viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc thiện nguyện theo SGK Ngữ Văn 7 theo chương trình GDPT 2018
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Ong vàng bay giữa nắng vui
Theo chân mặt trời khắp núi khắp đồi.
Ong mang tiếng hát trong trời
Tìm hoa lấy mật cho đời ngọt thơm
- Đề tài: Văn Nguyên Hồng tập trung khắc họa thế giới của những con người ở đáy xã hội: cậu bé đánh giày, phu xe, cô gái bán hoa, hay những người phụ nữ nghèo khổ, lam lũ. Ông là nhà văn tiên phong trong việc đưa những hình ảnh này vào văn học một cách đầy nhân văn.
- Tác phẩm tiêu biểu: Nổi bật nhất phải kể đến tiểu thuyết "Bỉ vỏ" (1938), một tác phẩm xuất sắc phơi bày hiện thực xã hội thối nát và số phận bi kịch của con người. Tập hồi ký "Những ngày thơ ấu" (1940), đặc biệt với đoạn trích "Trong lòng mẹ" (được học trong chương trình Ngữ văn), đã trở thành kinh điển, lay động hàng triệu trái tim độc giả bởi tình mẫu tử thiêng liêng và nỗi đau của một đứa trẻ thiếu thốn tình thương. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tiếp tục đóng góp nhiều tác phẩm quan trọng khác như bộ tiểu thuyết sử thi "Cửa biển".
- Phong cách nghệ thuật: Nét đặc sắc trong văn Nguyên Hồng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và trữ tình. Ngòi bút của ông chân thực, sắc sảo nhưng luôn dạt dào cảm xúc, thấm đẫm tình người, thể hiện một trái tim nhân hậu và lòng căm thù mãnh liệt đối với bất công xã hội.
---------mình chỉ giúp đến đây thôi còn lại tự làm--------------
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Nguyên Hồng nổi lên như một hiện tượng đặc biệt với ngòi bút nhân đạo cao cả, được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ, trẻ em và những người cùng khổ. Nhà văn Nguyên Hồng sinh năm 1918 tại Nam Định. Ông có tuổi thơ thiếu thốn tình cảm và vật chất, sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh bất hạnh. Ông mồ côi cha từ nhỏ, phải sống với những người cô ruột cay nghiệt. Ngay từ khi còn bé, Nguyên Hồng đã phải lưu lạc, bôn ba cùng mẹ đi khắp nơi để bán hàng kiếm sống. Ông bắt đầu sự nghiệp viết văn của mình vào năm 1936 với tác phẩm "Linh hồn". Năm 1937, ông được nhiều người biết đến với tác phẩm được xem như đỉnh cao sự nghiệp là "Bỉ vỏ". Từ năm 1936 đến năm 1939, Nguyên Hồng tham gia kháng chiến và gặp rất nhiều những biến động trong cuộc sống. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng mà ông viết là "Núi rừng Yên Thế". Nguyên Hồng mất năm 1982, đến năm 1996, ông vinh dự được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.Nhiều độc giả đã từng nhận định Nguyên Hồng như một nhà văn của những người cùng khổ và hầu hết những tác phẩm ông viết đều thấm đượm tinh thần nhân văn, chất nhân đạo chan chứa trên đầu bút. Thế giới nhân vật trong những tác phẩm của Nguyên Hồng là những con người nghèo khổ, bất hạnh, cùng cực, vấp phải nhiều những biến cố trong cuộc sống. Thế nhưng, đằng sau những hoàn cảnh ấy lại là những con người với tâm hồn cao đẹp, phẩm chất cao đẹp và sống một cuộc đời cao đẹp. Nguyên Hồng khai thác chất liệu từ hiện thực xã hội và đem nó vào những trang văn của mình một cách hết sức dung dị, đời thường. Cách viết của ông cũng vô cùng chân thực, bình dị và rất đời. Những trang văn của tác giả cứ thế đi sâu vào lòng người đọc với những cảm xúc rất đỗi tự nhiên. Tác giả Nguyên Hồng cùng với những tác phẩm của mình sẽ còn mãi trong tâm trí của người đọc.
Sau khi đọc "Nói với con" của Y Phương, em cảm nhận được tình yêu thương bao la và niềm tự hào sâu sắc của người cha dành cho con. Bài thơ như một lời nhắn nhủ dịu dàng nhưng đầy sức mạnh, gợi lên hình ảnh quê hương mộc mạc, nơi có những con người chân chất, giàu nghị lực và luôn vươn lên trong cuộc sống. Em ấn tượng với cách tác giả gợi tả tình cảm gia đình ấm áp, gắn bó, đồng thời khơi dậy trong lòng con niềm tin, ý chí và lòng biết ơn cội nguồn. Đọc xong, em thấy mình thêm yêu quê hương, trân trọng công lao cha mẹ và tự nhủ sẽ cố gắng sống tốt, giữ gìn những phẩm chất đẹp đẽ mà cha ông đã truyền lại.
Luận đề của văn bản "Nước Đại Việt ta" là tư tưởng nhân nghĩa vì dân, vì nước. Luận điểm chính là Đại Việt là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng để chứng minh luận điểm là sự tồn tại của một nền văn hiến lâu đời, một lãnh thổ riêng biệt, phong tục tập quán riêng và lịch sử chống giặc ngoại xâm oanh liệt. kb với mik nhoaaa:))))
Chi tiết hơn nè: Luận đề
- Tư tưởng nhân nghĩa vì dân, vì nước, được thể hiện ngay từ câu đầu tiên của bài.
- Đại Việt là một quốc gia độc lập và có chủ quyền.
- Đại Việt là một nước văn hiến và có lịch sử lâu đời.
- Đại Việt có cương vực, lãnh thổ riêng, phong tục riêng.
- Đại Việt có nhân tài, hào kiệt đời nào cũng có.
- Sử sách ghi lại các triều đại: Triệu, Đinh, Lý, Trần đã gây dựng nền độc lập, xưng đế ngang hàng với Trung Hoa.
- Chiến thắng oanh liệt trong lịch sử: Cụ thể như chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, chiến thắng của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, và các chiến thắng của nhà Trần trước quân Nguyên-Mông trên sông Bạch Đằng.
- Sự phân chia lãnh thổ: "Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam khác biệt".
- Uống nước nhớ nguồn
- Ăn cây táo rào cây sung
- Kiến tha lâu cũng đầy tổ
- Của phi nghĩa có giàu đâu, ở cho ngay thẳng giàu lâu mới bền
- Trên con đường của những kẻ thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng
- Nghị lực và kiên trì sẽ chiến thắng mọi khó khăn
- Ăn ngay nói thật
Mỗi người chúng ta đều mang trong mình một trái tim biết yêu thương. Tình yêu thương ấy không chỉ dành cho gia đình, bạn bè, mà còn lan tỏa đến những mảnh đời kém may mắn hơn trong cộng đồng. Hoạt động thiện nguyện chính là minh chứng rõ nét nhất cho vẻ đẹp của lòng nhân ái đó. Trong vô vàn những hoạt động ý nghĩa, hình ảnh những con người thầm lặng gieo mầm hy vọng luôn in đậm trong tâm trí tôi.
Tôi còn nhớ như in chuyến đi tình nguyện cùng đoàn thanh niên xã đến thăm và tặng quà cho các em nhỏ vùng cao vào một ngày cuối năm. Con đường đến bản làng thật gian nan, phải vượt qua bao đèo dốc gập ghềnh, hiểm trở. Cảnh vật hoang sơ, nhưng chính sự nghèo khó hiện rõ trên từng mái nhà tạm bợ, trong ánh mắt ngây thơ, thiếu thốn của các em đã chạm đến trái tim tôi.
Điều khiến tôi xúc động nhất không phải là những món quà vật chất, mà là hình ảnh chị trưởng đoàn. Chị có nụ cười hiền hậu, luôn ân cần hỏi han, dỗ dành từng em nhỏ. Chị không ngại đường sá xa xôi, không ngại vất vả, chỉ với một mong muốn giản dị là mang đến chút hơi ấm, niềm vui cho các em trong dịp Tết đến, xuân về. Khi trao tận tay những chiếc áo ấm, quyển sách mới, ánh mắt chị lấp lánh niềm hạnh phúc. Đối với tôi, khoảnh khắc ấy, chị đẹp hơn bất cứ ai, một vẻ đẹp toát ra từ sự chân thành, lòng trắc ẩn.
Chứng kiến những việc làm ấy, tôi cảm thấy lòng mình ấm lại. Tôi nhận ra rằng, hạnh phúc không phải là những thứ xa xỉ, mà đôi khi chỉ đơn giản là được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của một em bé vùng cao khi nhận chiếc kẹo, hay cảm giác mình vừa làm được một điều có ích cho cộng đồng. Hoạt động thiện nguyện giúp tôi trưởng thành hơn, biết sống tự lập, có trách nhiệm với bản thân và biết thấu hiểu, yêu thương những người xung quanh.
Kết thúc chuyến đi, hình ảnh chị trưởng đoàn và những em nhỏ vẫn vẹn nguyên trong tâm trí tôi. Tôi thầm nhủ với lòng mình sẽ cố gắng học tập thật tốt và tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện hơn nữa. Tôi tin rằng, khi mỗi người chúng ta cùng chung tay góp sức, dù nhỏ bé, xã hội sẽ trở nên đoàn kết, nhân ái và tốt đẹp hơn. Tình người sẽ luôn là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn, xua tan đi sự lạnh giá và nghèo đói.