K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

21 tháng 5

Trong văn học Việt Nam thời trung đại, việc vay mượn cốt truyện, ý tưởng, điển cố hoặc nguyên câu chữ từ các tác phẩm khác (đặc biệt là văn học Trung Quốc) là hiện tượng rất phổ biến. Đây là đặc trưng của nền "văn học chữ viết" chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ lý luận văn học phong kiến như tính sùng cổ và mô phạm.

  • Học qua sở thích: Xem phim (có phụ đề), nghe nhạc hoặc xem video YouTube về chủ đề bạn thích bằng tiếng Anh.
  • Dùng App: Tải các ứng dụng như Duolingo (cho người mới), ELSA Speak (luyện phát âm) hoặc Memrise (học từ vựng).
  • Học từ vựng theo cụm: Thay vì học từ đơn lẻ, hãy học cả câu hoặc cụm từ để biết cách dùng luôn.
  • Luyện nói mỗi ngày: Tập nói trước gương hoặc dùng các app giao chuyện với người nước ngoài như HelloTalk.
  • Kiên trì: Mỗi ngày chỉ cần 15-30 phút nhưng đều đặn sẽ tốt hơn là học dồn vào một ngày.
26 tháng 6
1. Điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa ThụcTheo nhiều tác giả nghiên cứu về lịch sử và văn hóa, điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ dừng lại ở việc dạy học miễn phí, mà quan trọng nhất là cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hóa. Cụ thể:
  • Thực nghiệp và thực học: Thay thế lối học từ chương, cử tử bằng kiến thức thực dụng, khoa học và kinh doanh.
  • Truyền bá chữ Quốc ngữ: Coi chữ Quốc ngữ là phương tiện sắc bén nhất để khai dân trí, phổ biến tri thức mới đến mọi tầng lớp nhân dân.
2. Các dữ liệu tác giả sử dụng để làm rõĐể làm nổi bật tầm quan trọng này, các dữ liệu thường được sử dụng bao gồm:
  • Chương trình giảng dạy: Các môn học mới như lịch sử dân tộc, địa lý, khoa học thường thức, và các bài diễn thuyết về kinh tế.
  • Các ấn phẩm văn thơ: Sử dụng các bài thơ cổ động như "Bài ca học chữ Quốc ngữ", "Thiết tiền ca" nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức tự cường.
  • Hoạt động xã hội: Dữ liệu về việc mở rộng quy mô từ một lớp học thành một trung tâm văn hóa, tổ chức các buổi diễn thuyết công cộng thu hút đông đảo người nghe từ nhiều tầng lớp.
  • Sự hưởng ứng của nhân dân: Số lượng học sinh tăng nhanh và sức lan tỏa của phong trào ra các tỉnh lân cận là minh chứng cho hiệu quả của tư tưởng mới.
20 tháng 5

Độ pH (potential of Hydrogen) là chỉ số đo mức độ hoạt động của các ion H+ trong dung dịch, qua đó đặc trưng cho tính axit hoặc bazơ của dung dịch đó.

Dung dịch có pH = 2 mang tính axit mạnh.

20 tháng 5

\(Zn+2HCl\rightarrow ZnCl_{2}+H_{2}\uparrow \)

20 tháng 5

Vì Na là kim loại kiềm nhóm IA có tính khử mạnh, dễ bị oxi hóa khi tiếp xúc với không khí

20 tháng 5

Kim loại natri (Na) là một kim loại kiềm có tính khử rất mạnh, dễ phản ứng với khí oxi (\(O_{2}\)) và hơi nước (\(H_{2}O\)) trong không khí. Việc ngâm natri chìm trong dầu hỏa giúp cách ly kim loại này khỏi các tác nhân trên, ngăn chặn nguy cơ cháy nổ nguy hiểm.

31 tháng 5

Đám Mây Nhỏ Tốt Bụng

Đám mây nhỏ đang dạo chơi trên bầu trời xanh thì chợt nhìn xuống hạ giới. Nó thấy ruộng đồng nứt nẻ, cây cối héo khô, ao hồ cạn nước, còn muông thú thì mệt mỏi vì khát. Nhìn cảnh tượng ấy, đám mây nhỏ vô cùng xót xa và tự nhủ: “Mình phải làm điều gì đó để giúp mọi người.”

Nghĩ vậy, đám mây nhỏ vội bay đi tìm các bạn mây khác. Nó nói:

- Các bạn ơi, dưới kia đất đai đang khô hạn, cây cối và con người rất cần nước. Chúng ta hãy cùng nhau tạo thành cơn mưa nhé!

Nghe đám mây nhỏ nói, những đám mây khác liền kéo đến. Chúng tụ lại thành một đám mây lớn, che mát cả bầu trời. Rồi từng giọt mưa trong veo bắt đầu rơi xuống mặt đất.

Mưa rơi tí tách trên mái nhà, mưa thấm vào những thửa ruộng khô cằn. Cây cối như bừng tỉnh, vươn những chiếc lá xanh non đón nước. Những dòng suối nhỏ bắt đầu róc rách chảy, chim chóc cất tiếng hót vui mừng. Bác nông dân nhìn cánh đồng được tưới mát thì mỉm cười hạnh phúc.

Sau cơn mưa, bầu trời trong xanh trở lại. Đám mây nhỏ tuy đã tan đi một phần, nhưng trong lòng nó rất vui. Nó hiểu rằng giúp đỡ người khác là một việc làm thật đẹp. Từ đó, mỗi khi thấy nơi nào khô hạn, đám mây nhỏ lại rủ các bạn cùng mang mưa đến cho muôn loài.

24 tháng 5

Nitơ N2 khá trơ ở điều kiện thường, nhưng ở điều kiện thích hợp có thể tác dụng với kim loại, hiđro và oxi. Amoniac NH3 có tính bazơ yếu và tính khử, có thể tác dụng với nước, axit và oxi.

20 tháng 5
1. Về bản chất liên kết
  • Liên kết ion: Là lực hút tĩnh điện giữa các ion mang điện tích trái dấu (cation mang điện tích dương và anion mang điện tích âm). Xảy ra sự chuyển hẳn electron từ nguyên tử này sang nguyên tử khác.
  • Liên kết cộng hóa trị: Được hình thành bằng việc dùng chung một hay nhiều cặp electron giữa các nguyên tử để đạt cấu hình electron bền vững.
2. Về điều kiện hình thành
  • Liên kết ion: Thường hình thành giữa các nguyên tử có sự chênh lệch lớn về độ âm điện (thường là giữa kim loại điển hình và phi kim điển hình).
    • Ví dụ: (NaCl) (Kim loại (Na) nhường electron cho phi kim (Cl).
  • Liên kết cộng hóa trị: Thường hình thành giữa các nguyên tử có độ âm điện tương đương hoặc không chênh lệch nhiều (chủ yếu giữa các phi kim với nhau).
3. Về tính chất của hợp chất
  • Hợp chất ion:
    • Trạng thái: Tồn tại ở thể rắn, cứng, có cấu trúc tinh thể ở điều kiện thường.
    • Nhiệt độ nóng chảy/sôi: Thường rất cao và cần nhiều năng lượng để phá vỡ mạng lưới ion.
    • Tính tan: Dễ tan trong nước tạo thành dung dịch phân ly thành các ion tự do.
    • Tính dẫn điện: Dẫn điện khi ở trạng thái nóng chảy hoặc hòa tan trong nước (do có các ion tự do di chuyển); không dẫn điện ở trạng thái rắn.
  • Hợp chất cộng hóa trị:
    • Trạng thái: Đa dạng, có thể là chất khí, lỏng hoặc rắn ở điều kiện thường.
    • Nhiệt độ nóng chảy/sôi: Thường thấp hơn nhiều so với hợp chất ion.
    • Tính tan: Hợp chất cộng hóa trị không phân cực thường tan tốt trong các dung môi hữu cơ không phân cực.
    • Tính dẫn điện: Hầu hết không dẫn điện ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí hay khi hòa tan trong nước) vì không chứa các hạt mang điện tự do.
20 tháng 5

- Theo mô hình hiện đại, nguyên tử gồm hạt nhân mang điện tích dương ở trung tâm và lớp vỏ electron mang điện tích âm chuyển động rất nhanh xung quanh không theo những quỹ đạo xác định. Sự chuyển động này tạo nên một đám mây electron, trong đó vùng không gian xung quanh hạt nhân có xác suất tìm thấy electron lớn nhất (khoảng 90%) được gọi là orbital nguyên tử (kí hiệu là AO).

Phân bố electron theo các lớp Các electron có mức năng lượng gần bằng nhau được xếp vào cùng một lớp. Thứ tự các lớp tính từ hạt nhân ra ngoài được đánh số bằng số nguyên dương \(n\) (\(n = 1 , 2 , 3 , 4...\)) và gọi tên bằng các chữ cái in hoa: [1, 2]

  • Lớp 1 (n = 1): Lớp K (gần hạt nhân nhất, năng lượng thấp nhất)
  • Lớp 2 (n = 2): Lớp L
  • Lớp 3 (n = 3): Lớp M
  • Lớp 4 (n = 4): Lớp NPhân bố electron theo các phân lớp

Mỗi lớp electron lại được chia thành các phân lớp bao gồm các electron có mức năng lượng bằng nhau. Các phân lớp được kí hiệu bằng các chữ cái viết thường theo thứ tự: s, p, d, f. [1]

  • Số phân lớp: Số phân lớp trong một lớp bằng đúng số thứ tự \(n\) của lớp đó (áp dụng với 4 lớp đầu).
    • Lớp K (n=1): Có 1 phân lớp (1s)
    • Lớp L (n=2): Có 2 phân lớp (2s, 2p)
    • Lớp M (n=3): Có 3 phân lớp (3s, 3p, 3d
    • Lớp N (n=4): Có 4 phân lớp (4s, 4p, 4d, 4f)