Cho hình chóp SABCD có đáy ABCD là hình vuông cạnh 4a. AC cắt BD tại O. SA tạo với mặt đáy một góc bằng 60. SH vuông góc với mặt (ABCD) với H là trung điểm
A. Tính d(AB,SD)?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
\(n_{H_2}=\dfrac{2,24}{22,4}=0,1\left(mol\right)\)
PT: \(C_2H_5OH+Na\rightarrow C_2H_5ONa+\dfrac{1}{2}H_2\)
Theo PT: \(n_{C_2H_5OH}=2n_{H_2}=0,2\left(mol\right)\)
\(\Rightarrow m_{C_2H_5OH}=0,2.46=9,2\left(g\right)=m\)
Phương trình phản ứng giữa ancol etylic và Na là:
C2H5OH + Na -> C2H5ONa + 1/2 H2
Theo đó, mỗi mol ancol etylic tác dụng với một mol Na, sinh ra một nửa mol khí H2. Vậy, số mol H2 sinh ra trong phản ứng bằng số mol ancol etylic:
n(H2) = n(C2H5OH)
V = n(C2H5OH) x 22,4 l/mol
Từ đó, ta có:
m gam C2H5OH = một số mol C2H5OH x khối lượng mol C2H5OH
Số mol C2H5OH bằng số mol Na, do đó:
m gam C2H5OH = n(Na) x khối lượng mol C2H5OH
n(H2) = 2,24 mol
Do đó, số mol Na tác dụng với ancol etylic là:
n(Na) = n(H2) = 2,24 mol
Từ đó, suy ra khối lượng ancol etylic ban đầu:
m gam C2H5OH = n(Na) x khối lượng mol C2H5OH = 2,24 mol x 46,07 g/mol = 103,3 g
Vậy, m = 103,3 g.
a)
• CH3OH: Metanol
• CH3CHO: Axit axetic
• HCOOH: Axit formic
• C6H5CH3: Toluene
b)
• C2H5OH: Etanol
• C2H5CHO: Propanal
• CH3COOH: Axit axetic
• C6H5CH3: Toluene
c)
• C2H5OH: Etanol
• CH3COOH: Axit axetic
• C3H5(OH)3: Glycerol
• C6H6: Benzene
d)
• C3H5(OH)3: Glycerol
• CH3COOH: Axit axetic
。 CH3CHO: Axit axetaldehydic
• C6H6: Benzene
c++:
#include <iostream>
using namespace std;
int main(){
int y;
cin >> y;
int i = 1;
int luythua = 1;
while(i<=y){
luythua = luythua *i;
i = i+1;
}
cout << luythua;
}
Viết chương trình đọc tệp a.txt chứa các số nguyên trên một dòng đưa kết quả tích các số ra màn hình
with open("a.txt", "r") as f:
numbers = list(map(int, f.readline().split()))
product = 1
for number in numbers:
product *= number
print("Tích các số trong file a.txt là:", product)
Ta có:
$\triangle ABC$ vuông cân tại $A$ nên:
$AB = AC = a,\ AB \perp AC$.
Lại có:
$SA \perp (ABC)$ nên:
$SA \perp AB,\ SA \perp AC$.
Và:
$SA = a\sqrt{3}$.
Ta có:
$AC \perp AB$ và $AC \perp SA$.
Mà $AB,\ SA$ là hai đường cắt nhau nằm trong mặt phẳng $(SAB)$ nên:
$AC \perp (SAB)$.
Lại có:
$AC \subset (SAC)$.
Suy ra:
$(SAB)\perp (SAC)$.
Vì $\triangle ABC$ vuông cân tại $A$ nên:
$M$ là trung điểm của $BC$.
Suy ra:
$AM \perp BC$.
Lại có:
$SA \perp (ABC)$ nên:
$SA \perp BC$.
Do đó:
$BC \perp SA$ và $BC \perp AM$.
Mà $SA,\ AM$ là hai đường cắt nhau thuộc mặt phẳng $(SAM)$ nên:
$BC \perp (SAM)$.
Suy ra:
$BC \perp SM$.
Vì $SA \perp (ABC)$ nên hình chiếu vuông góc của $SC$ lên $(ABC)$ là $AC$.
Do đó góc giữa $SC$ và $(ABC)$ là:
$\widehat{SCA}$.
Xét tam giác vuông $SAC$ tại $A$:
$SA = a\sqrt{3},\ AC = a$.
Ta có:
$SC=\sqrt{SA^2+AC^2}$
$=\sqrt{3a^2+a^2}$
$=2a$.
Suy ra:
$\sin \widehat{SCA}=\dfrac{SA}{SC}$
$=\dfrac{a\sqrt3}{2a}$
$=\dfrac{\sqrt3}{2}$.
Vậy:
$\widehat{(SC,(ABC))}=60^\circ$.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là thuyết minh.
Câu 2. Hai kiểu nhảy thể thao có trong đoạn trên là "Cú cuộn người kiểu phương Tây" (Western Roll) và "Cú nhảy Fosbury" (Fosbury Flop).
Câu 3. "Cú nhảy Fosbury" là một kỹ thuật vượt thanh xà ngang trong môn nhảy sào, trong đó vận động viên nâng chân lên và búng ngược người để vượt qua thanh xà ngang, thay vì cơ thể song song úp người về phía thanh xà như kỹ thuật "Cú cuộn người kiểu phương Tây".
Câu 4. Thông điệp sâu sắc nhất mà chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện trên là một tinh thần sáng tạo và khát khao vượt qua hạn chế. Dick Fosbury đã tìm ra một cách tiếp cận mới cho môn thể thao nhảy sào, khiến anh có thể vượt qua giới hạn của kỹ thuật truyền thống và đạt được thành tích cao nhất. Điều này cho chúng ta thấy rằng việc tìm kiếm những cách tiếp cận mới, sáng tạo có thể giúp chúng ta vượt qua những hạn chế, thành công trong cuộc sống và phát triển bản thân.
Phong trào Cần Vương là một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn diễn ra trong giai đoạn cuối của triều đại Nguyễn tại Việt Nam. Tuy nhiên, phong trào này đã không thành công và chấm dứt vào cuối thế kỷ 19. Dưới đây là một số nguyên nhân dẫn đến sự kết thúc và vai trò cách mạng của phong trào Cần Vương:
1 Sự chia rẽ và xung đột trong phong trào: Phong trào Cần Vương gặp phải sự chia rẽ và tranh chấp về chiến lược và mục tiêu giữa các tướng lĩnh và nhóm lãnh đạo. Điều này đã giới hạn khả năng hợp tác và gây rối cho nỗ lực cách mạng chung.
2 Quân đội yếu kém: Lực lượng quân đội của phong trào Cần Vương thường thiếu vũ khí hiện đại và đào tạo chuyên nghiệp. Trong khi đó, quân đội Pháp đã được trang bị tốt và có chiến thuật hiệu quả, làm cho việc chống lại Pháp trở nên khó khăn.
3 Sự can thiệp của các thế lực ngoại vi: Pháp đã nhận được sự hỗ trợ từ các thế lực ngoại vi, bao gồm Anh và Trung Quốc. Sự can thiệp này đã làm cho phong trào Cần Vương gặp thêm khó khăn trong cuộc chiến với quân đội Pháp.
4 Thiếu sự ủng hộ của phần đông dân chúng: Mặc dù phong trào Cần Vương đã có sự ủng hộ của một số tầng lớp nhân dân, nhưng không đạt được sự đồng lòng và ủng hộ từ phần đông dân chúng. Điều này làm giảm khả năng chiến đấu và đẩy phong trào vào vị thế yếu hơn.
5 Chiến thuật và sự kiên nhẫn của quân đội Pháp: Quân đội Pháp đã sử dụng chiến thuật hiện đại và kiểm soát các tuyến đường chính, gây khó khăn cho việc di chuyển và cung cấp cho phong trào Cần Vương. Sự kiên nhẫn và sự kiểm soát lâu dài của Pháp đã giúp họ áp đảo và đánh bại phong trào này.
Tổng thể, sự kết thúc của phong trào Cần Vương là kết quả của sự chia rẽ nội bộ, sự yếu kém về quân lực và sự can thiệp từ các thế lực ngoại vi. Mặc dù phong trào này đã không thành công trong cách mạng Việt Nam, nhưng nó đã đánh dấu sự tiến bộ và ý chí độc lập của người Việt trong cuộc chiến chống lại thực dân.