Ở đây ai biết bài văn ông đồ ko
cái ở sách ngữ văn cũ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
câu 2
Lịch sử là dòng chảy không ngừng của thời gian, ghi lại những sự kiện đã qua, những bước thăng trầm của một dân tộc và của nhân loại. Thế nhưng, thực tế cho thấy nhiều người trong chúng ta thường thờ ơ với những bài giảng lịch sử khô khan, đầy mốc thời gian và sự kiện. Ngược lại, ta lại dễ dàng xúc động, thậm chí rơi nước mắt trước những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã nêu lên một suy ngẫm sâu sắc về cách con người tiếp nhận và cảm nhận lịch sử.Trước hết, cần hiểu rằng những bài giảng lịch sử trong sách vở thường được trình bày dưới dạng hệ thống hóa sự kiện, con số, ngày tháng. Cách tiếp cận này giúp người học nắm được kiến thức cơ bản nhưng lại thiếu đi hơi thở của cuộc sống và cảm xúc con người. Vì thế, nhiều học sinh cảm thấy lịch sử khô cứng, khó nhớ, khó tạo được sự rung động trong tâm hồn. Không phải lịch sử nhàm chán, mà là cách truyền tải lịch sử chưa chạm được đến trái tim người học.Ngược lại, khi lịch sử được kể thông qua số phận và câu chuyện của những con người cụ thể, cảm xúc trong ta lập tức được đánh thức. Đó là hình ảnh những người lính sẵn sàng hy sinh tuổi xuân nơi chiến trường, là những bà mẹ tiễn con ra trận với nước mắt lặng thầm, là những anh hùng ngã xuống để đất nước được độc lập, tự do. Chính những con người bằng xương bằng thịt ấy đã khiến lịch sử trở nên sống động, gần gũi và lay động lòng người. Ta xúc động không chỉ vì chiến thắng hay thất bại, mà vì những mất mát, đau thương và lý tưởng cao đẹp mà con người đã mang theo trong hành trình làm nên lịch sử.Hơn thế nữa, con người chính là trung tâm của lịch sử. Mọi sự kiện đều bắt nguồn từ hành động, lựa chọn và khát vọng của con người. Khi ta hiểu được nỗi đau, niềm tin, sự hy sinh của họ, ta mới thấu cảm được giá trị thật sự của lịch sử. Sự xúc động ấy không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, mà còn khơi dậy trong ta lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc.Tuy nhiên, ý kiến trên không có nghĩa là phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử. Vấn đề đặt ra là cần đổi mới cách dạy và học lịch sử, gắn kiến thức với câu chuyện con người, với trải nghiệm và cảm xúc. Khi lịch sử được kể bằng trái tim, người học sẽ không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử.Tóm lại, chúng ta có thể không dễ xúc động trước những trang sách ghi chép sự kiện, nhưng luôn rung động trước những con người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh để làm nên lịch sử. Chính sự xúc động ấy giúp lịch sử trở thành ký ức sống động, là hành trang tinh thần để mỗi thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục viết tiếp những trang sử mới cho dân tộc.
Câu 1:
Trong văn bản Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang ý nghĩa sâu sắc. Đất nước không được cảm nhận qua những khái niệm trừu tượng mà hiện ra từ những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, lớp học, áo cưới, những bàn tay lao động. Đó là đất nước của nhân dân, của những con người bình dị đã sống, chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn gắn liền với những mất mát đau thương do bom đạn gây ra, nhưng từ trong tàn phá ấy, con người vẫn kiên cường đứng lên, dựng xây cuộc sống mới. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sức sống bền bỉ, của sự hồi sinh mạnh mẽ sau chiến tranh. Không chỉ là quá khứ gian khổ, đất nước còn là hiện tại và tương lai, nơi các thế hệ tiếp nối truyền cho nhau “sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ”. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với những con người đã làm nên lịch sử dân tộc, đồng thời khơi gợi ở người đọc ý thức trách nhiệm trong việc trân trọng hòa bình và xây dựng đất nước hôm nay.
Câu 2:
Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, gợi cho mỗi người suy nghĩ về cách cảm nhận lịch sử và giá trị con người trong dòng chảy của thời gian.
Lịch sử thường được truyền đạt qua sách vở, bài giảng với những mốc thời gian, sự kiện, con số cụ thể. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những dữ kiện khô khan, lịch sử rất dễ trở nên xa cách và khó chạm tới cảm xúc con người. Điều khiến chúng ta thực sự xúc động không phải là ngày tháng hay tên gọi của một trận đánh, mà là số phận, là cuộc đời, là sự hy sinh thầm lặng của những con người đã trực tiếp sống và làm nên lịch sử ấy. Chính con người đã thổi hồn vào lịch sử, khiến lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa.
Những người làm nên lịch sử có thể là những anh hùng được ghi danh, nhưng cũng có thể là những con người vô danh, bình dị. Đó là người lính ngã xuống nơi chiến trường, là người mẹ tiễn con ra trận, là em bé lớn lên giữa bom đạn hay người phụ nữ cần mẫn hậu phương. Khi ta hiểu được những đau thương, mất mát, khát vọng và niềm tin của họ, lịch sử không còn là câu chuyện của quá khứ xa xôi mà trở thành câu chuyện của con người, của trái tim. Chính điều đó tạo nên sự xúc động sâu sắc và bền lâu.
Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và dạy lịch sử. Lịch sử sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được kể bằng những câu chuyện đời người, bằng cảm xúc và sự đồng cảm. Khi hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của bao thế hệ, con người sẽ biết trân trọng hiện tại và sống có trách nhiệm hơn với tương lai. Sự xúc động trước những người làm nên lịch sử chính là nền tảng để hình thành lòng yêu nước chân thành, không sáo rỗng.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc cảm nhận lịch sử qua con người càng trở nên quan trọng. Điều đó giúp mỗi cá nhân nhận ra rằng lịch sử không chỉ thuộc về quá khứ, mà đang tiếp tục được viết nên bằng chính hành động, lựa chọn và trách nhiệm của mình trong hiện tại. Khi biết trân trọng những người đi trước, con người sẽ có động lực sống tốt hơn, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Tóm lại, ý kiến trên đã khẳng định vai trò trung tâm của con người trong lịch sử. Lịch sử trở nên xúc động và có sức lay động không phải bởi những trang sách, mà bởi những con người đã sống, hy sinh và cống hiến cho dân tộc. Nhận thức đúng điều đó giúp chúng ta học lịch sử bằng trái tim, từ đó nuôi dưỡng lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm đối với đất nước.
Câu 1: Truyện ở ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”.
Câu 2: Đoạn trích sử dụng điểm nhìn bên trong, các tình huống truyện và sự kiện đều được đánh giá dưới góc nhìn của người con gái Chi-hon.
Câu 3: Biện pháp nghệ thuật trong đoạn văn là biện pháp lặp cấu trúc “Lúc mẹ...”. Giúp tăng tính liên kết và tạo nhịp điệu cho đoạn văn. Đồng thời nhấn mạnh khoảnh khắc mẹ bị lạc, Chi-hon đang bận rộn sống cuộc đời riêng. Từ đó, cho ta thấy được sự tự trách của nhân vật Chi-hon khi nhớ lại khoảnh khắc mẹ bị lạc
Câu 4: Người mẹ của Chi-hon có phẩm chất mạnh mẽ, kiên quyết kiên cường để bảo vệ cho con của mình, ngay cả khi bà phải đối mặt với một môi trường lạ lẫm; bà cũng vô cùng yêu thương con, muốn con được thử và mặc những món đồ bà thấy thật đẹp. Câu văn cho thấy phẩm chất của mẹ Chi-hon: "Mẹ nắm chặt tay cô, bước đi giữa biển người với phong thái có thể đe dọa cả những tòa nhà lừng lững đang từ trên cao nhìn thẳng xuống, rồi băng qua quảng trường và đợi anh cả dưới chân tháp đồng hồ.
Câu 5: Chi-hon hối tiếc vì đã không thử mặc chiếc váy mẹ chọn, khiến mẹ buồn phiền.
Những hành động vô tâm, dù nhỏ nhặt, đôi khi lại có thể gây tổn thương sâu sắc cho những người thân yêu. Khi chúng ta không chú ý đến cảm xúc của họ, hay thậm chí là bỏ qua những nỗ lực của họ, đó là lúc sự vô tâm làm xói mòn tình cảm gia đình. Đôi khi, những lời nói vô tình, hay sự thờ ơ trong những khoảnh khắc quan trọng cũng đủ để khiến người thân cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu thốn tình cảm. Do đó, mỗi chúng ta cần nhận thức rõ rằng sự quan tâm, chăm sóc và chia sẻ yêu thương là điều cần thiết để giữ gìn mối quan hệ bền chặt và đầy ấm áp.
câu 1: ngôi kể thứ 3
câu 2 : điểm nhìn của con ng thứ 3- chi -hon
thông qua góc nhìn và cảm nhận của nhân vật Chi-hon Lúc mẹ bị xô tuột khỏi tay bố, cô đang cùng đồng nghiệp "Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch
câu 3:
Biện pháp nghệ thuật đối lập
tác dụng:
câu 4:
Phẩm chất chịu thương chịu khó, hy sinh thầm lặng, và tình yêu thương gia đình
Tín hiệu internet chập chờn khiến bố tôi không thể làm việc được
Câu 1.
Hình ảnh làng chài trong bài thơ được khắc họa rất sinh động, tươi sáng và đầy sức sống, đó là một làng quê ven biển bình dị nhưng giàu nhịp điệu lao động, hiện lên qua cảnh dân chài ra khơi và trở về đầy khí thế
Các từ ngữ tiêu biểu, “trời trong gió nhẹ sớm mai hồng” gợi không gian tươi đẹp, thuận lợi, “dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” thể hiện sức lao động khỏe khoắn, “chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” là hình ảnh so sánh làm nổi bật sự mạnh mẽ, “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” thể hiện vẻ đẹp vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, “ồn ào trên bến đỗ” gợi không khí nhộn nhịp khi thuyền về
Giải thích, những từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc đã làm nổi bật vẻ đẹp lao động, thiên nhiên và tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả đối với làng chài
Nắng hè oi ả, trên đồng ruộng, lúa chín vàng óng ả. Giữa khung cảnh ấy, một quả dưa hấu tròn căng, mọng nước nằm lọt thỏm trong vườn cây xanh mát. Chẳng ai ngờ, trái dưa hấu ấy lại ẩn chứa một tâm hồn ấm áp, nhân hậu, mang tên Tích Dưa Hấu.
Câu 1.
Bốn câu thơ đầu có 16 từ
Cách đếm
Hạt gạo làng ta, 4 từ
Có bão tháng bảy, 4 từ
Có mưa tháng ba, 4 từ
Giọt mồ hôi sa, 4 từ
Vậy tổng số từ là 16 từ, giải thích, mỗi dòng thơ đều có 4 từ nên 4 dòng sẽ có 16 từ
Trong câu Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá, từ bơi được dùng hợp lí hơn từ chèo vì bơi gợi động tác đưa thuyền di chuyển một cách nhanh, khỏe, dứt khoát và nhịp nhàng, rất phù hợp với hình ảnh những người trai tráng đầy sức lực ra khơi lao động, ngoài ra từ bơi còn làm cho câu văn trở nên mộc mạc, gần gũi với cách nói quen thuộc của người dân vùng sông nước, còn từ chèo chỉ thiên về một động tác dùng mái chèo nên sắc thái biểu cảm không mạnh bằng, vì vậy dùng từ bơi sẽ giúp câu văn sinh động hơn và thể hiện rõ khí thế lao động khỏe khoắn của con người.
Bài thơ "Buổi chiều đón con" mang đến cho em những cảm xúc thật nhẹ nhàng và trìu mến. Hình ảnh buổi chiều tà với ánh nắng từ từ hạ xuống, hòa quyện cùng không gian yên bình, như một bức tranh cuộc sống ấm áp. Em cảm nhận được tình yêu thương và sự chờ đợi của người mẹ dành cho đứa con, trên gương mặt bà là nụ cười hạnh phúc khi nhìn thấy con trở về. Những dòng thơ giản dị nhưng chứa đựng cả tấm lòng của người mẹ, là đỉnh cao của tình cảm gia đình. Trong tiếng bước chân rộn ràng của con, em thấy hiện lên bao kỷ niệm và ước mơ, là nguồn động lực để con bước tiếp trong cuộc sống. Bài thơ như một bức thư tay gửi gắm tình cảm thiêng liêng, khiến em trân trọng hơn từng giây phút bên gia đình.
Bài thơ "Buổi chiều đón con" mang đến cho em những cảm xúc thật nhẹ nhàng và trìu mến. Hình ảnh buổi chiều tà với ánh nắng từ từ hạ xuống, hòa quyện cùng không gian yên bình, như một bức tranh cuộc sống ấm áp. Em cảm nhận được tình yêu thương và sự chờ đợi của người mẹ dành cho đứa con, trên gương mặt bà là nụ cười hạnh phúc khi nhìn thấy con trở về. Những dòng thơ giản dị nhưng chứa đựng cả tấm lòng của người mẹ, là đỉnh cao của tình cảm gia đình. Trong tiếng bước chân rộn ràng của con, em thấy hiện lên bao kỷ niệm và ước mơ, là nguồn động lực để con bước tiếp trong cuộc sống. Bài thơ như một bức thư tay gửi gắm tình cảm thiêng liêng, khiến em trân trọng hơn từng giây phút bên gia đình.
Đây là bài thơ rất hay và ý nghĩa, giãy bày rất nhiều cung bậc cảm xúc của người viết với ông đồ, cũng như sự tiếc nuối xót xa khi người ta đnag giần quên đi những nét văn hóa xưa, tập tục đẹp của dân tộc Việt Nam.