào màn hình điện thoại. Về phía gia đình và nhà trường, cần phối hợp giáo dục con trẻ về đạo lý "uống nước nhớ nguồn", lòng hiếu thảo bằng chính những hành động làm gương của người lớn. Một ví dụ tiêu biểu cho giải pháp vun đắp tình thân thành công chính là phong trào "Bữa cơm gia đình ấm áp" được nhiều tổ chức xã hội thúc đẩy. Việc duy trì những bữa cơm chung, nơi mọi thành viên gác lại công việc để cùng ăn, cùng chuyện trò, chính là công cụ và phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả nhất để thắt chặt tình cảm, hàn gắn mọi khoảng cách thế hệ. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, chúng ta vẫn cần thẳng thắn phản đề. Tục ngữ Việt Nam có câu: "Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi", nhưng nhiều bậc cha mẹ lại nhân danh tình thân để áp đặt, kiểm soát quá mức hoặc dung túng cho những sai lầm của con cái, biến tình thân thành sự ích kỷ độc hại. Đáng buồn hơn, có những kẻ lại thờ ơ, bất hiếu, thậm chí vì tiền tài, danh lợi mà sẵn sàng quay lưng, rạn nứt tình anh em, ruột thịt. Những hiện tượng này cần phải bị lên án và loại bỏ một cách triệt để. Từ những lý lẽ trên, mỗi chúng ta cần tự rút ra bài học sâu sắc cho bản thân. Về mặt nhận thức, ta phải hiểu rằng tình thân là tài sản vô giá, mất đi rồi khó tìm lại được. Về mặt hành động, hãy bắt đầu từ những điều nhỏ bé nhất: một lời hỏi thăm cha mẹ khi đi xa, một cái ôm siết chặt hay sự đỡ đần công việc nhà cho người thân yêu. "Có một nơi để về, đó là nhà. Có những người để yêu thương, đó là gia đình. Có được cả hai, đó là hạnh phúc." Câu danh ngôn ấy nhắc nhở chúng ta về giá trị đích thực của cuộc sống. Tình thân luôn là điểm tựa vĩnh cửu, là báu vật thiêng liêng nhất của con người. Hãy trân trọng, gìn giữ và lan tỏa ngọn lửa yêu thương ấy để cuộc đời này không còn những góc khuất lạnh lẽo, và để mỗi ngôi nhà luôn là một tổ ấm bình yên.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Chèo đi rán(1) thứ sáu Thấy nước vằn mông mốc Xé nhau đục vật vờ Chèo đi thôi, chèo đi! Một người cầm cán dầm cho vững, Nước cuộn thác chớ lo Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn. Chèo đi rán thứ bảy, Nước ác kéo ầm ầm, Nơi đây có quỷ dữ chặn đường, Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Chèo đi rán(1) thứ sáu

Thấy nước vằn mông mốc

Xé nhau đục vật vờ

Chèo đi thôi, chèo đi!

Một người cầm cán dầm cho vững,

Nước cuộn thác chớ lo

Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.

Chèo đi rán thứ bảy,

Nước ác kéo ầm ầm,

Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,

Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăng

Chực ăn người đi biển,

Chực nuốt tảng(3) nuốt thuyền

Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế,

Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân.

Có bạc mới được qua.

Chèo đi rán thứ tám,

Nước đổ xuống ầm ầm,

To hơn bịch đựng lúa.

Nước xoáy dữ ào ào,

Nước thét gào kéo xuống Long Vương.

Nhanh nhanh tay chèo sang qua khỏi.

Chèo đi rán thứ chín,

Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,

Khắp mặt biển nước sôi gầm réo.

Biển ơi, đừng giết tôi,

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,

Đừng cho thuyền lật ngang,

Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!

Chèo đi rán thứ mười,

Thuyền lướt theo nước trời băng băng,

Cánh dầm tung bốn góc

Rán lại rán bay đi…

Chèo đến rán mười một,

Sóng đuổi sóng xô đi

Nước đuổi về sau lưng.

Chèo mau lên, chèo cố

Cho thuyền đến cửa biển ta dừng,

Cho thuyền đến bãi cát vàng bình an.

Chèo đi rán mười hai,

– A! Bờ biển kia rồi,

Ta chèo mau lên thôi,

Chèo mau lên, hỡi người trai trẻ!

Trai trẻ hãy lắng tai,

Trai trẻ nghe tôi bảo,

Lại đây nghe tôi dạy:

– Mau lên ta kéo thuyền vào cạn,

Cùng lôi tảng vào bến,

Kéo thuyền vào bãi cát chói hồng,

Kéo thuyền vào bãi bướm vàng vờn bay!

– Mời nàng hương(4) hai cô

Mời em hãy ôm hoa lên bến,

Mời nàng hãy ôm hương hầu slay

Quân quan lên “bời bời”(5)

Đàn bà cầm nón ra thuyền

Đàn ông cầm ô lên bến

Tay trái xách giày hoa ra tảng,

Tay phải xách giày đẹp lên bờ,

Gánh gồng lên rầm rập theo slay(6),

Bao của quý khiêng lên đi lễ người.

Mười hai rán nước nay đã qua rồi,

Bây giờ mới biết tôi sống sót.

Binh mã(7) slay rầm rập

Kéo vào chợ Đường Chu(8)

Sau lưng trơ lại tôi

Ngồi bên bờ biển đất trời mênh mông,

Tự than thân trách phận,

Cay đắng lắm đời sa dạ sa dồng(9).

Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung…

(Trích Vượt biển, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam - Tập IV, tr.887 - 889)

Chú thích: 

(1) Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm đe dọa những người chèo mảng.

(2) Ngọ lồm: Quỷ vô hình.

(3) Tảng: Loại mảng rất kiên cố có thể đi biển được.

(4) Nàng hương: Nàng hầu của quan slay. Trong thực tế, đây là hai cô gái đẹp chưa chồng, đến phục dịch trà thuốc cho thầy pụt cúng. Theo quan niệm mê tín cũ, những cô gái này khi chết cũng vẫn làm nàng hầu cho quan slay ở xứ ma.

(5) Bời bời: Đông đúc.

(6) Slay: Quan cai trị ở “cõi ma” (âm phủ).

(7) Binh mã: Xe ngựa, quân lính nơi cõi âm. 

(8) Chợ Đường Chu: Chợ ở “xứ ma”.   

(9) Sa dạ sa dồng: Những người làm phu phen đầy tớ cho các quan slay ở cõi âm.

Tóm tắt: Vượt biển là truyện thơ dân gian của dân tộc Tày – Nùng, dài khoảng 1000 câu thơ. Nội dung như sau: Có hai anh em mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau. Người anh sau này khi lấy vợ thì trở nên lạnh nhạt, bỏ mặc em sống nghèo đói. Người chị dâu thương tình, vá áo cho em chồng, chẳng may làm in những ngón tay đang nhuộm chàm lên lưng áo rách. Người anh ghen tuông khiến em bị chết oan ức. Linh hồn em không nơi nương tựa, bị các quan slay ở cõi âm bắt làm sa dạ sa dồng – phu chèo thuyền vượt biển. Mỗi lần vượt biển phải trải qua hành trình mười hai rán nước vô cùng hiểm nguy. Tác phẩm này được các thầy cúng đọc trong các lễ cầu hồn, cầu mát, được phổ biến rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, Bắc Kạn.

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.

Câu 2. Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?

Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?

Câu 5. Những âm thanh nào được thể hiện trong đoạn thơ: Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền? Những âm thanh đó gợi cho em cảm xúc gì?

7
17 tháng 5
Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.
Người kể trong văn bản là người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể ẩn mình, gọi tên các sự vật, hiện tượng một cách khách quan).
Câu 2. Hình ảnh "biển" hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?
Hình ảnh "biển" (ở đây chỉ hồ Ba Bể) hiện lên với vẻ hung dữ, dữ dội và đầy đe dọa:
  • Nước "dựng đứng chấm trời".
  • Mặt nước "sôi gầm réo".
  • Có sức mạnh chế ngự, đe dọa tính mạng con người ("Biển ơi, đừng giết tôi").
Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?
Chủ đề thường xoay quanh cuộc đấu tranh sinh tồn của con người trước sức mạnh dữ dội của thiên nhiên và khát vọng bình yên, chinh phục thử thách.
Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?
Các "rán nước" (những đợt sóng dữ hoặc hiện tượng thiên nhiên kỳ ảo) thường biểu tượng cho những thử thách nghiệt ngã, sự nguy hiểm tột cùng mà con người phải đối mặt và vượt qua trong cuộc sống.
Câu 5. Những âm thanh và cảm xúc:
  • Âm thanh: Tiếng "gầm réo" của mặt biển nước sôi. Đây là âm thanh dữ dội, vang vọng, thể hiện sự thịnh nộ của thiên nhiên.
  • Cảm xúc gợi ra:
    • Sự lo sợ, hãi hùng trước sức mạnh áp đảo của tự nhiên.
    • Sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ.
    • Cảm giác căng thẳng, kịch tính trong cuộc vật lộn với sóng gió.

Câu 1:Người kể chuyện ở đây là người kể chuyện ngôi thứ nhất

Câu2:Hình ảnh "biển" ở cõi âm hiện ra vô cùng dữ dội, hiểm nguy, đầy rẫy những thế lực đáng sợ và mang màu sắc kỳ ảo.Không gian mênh mông, mịt mù, đầy đe dọa"nước vẫn mông mốc", "đất trời mênh mông".

Câu 3:Văn bản thể hiện khát vọng vượt qua những thử thách, hoạn nạn khắc nghiệt nơi cõi âm để tìm kiếm sự bình an, đồng thời bộc lộ niềm đau khổ, cay đắng cho số phận oan trái của người lao động

Câu4:Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho.Những kiếp nạn, thử thách cực kỳ cam go, ác liệt mà con người phải đối mặt và vượt qua trong cuộc sống.Ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đại diện cho những trở lực, bất công và nỗi khổ đau chồng chất mà số phận đày ải lên những con người nhỏ bé, tội nghiệp.

Câu 5:Những âm thanh được thể hiện trong đoạn thơ bao gồm tiếng nước biển "gầm réo" dữ dội hòa cùng tiếng kêu cầu, van xin đầy hoảng sợ, bất lực của con người trước làn ranh sinh tử ("Biển ơi, đừng giết tôi...", "Nước hỡi, đừng lôi..."); qua đó, đoạn thơ gợi trong lòng người đọc sự thương xót, đồng cảm sâu sắc cho số phận nhỏ bé, tội nghiệp của những linh hồn oan khuất, đồng thời tạo cảm giác căng thẳng, hồi hộp trước sự hung bạo, hiểm nguy của thế lực cõi âm.

16 tháng 4

Biểu hiện của tình yêu thương giữa con người với con người được thể hiện qua sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, từ những hành động nhỏ như hỏi han, động viên khi gặp khó khăn đến những việc lớn như hỗ trợ vật chất, tinh thần, sẵn sàng hi sinh vì người khác, ngoài ra còn thể hiện ở sự bao dung, tha thứ, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, không phân biệt hoàn cảnh hay địa vị, ý nghĩa của tình yêu thương trong đời sống là giúp con người gắn kết với nhau, tạo nên một xã hội đoàn kết, ấm áp và nhân văn, giúp mỗi cá nhân có thêm động lực vượt qua khó khăn, phát triển bản thân, đồng thời góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực, xây dựng cuộc sống tốt đẹp và bền vững hơn