K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

14 tháng 11 2025

Câu 1. (2,0 điểm – khoảng 200 chữ)

Phân tích nhân vật Đan Thiềm

Trong đoạn trích, Đan Thiềm hiện lên là một nhân vật giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tài năng và có tấm lòng vượt lên hoàn cảnh cung cấm khắc nghiệt. Dù bản thân là cung nữ bị giam hãm suốt hai mươi năm, mang nỗi “cung oán” dằng dặc, Đan Thiềm vẫn giữ được sự tinh tế và lòng cảm thông đối với những người tài hoa bị vùi dập. Khi gặp Vũ Như Tô, bà lập tức nhận ra nỗi khổ của “người đồng bệnh” – những con người có tài mà không được dùng, có tâm mà không được trọng. Sự chia sẻ chân thành cùng tiếng lòng thấu hiểu cho thấy Đan Thiềm là người sâu sắc, biết nhìn xa hơn những câu chuyện cá nhân để nghĩ cho vận mệnh quốc gia. Quan trọng hơn, bà là người có “con mắt xanh” hiếm có trong xã hội phong kiến suy tàn: bà không chỉ thương tài mà còn biết khơi dậy, nâng đỡ tài năng để thực hiện những giá trị lớn lao cho đất nước. Tư tưởng thuyết phục Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho thấy Đan Thiềm là người có lý tưởng thẩm mỹ, có khát vọng làm đẹp cho non sông, vượt lên cách nhìn thiển cận về việc phục vụ bạo chúa. Vì thế, Đan Thiềm là điểm sáng nhân văn của tác phẩm, đại diện cho khát vọng trân trọng và bảo vệ hiền tài.


Câu 2. (4,0 điểm – khoảng 600 chữ)

Nghị luận: Mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia

Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, ta lại được nhắc nhở về một chân lý có giá trị bền vững: hiền tài luôn giữ vai trò đặc biệt đối với sự hưng thịnh của đất nước. Bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa bị vùi lấp trong xã hội phong kiến không chỉ là nỗi đau của một cá nhân, mà còn là sự suy yếu chung của quốc gia khi không biết trọng dụng người tài. Bởi vậy, việc nhận thức đúng đắn và trân trọng hiền tài là điều kiện tiên quyết để xây dựng sự nghiệp lớn lao của dân tộc.

Hiền tài trước hết là những con người có trí tuệ, bản lĩnh và tấm lòng hướng về lợi ích chung. Họ là nguồn lực đặc biệt – không phải nguồn lực vật chất mà là nguồn lực tinh thần, sáng tạo và ý chí. Một đất nước muốn mạnh, muốn phát triển, nhất thiết phải dựa vào tầng lớp tinh hoa này. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh điều ấy: thời Lý – Trần rực rỡ nhờ có các bậc hiền tài như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo; thời Lê Thánh Tông thịnh trị nhờ trọng dụng những trí thức như Nguyễn Trãi, Thân Nhân Trung. Không phải ngẫu nhiên mà Thân Nhân Trung đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Nguyên khí thịnh thì quốc gia mạnh, nguyên khí suy thì đất nước yếu. Đó là quy luật không bao giờ thay đổi.

Tuy nhiên, hiền tài chỉ có thể cống hiến khi họ được đặt vào đúng môi trường phát triển. Câu chuyện của Vũ Như Tô là một bài học đắt giá: chế độ phong kiến thối nát đã làm cho người tài trở thành tội nhân, chà đạp họ bằng gông cùm và nghi kỵ. Người nghệ sĩ, vốn mang trong mình khát vọng sáng tạo, rơi vào bế tắc vì bị cản trở bởi những thế lực tăm tối. Khi quốc gia không biết tôn trọng người tài, thì tài năng sẽ héo tàn, sự nghiệp chung sẽ lụi bại. Đó chính là nguyên nhân khiến đất nước nghèo nàn, nghệ thuật trì trệ, công trình kiến trúc không thể sánh với các quốc gia xung quanh. Bi kịch của Vũ Như Tô cũng là cảnh tỉnh: lãng phí hiền tài là tội lỗi với tương lai dân tộc.

Ngày nay, mối quan hệ giữa hiền tài và đất nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cạnh tranh không chỉ bằng tài nguyên mà bằng trí tuệ, sáng tạo, khoa học công nghệ, việc thu hút và bồi dưỡng nhân tài trở thành trách nhiệm sống còn. Một quốc gia muốn tiến bộ phải tạo môi trường công bằng, minh bạch, trọng dụng đúng người. Đồng thời, mỗi người trẻ cũng cần ý thức nuôi dưỡng tài năng của bản thân để góp phần vào sự phát triển chung.

Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, ta hiểu rằng hiền tài chỉ có thể phát huy khi được đặt đúng chỗ. Một đất nước biết trọng dụng hiền tài là đất nước có tương lai vững mạnh. Vì vậy, phát hiện – bồi dưỡng – sử dụng – bảo vệ người tài chính là con đường ngắn nhất để xây dựng một quốc gia phồn thịnh, văn minh và trường tồn.

23 tháng 12 2025

Câu 1:

Trong đoạn trích, Đan Thiềm hiện lên là một nhân vật có tâm hồn cao thượng và tư tưởng sắc sảo. Bà không chỉ là một cung nữ có số phận bất hạnh, bị giam hãm trong cung cấm suốt 20 năm, mà còn là người có khả năng thấu thị tài năng và lòng người. Sự "đồng bệnh" mà Vũ Như Tô nhận ra ở bà chính là sự đồng điệu của những tâm hồn nghệ sĩ bị vùi dập bởi thời thế. Đan Thiềm hiện thân cho tấm lòng "biệt nhãn liên tài" (con mắt tinh đời trân trọng người tài). Bà sẵn sàng gạt bỏ những định kiến về một "bạo chúa" để khuyên Vũ Như Tô lợi dụng thời cơ xây dựng Cửu Trùng Đài. Với Đan Thiềm, tài năng không nên để "mục nát với cỏ cây" mà phải đem dâng hiến cho non sông để khẳng định vị thế dân tộc trước thế giới. Qua lời khuyên can đầy quyết đoán: "Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả... hậu thế sẽ xét công cho ông", Đan Thiềm không chỉ cứu rỗi tâm hồn bế tắc của người nghệ sĩ mà còn thể hiện một khát vọng lớn lao về sự bất tử của cái đẹp. Bà chính là chất xúc tác quan trọng, đưa Vũ Như Tô từ một kẻ sĩ cứng nhắc trở thành một nghệ sĩ dám dấn thân vì lý tưởng nghệ thuật vĩ đại.

Câu 2:

Thân nhân Trung đã từng khẳng định: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Qua câu chuyện của kiến trúc sư Vũ Như Tô và lời khuyên của Đan Thiềm, ta càng thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa người có tài và sự hưng thịnh của một dân tộc.

Hiền tài là những người có cả tài năng xuất chúng và nhân cách cao đẹp, là lực lượng nòng cốt dẫn dắt sự phát triển của xã hội. Trong văn bản, Vũ Như Tô đại diện cho những người có "thiên tư đặc biệt", có thể tạo ra những công trình "tranh tinh xảo với hóa công". Khi hiền tài được trọng dụng, quốc gia sẽ có những bước tiến vượt bậc về văn hóa, kinh tế và vị thế. Như Đan Thiềm đã nói, một công trình vĩ đại có thể giúp nhân dân hãnh diện, khiến quốc gia láng giềng phải kiêng dè.Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ thực sự bền vững khi có sự gặp gỡ giữa khát vọng cá nhân và lợi ích quốc gia. Nếu người tài bị vùi dập, không có đất dụng võ như thực trạng "nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp" mà Vũ Như Tô trăn trở, thì tài năng ấy sẽ tàn lụi, dẫn đến sự suy thoái của cả một nền kiến trúc, văn hóa. Một quốc gia không biết trân trọng người tài thì "nhân tài nhiều sao được", và hệ quả là sự lạc hậu so với thế giới.Ngược lại, người tài cũng cần có tầm nhìn chiến lược. Vũ Như Tô ban đầu chỉ quan tâm đến tiết tháo cá nhân, không muốn phục vụ kẻ xấu. Nhưng Đan Thiềm đã chỉ ra một hướng đi khác: dùng quyền lực và tiền bạc của triều đình để thực hiện "cái mộng lớn" cho muôn đời sau. Điều này dạy cho chúng ta rằng, hiền tài cần biết vượt lên trên những tiểu tiết để hướng tới mục tiêu phụng sự quốc gia bền vững.Trong bối cảnh hiện đại, mối quan hệ này càng trở nên sống động. Quốc gia cần có những chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc tự do để người tài cống hiến. Đồng thời, mỗi cá nhân ưu tú cần ý thức được trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Tài năng không chỉ là tài sản riêng mà là nguồn lực để quốc gia vươn tầm quốc tế.

hiền tài và sự nghiệp quốc gia là hai yếu tố không thể tách rời. Một đất nước muốn hùng cường phải biết vun đắp và sử dụng "nguyên khí" một cách đúng đắn. Bài học từ Vũ Như Tô vẫn còn nguyên giá trị: Đừng để tài hoa trở thành bi kịch chỉ vì thiếu đi sự thấu hiểu giữa người cầm quyền và người nghệ sĩ


(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: [Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.] VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh. ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người. VŨ NHƯ TÔ –...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]

VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

[…]

ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]

VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]

VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. 

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?

16
14 tháng 11 2025

cáhch học giỏi

14 tháng 11 2025
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì? Sự việc chính trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm [1]. Trong cuộc nói chuyện, Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô nên sử dụng tài năng của mình để xây Cửu Trùng Đài, bất chấp bối cảnh vua chúa hôn quân và sự khổ nhục mà ông đã trải qua [1]. Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng.
  • Chỉ dẫn sân khấu: Các cụm từ được đặt trong ngoặc đơn, in nghiêng (nếu có), ví dụ: (Chàng rơm rớm nước mắt.) và các từ đặt trước lời thoại để chỉ nhân vật đang nói, ví dụ: VŨ NHƯ TÔĐAN THIỀM [1].
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc hình dung được hành động, thái độ, và cảm xúc của nhân vật trong lúc nói chuyện, làm cho nội dung kịch trở nên sinh động và dễ hiểu hơn [1, 2].
    • Xác định rõ ràng người đang nói trong đoạn đối thoại, tránh nhầm lẫn [1].
    • Thể hiện rõ bối cảnh, trạng thái của nhân vật, ví dụ như Vũ Như Tô đang tiều tụy, đau khổ (Chàng rơm rớm nước mắt.), từ đó làm nổi bật bi kịch của người tài bị đối xử bất công [1].

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm? Từ “đồng bệnh” ở đây cho thấy Đan Thiềm và Vũ Như Tô có một sự tương đồng sâu sắc trong cảnh ngộ [1]. Ý nghĩa của nó là:
  • Sự đồng cảm và thấu hiểu: Đan Thiềm, với nhan sắc của mình, cũng bị mắc kẹt trong chốn cung đình, bị giam cầm và lãng phí tuổi xuân. Nàng hiểu được nỗi đau khổ của người có tài năng bị chèn ép, không được "thi thố", giống như Vũ Như Tô [1].
  • Điểm tựa tinh thần: Sự thấu hiểu này giúp Đan Thiềm trở thành tri kỷ của Vũ Như Tô, là người duy nhất thực sự hiểu và chia sẻ nỗi đau với ông trong bối cảnh xung quanh toàn là kẻ thù và sự nghi kị [1].

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.
  • Xung đột: Xung đột chính trong văn bản là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai nhân vật, mà cụ thể là xung đột giữa quan điểm của Vũ Như Tô và Đan Thiềm về việc sử dụng tài năng [1].
  • Ý nghĩa:
    • Vũ Như Tô: Ban đầu, ông từ chối xây đài vì không muốn tài năng của mình phục vụ cho một "bạo chúa" và trở thành "bia miệng cho người đời" [1].
    • Đan Thiềm: Nàng thuyết phục Vũ Như Tô phải "lợi dụng cơ hội" để xây nên một công trình vĩ đại, vì "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Ý nghĩa của xung đột: Xung đột này làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ trong một xã hội không trọng tài năng, phải đứng trước sự lựa chọn giữa việc giữ gìn phẩm giá (không xây đài) và việc hiện thực hóa khát vọng nghệ thuật (xây đài) [1].

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?
  • Quyết định ban đầu: Ban đầu, Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài và thà chịu chết [1]. Ông cho rằng việc phục vụ "hôn quân", "bạo chúa" là một việc làm "ô uế" [1]. Ông cũng muốn "trả lại tài cho trời đất" vì cảm thấy tài năng không được trọng dụng [1].
  • Lí do thay đổi quyết định: Sau khi nghe Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô thay đổi vì:
    • Cái đẹp vĩnh hằng: Đan Thiềm đã giúp ông nhìn ra rằng những việc làm của hôn quân, cung nữ chỉ là "tiểu tiết" và rồi sẽ "mất đi" [1]. Còn "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Khát vọng nghệ thuật: Lời khuyên của Đan Thiềm đã đánh thức khát vọng lớn lao nhất của một người nghệ sĩ: để lại một công trình kiến trúc vĩ đại cho hậu thế, làm cho "đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian" [1].
    • Tìm thấy tri âm: Đan Thiềm là người đầu tiên thực sự hiểu và trân trọng tài năng của Vũ Như Tô. Lời khuyên của nàng đã "khai" cho "cái óc u mê" của ông, giúp ông tìm thấy một lối thoát cho khát vọng nghệ thuật của mình [1].

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bản sắc văn hoá dân tộc chính là "hồn cốt", là những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, hun đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một quốc gia. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá lại càng trở nên cấp thiết và mang ý nghĩa sống còn. Khi thế giới trở nên "phẳng" và các nền văn hoá có sự giao thoa mạnh mẽ, nếu không giữ vững bản sắc, chúng ta rất dễ bị "hòa tan", đánh mất đi chính mình. Bản sắc dân tộc chính là "thẻ căn cước" để phân biệt dân tộc ta với các quốc gia khác, là "bộ lọc" thông minh giúp ta "hòa nhập mà không hòa tan". Khi có một nền tảng văn hoá vững chắc, ta mới đủ tự tin để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngoại lai, độc hại. Hơn nữa, đây còn là nguồn sức mạnh mềm, là niềm tự hào, là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai.

13 tháng 11 2025

Câu 2:

Nghệ thuật sinh ra là để làm đẹp cho tâm hồn con người, và mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong mình một sức hấp dẫn riêng biệt, một thông điệp thẩm mỹ sâu sắc. Trong vô vàn những tác phẩm đã từng đi qua tâm trí, bài hát "Để Mị nói cho mà nghe" của ca sĩ Hoàng Thùy Linh và nhóm sáng tác DTAP đã để lại trong tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ đến từ giai điệu bắt tai, mà còn ở cách "làm mới" những giá trị văn học truyền thống một cách đầy sáng tạo và nhân văn.


Ngay từ khi ra mắt, "Để Mị nói cho mà nghe" đã tạo nên một hiện tượng, và sức hút đầu tiên phải kể đến chính là âm nhạc. Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại Pop, World Music hiện đại với những âm hưởng dân gian đặc trưng của vùng núi Tây Bắc. Tiếng sáo, tiếng khèn được phối một cách nhịp nhàng trên nền nhạc điện tử sôi động, tạo nên một tổng thể vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Giai điệu bài hát cực kỳ bắt tai, thôi thúc người nghe phải nhún nhảy theo. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tác phẩm tiếp cận nhanh chóng và mạnh mẽ đến giới trẻ, những người luôn tìm kiếm sự mới mẻ trong âm nhạc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở âm nhạc, "Để Mị nói cho mà nghe" sẽ khó lòng tạo được sức sống lâu bền đến vậy. Giá trị lớn nhất và cũng là sức hấp dẫn cốt lõi của tác phẩm nằm ở phần nội dung và hình ảnh. Lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, bài hát không kể lại bi kịch của Mị, mà là "viết tiếp" một khao khát, một hành trình "giải phóng" cho Mị. Nhân vật Mị trong bài hát không còn cam chịu, thụ động nữa; cô đã dám cất lên tiếng nói của mình ("Để Mị nói cho mà nghe"), dám vứt bỏ những ràng buộc của hủ tục ("Bao nhiêu con trâu, con bò/ Đổi lại một bó mỡ, một con lợn/ Mị cũng không cần"), để được sống với khát khao tự do, được "đi chơi" trong đêm tình mùa xuân.

Không chỉ giải phóng cho Mị, video âm nhạc (MV) của bài hát còn xây dựng cả một "vũ trụ văn học" khi đưa vào hình ảnh của Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ... Tất cả họ đều được "Mị" kéo ra khỏi số phận bi thảm của mình để cùng hòa vào một lễ hội của niềm vui và sự tự do. Đây là một góc nhìn vô cùng hiện đại và nhân văn. Nó không phủ nhận hiện thực tàn khốc mà các nhà văn đã miêu tả, nhưng nó cho thấy một tinh thần lạc quan, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng.


Cuối cùng, sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" còn đến từ việc tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt. Toàn bộ MV là một bức tranh rực rỡ sắc màu của thổ cẩm, của những điệu múa, những phiên chợ vùng cao. Tác phẩm đã thành công trong việc đưa chất liệu dân gian vào nghệ thuật đương đại, khiến văn hoá truyền thống trở nên gần gũi, "thời thượng" hơn trong mắt người trẻ. Nó chứng minh rằng, văn hoá dân tộc là một kho báu vô tận cho sáng tạo, chỉ cần chúng ta biết cách khai thác.


Sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" là sự cộng hưởng của giai điệu hiện đại, nội dung nhân văn và những giá trị văn hoá sâu sắc. Tác phẩm đã thành công khi vừa đáp ứng thị hiếu của công chúng, vừa thực hiện được sứ mệnh của nghệ thuật: khơi gợi những cảm xúc đẹp và lan toả niềm tự hào về văn hoá dân tộc.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:CHIẾC CHÌA KHOÁ VÀNG ĐỂ HỘI NHẬP Hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam qua thành công của Đức Phúc tại sân chơi quốc tế Intervision 2025. Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025 (Nguồn: FBNV) Intervision 2025 khép lại với ngôi vị quán quân thuộc về ca sĩ Đức Phúc − một trong những gương mặt...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

CHIẾC CHÌA KHOÁ VÀNG ĐỂ HỘI NHẬP

Hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam qua thành công của Đức Phúc tại sân chơi quốc tế Intervision 2025.

OLM, Đọc hiểu văn bản thông tin

Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025

 (Nguồn: FBNV)

Intervision 2025 khép lại với ngôi vị quán quân thuộc về ca sĩ Đức Phúc − một trong những gương mặt trẻ nổi bật của nhạc Việt. "Phù Đổng Thiên Vương" − ca khúc giúp anh toả sáng không phải một bản ballad ngọt ngào quen thuộc mà là một sáng tác mang đậm hơi thở văn hoá truyền thống Việt Nam với giai điệu lấy cảm hứng từ bài thơ "Tre Việt Nam" của nhà thơ Nguyễn Duy và truyền thuyết "Thánh Gióng".

Hoà quyện giữa phần nghe và nhìn, bài thi của đại diện Việt Nam được nhận xét là một trong những tiết mục dàn dựng phức tạp nhất tại chương trình: Trình diễn cùng vũ công, sử dụng các đạo cụ gồm nón lá, mô hình cây tre, cờ, màn hình LED dẫn người xem hiểu hơn về truyền thuyết với chi tiết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời,… Đặc biệt, tác phẩm đã bám sát tinh thần cuộc thi: Phát triển hợp tác văn hoá, nhân đạo quốc tế và thúc đẩy các giá trị truyền thống.

Trong nhiều năm, âm nhạc Việt trên thị trường quốc tế thường mang hơi hướng học hỏi, vay mượn từ K-pop, J-pop hay các dòng nhạc Âu − Mỹ. Điều này giúp nghệ sĩ bắt nhịp với xu hướng, nhưng đôi khi cũng làm mất đi dấu ấn riêng. Thành công của một số nghệ sĩ trẻ như Đức Phúc hay Hoà Minzy cho thấy khi quay về khai thác chất liệu di sản văn hoá có thể tạo nên một bản sắc độc đáo mà thế giới phải chú ý.

Intervision 2025 đã chứng minh rằng tiếng đàn bầu, điệu hò, tiếng trống hội,… khi được phối khí sáng tạo và đặt trong khung cảnh quốc tế, lại mang một sức sống mới, chạm đến trái tim khán giả toàn cầu. Nó giống như một cuộc đối thoại văn hoá với các nền âm nhạc khác, nơi âm nhạc trở thành một công cụ ngoại giao mềm, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

Thành công tại sự kiện này cũng là lời nhắc nhở sức mạnh của âm nhạc Việt nằm trong kho báu truyền thống từ dân ca, nhạc cụ, giai điệu vùng miền, đến trang phục, mỹ thuật,… Đây chính là "mỏ vàng" để khai thác sáng tạo cho phù hợp với thẩm mỹ toàn cầu. Khéo léo giữ tinh thần truyền thống nhưng đặt trong hình thức, nhịp điệu và phối khí hiện đại chính là hướng đi sáng tạo được một số nghệ sĩ trẻ Việt Nam lựa chọn và đã thành công trong việc thu hút khán giả quốc tế.

Nhìn ra thế giới, nhóm nhạc nổi tiếng BTS của Hàn Quốc từng đưa nhạc cụ và triết lý phương Đông vào các ca khúc, các nghệ sĩ Latinh biến điệu nhạc dân gian thành xu hướng toàn cầu… khẳng định chất liệu truyền thống chính là chiếc chìa khoá vàng để hội nhập. Không ngẫu nhiên âm nhạc được nhiều người gọi là "tấm hộ chiếu văn hoá", bởi nó không cần phiên dịch, không cần giải thích nhưng lại dễ chạm đến trái tim.

Trong thư chúc mừng gửi ca sĩ Đức Phúc và những người yêu âm nhạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, ca khúc "Phù Đổng Thiên Vương" kể lại câu chuyện về sức mạnh đoàn kết, bản lĩnh quật cường và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam. Từ thành công tại Intervision 2025, Thủ tướng mong đội ngũ văn nghệ sĩ tiếp tục phát huy tài năng, không ngừng sáng tạo, đóng góp tích cực cho nền âm nhạc nước nhà và quảng bá văn hoá Việt Nam ra thế giới.

Tuy nhiên, không thể mơ mộng quá nhanh về một thương hiệu V-pop toàn cầu chỉ sau một vài chiến thắng ở đấu trường quốc tế. Hội nhập là cả một chặng đường đòi hỏi sự chuẩn bị hệ thống cùng sự đầu tư bài bản. Nghệ sĩ cần được đào tạo về kỹ thuật, khơi dậy ý thức đang mang hình ảnh quốc gia trên vai. Người sáng tác cần đầu tư nhiều hơn cho việc kết hợp di sản với hơi thở đương đại, ngành công nghiệp âm nhạc cần có nguồn lực cùng chiến lược truyền thông quốc tế…

Phải khẳng định việc xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt vẫn còn là một hành trình dài đầy thử thách, nhưng đó cũng là giấc mơ đáng để các thế hệ nghệ sĩ và người làm văn hoá cùng theo đuổi.

(Theo Hà Anh, https://baoquocte.vn/chiec-chia-khoa-vang-de-hoi-nhap-328953.html)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Chỉ ra những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin.

Câu 2. Văn bản trên viết về vấn đề gì?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung văn bản với nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập".

Câu 5. Văn bản "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập" mang lại cho em những thông tin và nhận thức bổ ích gì? Hãy liệt kê 3 việc mà anh/chị có thể làm để góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập.

20
13 tháng 11 2025

Câu 1. Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin:

- Cung cấp thông tin khách quan, xác thực: Văn bản đưa tin về một sự kiện có thật (Đức Phúc đoạt quán quân Intervision 2025), nêu tên nhân vật cụ thể (Đức Phúc, Hoà Minzy, BTS, Thủ tướng Phạm Minh Chính), tác phẩm cụ thể ("Phù Đổng Thiên Vương", "Tre Việt Nam"), và bối cảnh cụ thể (cuộc thi Intervision 2025).

- Trình bày dữ liệu rõ ràng: Văn bản cung cấp chi tiết về bài thi (dàn dựng phức tạp, nón lá, cây tre, ngựa sắt), tinh thần cuộc thi (phát triển hợp tác văn hoá), và trích dẫn ý kiến (lời Thủ tướng Phạm Minh Chính).

- Nêu rõ nguồn tin: Văn bản có ghi rõ nguồn của hình ảnh "(Nguồn: FBNV)" và nguồn của bài viết "(Theo Hà Anh, https://baoquocte.vn...)", cho thấy tính chất của một bài báo, bản tin.

- Mục đích chính: Mục đích của văn bản là cung cấp thông tin cho người đọc về một sự kiện và bàn luận về ý nghĩa, tác động của sự kiện đó (vai trò của văn hoá truyền thống trong hội nhập).

13 tháng 11 2025

Câu 2. Vấn đề văn bản trên viết về:

Văn bản viết về thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025 và dùng sự kiện này làm dẫn chứng để bàn luận về một vấn đề lớn hơn: Vai trò và tầm quan trọng của việc khai thác các chất liệu di sản văn hoá truyền thống (bản sắc dân tộc) trong việc xây dựng thương hiệu âm nhạc Việt Nam (V-pop) và hội nhập quốc tế.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm):

Ước mơ là điều đẹp đẽ và cần có trong cuộc sống mỗi người. Hành trình theo đuổi ước mơ không bao giờ dễ dàng, vì luôn có thử thách và thất bại. Nhưng chính khó khăn lại giúp ta rèn luyện nghị lực, bản lĩnh và niềm tin. Giống như ngọn cỏ trong bài thơ của Lam – dù bị sâu ăn vẫn xanh rì – con người cũng cần kiên cường, không bỏ cuộc. Theo đuổi ước mơ là hành trình giúp ta trưởng thành, hiểu giá trị của nỗ lực và tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.


Câu 2 (4 điểm):

Bài thơ của Lam nói về sức sống kiên cường và ý nghĩa của niềm tin. Ngọn cỏ dù bị sâu ăn vẫn cố xanh rì, vì nó biết mình sống để làm gì. Hình ảnh ấy tượng trưng cho con người trong cuộc sống: dù tổn thương vẫn không buông bỏ. Tác giả dùng ngôn từ giản dị, giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu sắc, thể hiện triết lý sống tích cực: hãy mạnh mẽ vượt qua khó khăn để tiếp tục vươn lên và tỏa sáng giữa đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều có những ước mơ, nhưng ước mơ sẽ mãi chỉ là "mộng tưởng" nếu không có một "hành trình" dũng cảm để biến nó thành hiện thực. Như tác giả Mộng Tuyết trong văn bản "Chơi Phú Quốc", bà đã biến "cảnh bấy lâu trong mộng tưởng" thành hiện thực bằng một chuyến đi, một hành trình thực thụ. Điều đó cho thấy, theo đuổi ước mơ không phải là việc ngồi chờ đợi, mà là hành động dấn thân, lên đường. Hành trình ấy có thể đòi hỏi 6 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, hoặc thậm chí là 10 năm miệt mài học tập. Sẽ có những "sóng to gió lớn" hay những "khó khăn nguy hiểm" như cách đi thuyền buồm ngày xưa. Nhưng nếu ta dám vượt qua, dám hít thở "cái không khí thanh tân" của sự thử thách, phần thưởng ta nhận được sẽ vô cùng ngọt ngào. Đó là cảm giác "sung sướng, mạnh mẽ" khi chạm đến đích, là sự trưởng thành và những trải nghiệm "thanh kì" mà không gì thay thế được. Vì vậy, đừng chỉ mơ, hãy bắt đầu hành trình.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Còn thời cưỡi ngựa bắn cungCó hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.INDIRA GANDHI      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa:...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung

Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

INDIRA GANDHI

      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa: “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”. Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn là nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may.”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu: “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.". 

      Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

      Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng: “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta lạc đường không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

      Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, hãy trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

      Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu nằm bên khu chợ nhỏ xíu ở một thị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn buộc phải làm.

      Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha anh ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần với xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch, tốt cho sức khỏe và chất lượng hảo hạng.

      Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

      Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

      Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

      Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

      Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, nó giống như một tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người cho rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mại không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

      Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung,

Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun… bắn ruồi.”

       Âu cũng là lẽ thường tình vậy.

      Oprah Winfrey có nói: “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Chỉ có người ngốc nghếch mới tin rằng mình có thể giương cung được mãi.

      Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ông chỉ tập trung vào cái mình đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì thì tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

      Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) đều làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi là một thợ gốm học việc, ông vẫn tận tâm như vậy.

      Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra minh chứng trong văn bản thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho những ước mơ, nghề nghiệp trong cuộc sống. 

Câu 3. Chi tiết về Hosokawa Morihiro có ý nghĩa như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những thông điệp nào từ văn bản? 

8
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Kiểu loại của văn bản:
→ Văn bản “Còn thời cưỡi ngựa bắn cung” thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội), bàn về thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, danh tiếng và hạnh phúc trong cuộc sống.


Câu 2.

Minh chứng thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho ước mơ – nghề nghiệp:

“Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”
“Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.”

→ Những lời nói này cho thấy định kiến xã hội: coi thường nghề bình thường (như thợ may), chỉ đề cao nghề danh giá, nổi tiếng.


Câu 3.

Ý nghĩa của chi tiết về Hosokawa Morihiro:
Câu chuyện về Hosokawa Morihiro – người từng là Thủ tướng Nhật Bản rồi trở thành nghệ nhân gốm chuyên tâm và hạnh phúc – thể hiện thông điệp rằng:
→ Dù ở vị trí nào, làm nghề gì, nếu con người chuyên tâm, yêu nghề và sống đúng với mình, thì đều đáng trân trọng.
→ Đồng thời, chi tiết này minh chứng cho luận điểm của tác giả: hạnh phúc không đến từ danh vọng mà đến từ sự tận tâm với công việc mình yêu thích.


Câu 4.

Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả:

  • Cách dẫn dắt tự nhiên, gần gũi: Bắt đầu từ một câu chuyện đời thường (ước mơ làm thợ may của cô bé) rồi mở rộng dần đến vấn đề xã hội.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Tác giả sử dụng nhiều dẫn chứng thực tế, tiêu biểu (người bạn làm nông dân, Hosokawa Morihiro, Oprah Winfrey...) để minh họa cho quan điểm.
  • Giọng văn nhẹ nhàng, triết lý, giàu cảm xúc giúp người đọc suy ngẫm sâu về giá trị của lao động và hạnh phúc thật sự.

Câu 5.

Những thông điệp rút ra từ văn bản:

  • Không có ước mơ hay nghề nghiệp nào là tầm thường, chỉ có cách ta làm việc mới quyết định giá trị của nó.
  • Danh tiếng không phải mục tiêu cao nhất; điều quan trọng là được làm công việc mình yêu thích với sự chuyên tâm và tự hào.
  • Mọi người đều có vai trò riêng trong xã hội, hãy trân trọng, không phân biệt nghề nghiệp.
  • Hạnh phúc và thành công thật sự đến từ sự tận tâm và bình thản trong lao động.
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Văn bản "Còn thời cưỡi ngựa bắn cung" thuộc kiểu loại văn bản nghị luận, bàn về quan niệm sống, về giá trị của ước mơ, nghề nghiệp và danh vọng.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Qua đoạn trích, nhân vật Vũ Như Tô hiện lên là một nghệ sĩ thiên tài mang bi kịch sâu sắc. Trước hết, ông là người có khí phách phi thường. Dù thân mang gông xiềng, đối diện "uy quyền" tuyệt đối của vua Lê Tương Dực, ông vẫn không hề sợ hãi ("tiện nhân không sợ chết"), dám đối đáp sòng phẳng, thậm chí chỉ trích cả nhà vua ("Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?"). Song song đó là sự tự tin tột độ, kiêu hãnh về tài năng mà ông có được sau 20 năm khổ luyện: "phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi", "phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân". Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ kiêu ngạo, ông còn có lý tưởng cao đẹp khi mượn cơ hội này để đòi vua phải "trọng đãi công ngang sĩ", "xin cho lũ hậu tiến", nâng cao vị thế người thợ. Bi kịch của ông cũng nảy sinh từ đây: vì quá khát khao sáng tạo một công trình vĩ đại "cùng với vũ trụ trường tồn" ("vì tiện nhân thì nhiều"), ông đã chấp nhận "cúc cung tận tụy" cho bạo chúa, thậm chí đòi quyền "chém bêu đầu". Đây chính là mâu thuẫn bi kịch giữa người nghệ sĩ tài hoa, có lý tưởng và một con người kiêu ngạo, xa rời thực tế, đặt nghệ thuật lên trên cả sinh mạng con người.

13 tháng 11 2025

Trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại, khi tri thức nhân loại được cập nhật mỗi ngày và sự cạnh tranh ngày một gay gắt, con người không thể giữ mãi một vị trí nếu không tự mình vận động. Giữa hàng tỷ người trên thế giới, để không bị bỏ lại phía sau, để tạo nên dấu ấn riêng và có một cuộc sống ý nghĩa, việc không ngừng "nâng cao giá trị bản thân" trở thành một hành trình tất yếu và vô cùng quan trọng.


Vậy, "giá trị bản thân" là gì? Đó không đơn thuần là địa vị xã hội hay sự giàu có về vật chất. Giá trị bản thân là tổ hợp của nhiều yếu tố: là tri thức, kỹ năng, là phẩm chất đạo đức, là sức khỏe thể chất và tinh thần, và là khả năng cống hiến những điều tốt đẹp cho cộng đồng. "Nâng cao giá trị bản thân" chính là quá trình rèn luyện, học hỏi không ngừng nghỉ để làm giàu thêm những yếu tố đó, để phiên bản của chúng ta ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua.


Ý nghĩa của việc này trước hết là đối với chính mỗi cá nhân. Khi ta đầu tư vào tri thức, ta có được "vũ khí" sắc bén nhất để bước vào đời. Khi ta rèn luyện kỹ năng, ta có trong tay công cụ để biến ý tưởng thành hiện thực, giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Một người có giá trị cao, có chuyên môn giỏi, có kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ cầu thị, sẽ luôn là người mà mọi tổ chức, mọi tập thể mong muốn có được. Điều này mở ra cho chúng ta vô vàn cơ hội trong công việc và cuộc sống. Quan trọng hơn, quá trình tự nâng cấp bản thân mang lại cho ta sự tự tin, lòng tự trọng và sự độc lập. Ta không còn phải sống dựa dẫm hay chờ đợi sự ban phát cơ hội từ người khác, mà tự mình tạo ra cơ hội và làm chủ cuộc đời mình.


Không chỉ vậy, việc nâng cao giá trị bản thân còn mang ý nghĩa tích cực đối với xã hội. Một xã hội được tạo nên từ nhiều cá nhân. Khi mỗi cá nhân đều ý thức tự hoàn thiện, họ sẽ tạo nên một cộng đồng vững mạnh, một quốc gia phát triển. Một người bác sĩ không ngừng học hỏi kỹ thuật mới sẽ cứu được nhiều bệnh nhân hơn. Một người giáo viên liên tục đổi mới phương pháp sẽ truyền cảm hứng cho nhiều học trò hơn. Một người công nhân rèn luyện tay nghề sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng hơn. Chính sự nỗ lực của từng "viên gạch" nhỏ bé đã góp phần xây nên "tòa tháp" văn minh chung của nhân loại. Hơn nữa, những người có giá trị cao thường trở thành nguồn cảm hứng, lan tỏa năng lượng tích cực, thúc đẩy những người xung quanh cùng nhau phấn đấu.


Tuy nhiên, cần hiểu rằng nâng cao giá trị bản thân không phải là một cuộc chạy đua so bì, ganh ghét với người khác. Đó là một hành trình tự thân, so sánh với chính mình của ngày hôm qua. Đó cũng không phải là việc chỉ tập trung vào kiếm tiền hay danh vọng, mà bỏ quên việc bồi đắp tâm hồn, lòng nhân ái. Một người có giá trị thực sự là người cân bằng được giữa năng lực chuyên môn và phẩm hạnh đạo đức.


Việc nâng cao giá trị bản thân là một hành trình đầu tư không bao giờ lỗ vốn. Đó là con đường duy nhất để mỗi người khẳng định vị thế của mình, sống một cuộc đời ý nghĩa, tự do và hạnh phúc. Như viên kim cương chỉ trở nên lấp lánh sau hàng ngàn nhát mài giũa, con người cũng chỉ thực sự tỏa sáng khi không ngừng rèn luyện và tự hoàn thiện mình mỗi ngày.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Lớp IXLÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Lớp IX

LÊ TƯƠNG DỰC (cười gằn) - Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết.

LÊ TƯƠNG DỰC - Người ta ai không tham sinh uý tử. Mi nói không sợ chết chẳng hóa ra vọng ngôn sao! Sao trẫm triệu vào kinh, mi lại trốn?

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân trốn đi để tránh cho triều đình một tội ác.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm sai cắt lưỡi mi đi bây giờ!

VŨ NHƯ TÔ - Lời thẳng thì hay trái tai. Xin Hoàng thượng cho phép tiện nhân được nói. Tiện nhân có bị cực hình cũng không oán hận.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã khoan thứ cho mi nhiều lắm rồi.

VŨ NHƯ TÔ - Tâu Hoàng thượng, tiện nhân có tội gì mà Hoàng thượng phải khoan thứ? Tiện nhân không trộm cướp, không tham nhũng, không giết người, tiện nhân chỉ biết phụng dưỡng mẹ già, nuôi vợ, nuôi con. Đang yên ổn, bỗng dưng tiện nhân bị bắt, bị đóng gông tra xiềng rồi bị giải đi, ăn không được ăn, uống không được uống, nghỉ ở đâu cũng bị đem giam vào lao như những quân trọng phạm. Hỏi tiện nhân có tội gì?

LÊ TƯƠNG DỰC - Vua cần đến thì thần dân phải xả thân làm việc kỳ đến chết thì thôi.

VŨ NHƯ TÔ - Nhưng xử đãi thế thì ai muốn trau dồi nghề nghiệp? Kính sĩ mới đắc sĩ...

LÊ TƯƠNG DỰC - Kính sĩ đắc sĩ, mi là sĩ đấy ư: Mi dám tự phụ là sĩ thảo nào mi không sợ chết.

VŨ NHƯ TÔ - Sĩ mà không có chân tài thì tiện nhân không bàn. Anh em tiện nhân còn có những nguyện vọng sâu xa hơn đối với nước. Hoàng thượng quá nhầm về chữ sĩ. Một ông quan trị dân, với một người thợ giỏi, xây những lâu đài tráng quan, điểm xuyết cho đất nước, tiện nhân chưa biết người nào mới đáng gọi là sĩ.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm rộng lượng nên mi mới được ăn nói rông càn. Chẳng qua là trẫm mến tài, người khác thì đã mất đầu.

VŨ NHƯ TÔ - Thân này tiện nhân đã cầm chắc là không được toàn. Nhưng trước khi chết tiện nhân cũng cố hết sức biện bạch mong Hoàng thượng đừng coi rẻ anh em tiện nhân, ngõ hầu con em theo gót sau này được mở mày mở mặt. Những ân huệ ấy tiện nhân không xin cho mình - tiện nhân xin chịu chết mà xin cho lũ hậu tiến. Được biệt đãi, có địa vị thì những kẻ tài hoa mới xuất hiện, tranh nhau tô điểm nước non.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là công việc của trẫm và các đại thần. Mi là một tên thợ không biết gì. Hãy nghe trẫm hỏi chuyện Cửu Trùng Đài. Một năm nay không xây được, trẫm lấy làm phiền lắm. Đài phải có trăm nóc, cao mười trượng, dài năm trăm trượng, mi có đủ tài xây được không?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân không thấy cái khó ở đâu cả. Tiện nhân tự xét, thực thừa sức xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định xây ra làm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Điều tiện nhân xin lúc nãy, Hoàng thượng hãy chuẩn y cho đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi định ép ta sao? Đầu mi chỉ một lệnh truyền là không còn trên cổ.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân đã coi rẻ đầu này. Nó rơi lúc nào là xong một kiếp. Tiện nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thế, Hoàng thượng đã quên rồi sao? Chỉ vì tiền đồ nước ta mà tiện nhân xin Hoàng thượng trọng đãi thợ. Hoàng thượng không được khinh rẻ họ, không được ức hiếp họ (mắt sáng lên, nét mặt quả quyết). Được thế thì tiện nhân mới chịu làm, mà xin Hoàng thượng biết cho, đài Cửu Trùng, phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi.

LÊ TƯƠNG DỰC (lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc) - Sợ mi chỉ là một kẻ đại ngôn.

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám nói thế, không phải là đại ngôn, nhưng vì tiện nhân tự biết tiện nhân. Trong hai mươi năm trời, tiện nhân khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả văn chương toán pháp, địa lý, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát, cũng vì thế mà ngày nay hơn bốn mươi tuổi đầu, tiện nhân mới có ít nhiều sở đắc, nói ra thì Hoàng thượng nửa tin, nửa ngờ. Trong suốt một năm đi trốn, tuy bị truy nã, khổ nhục trăm đường, tiện nhân cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng Đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ.

LÊ TƯƠNG DỰC (mừng rỡ) - Đâu, cho trẫm xem.

VŨ NHƯ TÔ - Trong túi áo tiện nhân đây. Nhưng xin Hoàng thượng...

LÊ TƯƠNG DỰC - Đưa trẫm xem đã.

VŨ NHƯ TÔ - Xin Hoàng thượng trả lời tiện nhân đã.

LÊ TƯƠNG DỰC - Mi tưởng ta không lấy được của mi sao? (Đến lần túi Vũ Như Tô rút ra một bản đồ to và một quyển sổ dày.).

VŨ NHƯ TÔ (khinh bỉ) - Không ngờ Hoàng thượng!...

LÊ TƯƠNG DỰC (đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi, một lúc lâu) - Thực vừa ý trẫm. Nhiều chỗ trẫm không nghĩ tới! Cửu Trùng Đài! Trẫm có ý xây đài trên bờ Tây hồ. Đây là miếu công thần, đây là lầu vọng nguyệt. Đây là san hô sảnh, đây là điện vàng, điện ngọc, đây là đại uyển, tiểu uyển, đây là trà điện, nhạc điện... đứng trên đài cao ngất này bao quát được Long thành. (đếm) Phải, đúng 100 nóc, hiển nhiên là hình trăm rồng tranh ngọc. Tráng quan lắm, ý trẫm lại muốn khơi một dòng nước từ chính điện thông ra hồ Tây, hai bên bờ trồng kỳ hoa dị thảo, để ngày ngày trẫm cùng cung nữ bơi thuyền hoa ra hồ ngoạn thưởng, mi nghĩ sao?

VŨ NHƯ TÔ - Được!

LÊ TƯƠNG DỰC - Vậy thì mi thêm vào.

VŨ NHƯ TÔ - Không thêm bớt gì cả. Đài Cửu Trùng không xây cho...

LÊ TƯƠNG DỰC - À mi giỏi thực! Lần này trẫm không tha mi nữa, trẫm cũng không cần mi nữa, (xem quyển sổ) đủ rồi. Đủ rồi, trẫm gọi thợ khác cứ theo đây mà xây, sửa chút ít là vừa ý trẫm. Còn mi, mi chờ quân đao phủ dẫn đi.

VŨ NHƯ TÔ - Đó là quyền Hoàng thượng. Nhưng... xây Đài Cửu Trùng không dễ thế đâu. Nếu chỉ xem sách mà làm được thì chán nhà nho đã thành Khổng Tử, chán vị tướng đã thành Tôn, Ngô, chán thi nhân đã thành Lý, Đỗ. Cần phải có mắt, có tai, có tâm huyết, có tay mình vào đó. Hoàng thượng cứ giữ lấy bản đồ, cầm lấy quyển sổ, đi tìm thợ giỏi, tiện nhân không dám nói sao, nhưng tiện nhân tin rằng không một kẻ nào làm nổi. Bản đồ kia chỉ là phần xác, nhưng phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân, mà phần hồn mới là phần chính.

LÊ TƯƠNG DỰC (dịu giọng nhìn bản đồ say sưa) - Mi định không giúp trẫm sao?

VŨ NHƯ TÔ - Tiện nhân dám đâu tiếc sức? Cũng mong giúp Hoàng thượng xây cho nước ta một tòa lâu đài nguy nga, cùng với vũ trụ trường tồn. Chỉ xin Hoàng thượng hai điều: thứ nhất, đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay đổi một ly nào. Thứ hai: Hoàng thượng và triều đình phải trọng đãi công ngang sĩ. Sách Trung Dung có dạy “Lai bách công giã”. Hoàng thượng chắc còn nhớ đấy. Nước phú dân cường là nhờ ở đó. Hai điều đó không được, tiện nhân đành phí thân này.

LÊ TƯƠNG DỰC (trầm ngâm) - Sao mi cứ băn khoăn?...

VŨ NHƯ TÔ - Không băn khoăn sao được? Khi anh em tiện nhân, chỉ vì có chút tài năng, mà phải cực nhục như quân có tội, thì kẻ này không thể nào ăn ngon ngủ yên được. Chính tiện nhân đây, cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, nhục quá trâu ngựa, Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?

LÊ TƯƠNG DỰC - Được, hai điều mi xin, trẫm cho cả. Trẫm chịu mi vậy. Nhưng mi phải đem hết sức ra xây Cửu Trùng Đài cho trẫm.

VŨ NHƯ TÔ - Được, Hoàng thượng cho hai điều ấy, tiện nhân dám đâu không hết sức. Huống chi xây Cửu Trùng Đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều. Đã làm xin cúc cung tận tụy. Hoàng thượng tuyển cho năm vạn thợ và phải giao cho tiện nhân toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu. Có thế thì đài mới xong được.

LÊ TƯƠNG DỰC - Bao giờ xong?

VŨ NHƯ TÔ - Độ năm năm. Hoàng thượng liệu có thể theo cho đến buổi hoàn thành không?

LÊ TƯƠNG DỰC - Sao lại không? Ngay bây giờ, trẫm sai ban hành đạo chiếu. Và ngày mai bắt đầu làm việc.

VŨ NHƯ TÔ - Xin phụng mệnh. Nhưng gông và xiềng xích này Hoàng thượng còn bắt tiện nhân đeo đến bao giờ?

LÊ TƯƠNG DỰC (ngần ngại) - Tháo cho mi, nhưng mi đừng phụ lòng trẫm.

VŨ NHƯ TÔ (nói to) - Hoàng thượng coi tiện nhân là người thế nào? Đại trượng phu một nhời đã hứa, dẫu nhảy vào đống lửa cũng không từ.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản trên.

12
13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

👉 Sự việc:
Đoạn trích kể về cuộc đối thoại căng thẳng giữa vua Lê Tương Dực và Vũ Như Tô.
Trong đó, Lê Tương Dực ép Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài – một công trình xa hoa để vua hưởng lạc. Ban đầu, Vũ Như Tô từ chối, nhưng sau khi đưa ra điều kiện được trọng đãi thợ tài và được toàn quyền thi công, ông chấp thuận thực hiện việc xây đài.

➡️ Đây là sự kiện mở đầu cho bi kịch về mâu thuẫn giữa nghệ thuật – lý tưởng và hiện thực xã hội tàn bạo.


Câu 2. Vũ Như Tô yêu cầu vua Lê Tương Dực điều gì cho những người tài?

👉 Vũ Như Tô yêu cầu vua hai điều:

  1. Đài Cửu Trùng phải được xây đúng theo bản thiết kế của ông, không thay đổi dù chỉ một chi tiết.
  2. Vua và triều đình phải trọng đãi, tôn vinh những người thợ tài giỏi – “trọng đãi công ngang sĩ”, không được ức hiếp, khinh rẻ họ.

➡️ Hai yêu cầu thể hiện tấm lòng trân trọng người lao động có tài, khát vọng nâng cao địa vị và danh dự của người làm nghề thủ công trong xã hội phong kiến.


Câu 3. Liệt kê những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng của chúng.

👉 Các chỉ dẫn sân khấu (in trong ngoặc đơn):
Ví dụ:

  • “(cười gằn)”, “(lòng tự tin của Vũ làm cho vua kinh ngạc)”, “(mắt sáng lên, nét mặt quả quyết)”,
  • “(mừng rỡ)”, “(đặt bản đồ lên long kỷ, mặt mỗi lúc một tươi)”,
  • “(dịu giọng nhìn bản đồ say sưa)”, “(trầm ngâm)”, “(ngần ngại)”, “(nói to)”...

👉 Tác dụng:

  • Giúp người đọc và diễn viên hình dung rõ nét hành động, cử chỉ, thái độ, tâm lý nhân vật.
  • Làm cho lời thoại sinh động, chân thực, giúp khắc họa rõ tính cách và mối quan hệ căng thẳng giữa hai nhân vật.

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa ai với ai và xung đột về điều gì?

👉 Xung đột:

  • Giữa Vũ Như Tô (người nghệ sĩ tài hoa, chân chính)
    vua Lê Tương Dực (vị hôn quân xa hoa, tàn bạo).

👉 Xung đột về:

  • Quan niệm và mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài:
    • Vũ Như Tô muốn xây một công trình nghệ thuật vĩ đại vì nước vì dân.
    • Còn Lê Tương Dực chỉ muốn xây đài nguy nga để hưởng lạc, thỏa mãn dục vọng cá nhân.

➡️ Đây là xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật và hiện thực quyền lực, giữa người nghệ sĩ chân chínhkẻ thống trị tàn ác.


Câu 5. Nhận xét về lời nói của nhân vật Vũ Như Tô trong văn bản.

👉 Nhận xét:

  • Lời nói của Vũ Như Tô thẳng thắn, cương trực, mạnh mẽ và đầy tự tin.
  • Ông thể hiện tư thế hiên ngang, không sợ quyền uy, dám nói lên lẽ phảibảo vệ phẩm giá của người lao động tài hoa.
  • Trong đối thoại, Vũ Như Tô vừa tự hào về tài năng, vừa chân thành với lý tưởng nghệ thuật cao cả — muốn xây dựng cho đất nước một công trình trường tồn với thời gian.

➡️ Qua lời nói, ta thấy Vũ Như Tô là người nghệ sĩ tài năng, có nhân cách lớn, dám sống và chết vì lý tưởng nghệ thuật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Sự việc trong văn bản là cuộc đối thoại căng thẳng và trực diện giữa kiến trúc sư thiên tài Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Dù đang là một tù nhân bị gông xiềng, Vũ Như Tô không những không sợ hãi mà còn thẳng thắn đưa ra các yêu sách, đòi hỏi vua phải tôn trọng người thợ, trọng đãi người tài, coi đó là điều kiện tiên quyết để ông nhận lời xây Cửu Trùng Đài.

Câu 1. (2 điểm)     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.Câu 2. (4 điểm)     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.      Đàn...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Từ những gợi ý trong văn bản trên, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay.

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh(1) sau đây:

       Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,

Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.

      Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,

Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?

      Đàn kêu: Ai chém xà vương,

Đem nàng công chúa triều đường về đây?

      Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày

Có sao phụ nghĩa lại rày vong ân?

      Đàn kêu: Sao ở bất nhân,

Biết ăn quả lại quên ân người giồng?

      Đàn kêu năn nỉ trong lòng,

Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.

       […] Đàn kêu thấu đến cung phi,

Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.

(Trích theo Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, Tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr.1989 - 1993)

Chú thích: 

(1) Thạch Sanh: Truyện thơ Nôm, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, dựa trên truyện cổ tích thần kì Thạch Sanh.

9
13 tháng 11 2025
Câu 1. Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay. Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc giao lưu và tiếp biến văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích to lớn. Giao lưu văn hóa giúp các quốc gia, dân tộc học hỏi, tiếp thu những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến từ bên ngoài, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng hơn. Quá trình tiếp biến văn hóa một cách chọn lọc không làm mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại, giúp làm giàu thêm, làm mới mẻ thêm văn hóa truyền thống, khiến nó trở nên năng động, phù hợp hơn với thời đại. Chẳng hạn, ẩm thực Việt Nam được bổ sung thêm nhiều món ăn từ các nước, hay áo dài truyền thống được biến tấu với nhiều kiểu dáng hiện đại, vẫn giữ được nét duyên dáng mà lại tiện dụng hơn. Hơn nữa, giao lưu văn hóa còn là cầu nối gắn kết con người, xóa bỏ rào cản, định kiến, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng và đa sắc màu. Điều cốt yếu là chúng ta cần có thái độ cởi mở nhưng cũng cần tỉnh táo, chọn lọc để tiếp nhận những giá trị tích cực, đồng thời kiên định gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Câu 2. Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh. Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu, được xây dựng dựa trên cốt truyện cổ tích cùng tên, mang đậm giá trị nhân đạo và tinh thần đấu tranh chống lại cái ác của nhân dân ta. Trích đoạn trên tập trung miêu tả sức mạnh kỳ diệu của cây đàn thần, một chi tiết nghệ thuật đắt giá, có vai trò vạch trần tội ác, giải oan cho người thiện, và thể hiện sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống "ở hiền gặp lành". Về nội dung, trích đoạn đã làm nổi bật chức năng "minh oan" và "vạch tội" của cây đàn thần. Tiếng đàn không chỉ là một nhạc cụ, mà là tiếng nói của công lí, của lẽ phải. Khi cất lên giữa chốn triều đình, tiếng đàn lập tức hướng thẳng vào đối tượng Lý Thông, bằng một giọng điệu đanh thép, chất vấn, đầy sức mạnh tố cáo: Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
Đàn kêu: Ai chém xà vương,
Đem nàng công chúa triều đường về đây?
Điệp khúc "Đàn kêu: Ai chém..." lặp đi lặp lại như một bản án luận tội. Tiếng đàn liệt kê rành rọt từng công trạng của Thạch Sanh mà Lý Thông đã cướp công. Hắn không chỉ là kẻ lừa đảo, chiếm đoạt công lao mà còn là kẻ "phụ nghĩa", "vong ân", "bất nhân", "quên ơn người giồng". Những từ ngữ mạnh mẽ này thể hiện thái độ căm phẫn tột độ của nhân dân đối với thói đời bạc bẽo, vong ơn bội nghĩa. Tiếng đàn đã lật tẩy bộ mặt thật của Lý Thông trước bàn dân thiên hạ, đòi lại công bằng cho Thạch Sanh. Bên cạnh đó, tiếng đàn còn là lời trách móc nhẹ nhàng, nỉ non đối với công chúa: Đàn kêu năn nỉ trong lòng,
Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
...Đàn kêu thấu đến cung phi,
Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.
Đây là cung bậc cảm xúc khác biệt, từ đanh thép chuyển sang thâm tình. Tiếng đàn gợi nhắc lại lời thề ước dưới hang sâu, trách công chúa đã vội vàng phụ bạc. Qua đó, ta thấy được tâm trạng vừa đau đớn, vừa thiết tha của Thạch Sanh, và cũng là sự đề cao tình nghĩa thủy chung trong quan niệm đạo đức dân gian. Về nghệ thuật, thành công của trích đoạn nằm ở việc sử dụng thể thơ lục bát biến thể (hoặc thơ Nôm năm chữ), nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với từng cung bậc cảm xúc. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa "Đàn kêu" được sử dụng xuyên suốt, biến cây đàn vô tri thành một nhân vật biết nói, biết luận tội, biết giãi bày. Cấu trúc lặp cú pháp "Đàn kêu: Ai chém...", "Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày...", "Đàn kêu: Sao ở bất nhân..." tạo hiệu ứng mạnh mẽ, dồn dập, tăng sức thuyết phục và tố cáo. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu sức biểu cảm. Tóm lại, trích đoạn truyện thơ Thạch Sanh là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của nghệ thuật (ở đây là tiếng đàn thần) trong việc đấu tranh cho công lí. Bằng nghệ thuật nhân hóa, lặp cấu trúc và giọng văn đanh thép, tác giả dân gian đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, thể hiện rõ nét tư tưởng và đạo lí truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về lợi ích của việc giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu giúp các dân tộc hiểu biết, gắn kết và cùng phát triển. Việc giao lưu văn hóa giúp con người mở rộng tầm nhìn, tiếp cận những giá trị tiến bộ của nhân loại, học hỏi tinh hoa về tri thức, nghệ thuật, lối sống. Nhờ tiếp biến, mỗi dân tộc có thể chọn lọc, hòa nhập mà không hòa tan, vừa phát huy bản sắc truyền thống, vừa làm mới văn hóa dân tộc để phù hợp với thời đại. Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa đậm đà bản sắc nhưng vẫn không ngừng đổi mới nhờ giao lưu với các nền văn hóa khác — từ ẩm thực, âm nhạc, thời trang đến công nghệ và giáo dục. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, chúng ta cũng cần có bản lĩnh và ý thức giữ gìn giá trị gốc, tránh chạy theo, lai tạp hay đánh mất bản sắc dân tộc. Tóm lại, giao lưu và tiếp biến văn hóa chính là cầu nối giúp con người hội nhập, phát triển toàn diện, góp phần làm phong phú và bền vững hơn bản sắc của mỗi dân tộc trong thời đại mới.


🟩 Câu 2 (4 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích trích đoạn truyện thơ Nôm Thạch Sanh

Mở bài:

Truyện thơ Nôm Thạch Sanh là một tác phẩm dân gian giàu giá trị nhân văn, ca ngợi người anh hùng nghĩa hiệp, thật thà và chính trực. Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh...” là một trong những đoạn đặc sắc nhất, thể hiện chiến thắng của lẽ phải, của công lý và đạo đức nhân nghĩa, đồng thời gửi gắm niềm tin của nhân dân vào sự chiến thắng cuối cùng của người tốt.


Thân bài:

1. Khái quát về truyện và vị trí đoạn trích:
Thạch Sanh được sáng tác dựa trên truyện cổ tích cùng tên, thuộc loại truyện thơ Nôm khuyết danh. Đoạn trích thuộc phần giữa truyện, kể về tiếng đàn thần của Thạch Sanh, nhờ đó mà sự thật được phơi bày, công lý được thực thi.


2. Phân tích nội dung đoạn trích:

  • a. Tiếng đàn mang âm hưởng kỳ diệu:

    “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh,
    Đàn kêu tang tịch tình tinh tang tình.”
    Câu thơ mở đầu gợi âm thanh ngân vang, trong sáng, ẩn chứa sức mạnh kì diệu của cái thiện. Tiếng đàn không chỉ đẹp về âm thanh mà còn là tiếng lòng, tiếng nói của lẽ phải.

  • b. Tiếng đàn là tiếng nói của công lý, tố cáo kẻ gian, minh oan cho người hiền:

    “Đàn kêu: Ai chém trăn tinh,
    Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?”
    Tiếng đàn cất lên thay cho Thạch Sanh — người thật thà không nói nhiều, để vạch mặt kẻ phản bội Lý Thông, nhắc lại công lao của người anh hùng.
    “Đàn kêu: Sao ở bất nhân,
    Biết ăn quả lại quên ân người giồng?”
    Những lời đàn ấy vừa tha thiết, vừa đanh thép, tố cáo tội vong ân bội nghĩa, đồng thời thể hiện quan niệm đạo đức truyền thống của nhân dân: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

  • c. Tiếng đàn thức tỉnh lòng người, khơi dậy sự thật:

    “Đàn kêu thấu đến cung phi,
    Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa.”
    Nhờ tiếng đàn, công chúa và triều đình mới hiểu rõ sự thật, minh oan cho Thạch Sanh.
    → Đây là chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng: tiếng đàn là tiếng nói của chân lý, của niềm tin vào cái thiện tất thắng cái ác.


3. Nghệ thuật đặc sắc:

  • Thể thơ lục bát quen thuộc, nhịp điệu uyển chuyển, giàu nhạc tính.
  • Sử dụng điệp ngữ “Đàn kêu” tạo âm vang liên tục, thể hiện sức mạnh lan tỏa của công lý.
  • Hình tượng tiếng đàn thần vừa hiện thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Kết bài:

Đoạn trích “Đàn kêu nghe tiếng nên xinh” là minh chứng cho tư tưởng nhân đạo của truyện thơ Nôm Thạch Sanh: đề cao người nghĩa hiệp, thật thà, dám đấu tranh chống lại kẻ ác. Qua hình tượng tiếng đàn, nhân dân gửi gắm niềm tin vào sức mạnh của cái thiện, của công lý và đạo lý “ở hiền gặp lành” – một thông điệp vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc sống hôm nay.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tạiHoàng thành Thăng Long       Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ,...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Kiến trúc hoàng cung qua các phát hiện khảo cổ học tại
Hoàng thành Thăng Long

       Kiến trúc hoàng cung Thăng Long là đỉnh cao của nền kiến trúc đương thời, không chỉ có quy mô to lớn, nhiều tầng mái mà trang trí rất nguy nga tráng lệ. Sử cũ viết cung điện “chạm trổ, trang sức khéo léo, công trình thổ mộc đẹp đẽ, xưa chưa từng có” (Việt sử lược) hay “Nhà/ cung điện đều sơn son, cột vẽ hình long, hạc, tiên nữ” ("Quế hải ngu hành chí"(1), Phạm Thành Đạt). Song, để hình dung được vẻ đẹp đó là diều không đơn giản.

       Thăng Long có vị trí đắc địa, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, là đất thiêng hội tụ những tinh hoa của đất nước và khu vực. Tại đây, từ năm 1010, các triều đại Lý, Trần, Lê nối tiếp nhau quy hoạch, xây dựng cung điện, lầu gác làm nơi thiết triều, nơi làm việc và sinh hoạt của Hoàng đế, Hoàng gia và Triều đình. Tuy nhiên, những hiểu biết về kiến trúc hoàng cung thời Lý - Trần và thậm chí thời Lê còn hết sức hạn chế, do hiện nay ở Việt Nam không còn lưu giữ được một công trình cung điện nào cùng thời. Điều đó cũng đồng nghĩa, kiến trúc cung điện hoàng cung Thăng Long vẫn còn là bí ẩn của lịch sử kiến trúc Việt Nam.

       Dưới lòng đất khu di sản Hoàng thành Thăng Long, kết quả khai quật khảo cổ học từ năm 2002 - 2017, đã xác định được một quần thể nền móng kiến trúc Đại La. Nét truyền thống dễ nhận thấy trong kiến trúc cổ truyền người Việt là cột hiên nằm rất gần với cấp nền(2) nên phần mái hiên của kiến trúc nhô ra không nhiều. Trong đó, nền móng kiến trúc giai đoạn Thăng Long được làm rất kiên cố và bền vững, bộ vì(3) đặt trực tiếp trên chân tảng đá chạm hoa sen để đỡ mái.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 1: Tượng đầu rồng trang trí nóc mái, thời Lý

 Hình 2: Tượng đầu sư tử trang trí bờ dải, thời Lý

Hình 3: Lan can đá chạm rồng, thời Lý

Hình 4: Chân tảng đá hoa sen đặt trên móng cột, thời Lý

Hình 5: Gạch vuông lát nền, thời Lý

Hình 6: Tượng đầu chim phượng trang trí trên mái, thời Lý

       Theo GS Ueno (Nhật Bản) “kiến trúc cung điện thời Lý có thể đã sử dụng đấu củng(4) nhưng hiện tượng phần hiên không nhô ra nhiều cho thấy đấu củng thời Lý thuộc loại đơn giản”. Tuy nhiên, cũng không loại trừ thời Lý - Trần đã sử dụng kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng giống như ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Dâu (Bắc Ninh) và Bối Khê (Hà Nội). Đây là những kiến trúc còn bảo lưu được ít nhiều phong cách cuối thời Trần.

       Vật liệu kiến trúc cũng rất đa dạng, phong phú, mái cung điện lợp ngói âm - dương và ngói phẳng, góc mái, đầu nóc trang trí các loại tượng tròn đất nung hình rồng, phượng, sư tử. Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”. Vẻ đẹp đó còn là cảm hứng của văn học, thi ca; bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh(5) (năm 1125) viết “mái hiên bay cao như cánh chim, ngói xếp như bày vảy cá” hay “ngói sen ngàn lớp tựa vẩy cá, sương sớm giọt giọt ngỡ hạt châu” (Thiệu Long tự bi minh(6), 1226), hình ảnh Xi Vẫn(7) - tượng chim phượng trang trí trên mái soi ngược xuống mặt nước được thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334) viết trong bài thơ chùa Diên Hựu “In ngược hình chim, gương nước lạnh”. Thời Trần kế thừa và đã sáng tạo loại ngói sen lợp mái, mang lại sắc thái riêng cho kiến trúc đương thời.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 7: Minh họa cách lợp ngói rồng thời Lê sơ, thế kỷ XV-XVI

Hình 8: Ngói dương men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

Hình 9: Ngói âm men xanh lợp diềm mái, thời Lê Sơ thế kỷ XV

Hình 10: Ngói Rồng men vàng lợp mái cung điện, thời Lê Sơ, thế kỷ XV

       Đến thời Lê, kiến trúc cung điện Thăng Long đã có nhiều thay đổi do ảnh hưởng lớn từ hệ tư tưởng nho giáo nhưng vẻ đẹp và sự hoa mỹ thì càng được nâng cao. Nếu ai đó được một lần nhìn thấy loại “ngói rồng” tráng men xanh, men vàng phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long thì sẽ hiểu được kiến trúc cung điện đẹp đến nhường nào. Lý Tiên Căn (sứ giả nhà Thanh) viết về kiến trúc cung điện thời Lê như sau: “chỉ có nhà vua mới được lợp ngói màu vàng, quan và dân lợp bằng cỏ” (trích An Nam tạp ký). Đánh giá về kiến trúc cung điện Thăng Long, PGS.TS Tống Trung Tín bày tỏ: “Phải còn rất lâu nữa chúng ta mới hiểu được kiến trúc hoàng cung Thăng Long.” bởi những khám phá của khảo cổ học mới chỉ là bước đầu làm phát lộ di tích di vật. Quá trình nghiên cứu chắc chắn còn phải kéo dài và rất khó khăn trong bối cảnh thiếu thốn nguồn tư liệu đương thời để so sánh, ví dụ như: tên gọi các cung điện, bộ khung gỗ, chưa kể đến trang trí nội thất bên trong các cung điện đó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, OLM

Hình 11: Phối cảnh tưởng tượng về mặt bằng kiến trúc cung điện thời Lý tại khu khảo cổ học
18 Hoàng Diệu, Hà Nội

       Qua khám phá của khảo cổ học và thư tịch cổ có thể thấy kiến trúc cung điện, lầu gác tại hoàng cung Thăng Long đều là kiến trúc có bộ khung gỗ, mái lợp ngói, trang trí nội ngoại thất rất công phu và tráng lệ, chứng tỏ trình độ kỹ thuật, mỹ thuật và trình độ quy hoạch xây dựng đô thành đã rất phát triển dưới thời Lý, Trần, Lê tạo cho Thăng Long vị thế xứng đáng là quốc đô qua nhiều triều đại, trải dài lịch sử 779 năm (1010 - 1789). Những thành tựu nhiều mặt đó phản ánh sự kết tinh, giao thoa và tiếp biến văn hóa(8) của Thăng Long với các vùng văn hóa trong nước cũng như các nền văn minh trong khu vực. Đó cũng là một trong những giá trị nổi bật toàn cầu của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long mà UNESCO đã ghi danh là di sản thế giới năm 2010.

(TS. Trần Thế Anh, Ths. Đỗ Đức Tuệ, Ths. Nguyễn Hồng Quang, bài đăng trên tạp chí Kiến trúc số 10 - 2018)

Chú thích: 

(1) Quế hải ngu hành chí: Tập bút kí cho Phạm Thành Đại (1126 - 1193) thời Tống biên soạn. Phạm Thành Đại từng giữ chức trưởng quan của Quảng Nam Tây lộ - đầu mối thông tin giữa nhà Tống và Đại Việt.

(2) Cấp nền: Cầu nối đi lại phía trước ngôi nhà, là vị trí nối liền giữa sân và nhà, là nơi kết nối giao thông các hoạt động sống trong và ngoài của căn nhà.

(3) Bộ vì: Một bộ phận thuộc mái nhà có nhiệm vụ chống đỡ, kết nối hệ mái với những bộ phận khác để làm tăng độ kiên cố, vững chắc cho hệ mái. Đồng thời nó cũng giúp nâng cao giá trị thẩm mĩ cho ngôi nhà.

(4) Đấu củng: Một loại kết cấu mái theo kĩ thuật chồng tường (các loại gối đỡ mái dạng dầm gỗ hộp để đỡ hoành mái, được đặt chồng lên nhau). Nó không chỉ có tác dụng mở rộng diện tích hiên nhà, tăng khả năng chịu lực mà còn đóng vai trò như một chi tiết để tô điểm, trang trí.

(5) Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (Bia chùa Hương Nghiêm trên núi Càn Ni): Văn bia được khắc ở chùa Hương Nghiêm, thôn Diên Hào, huyện Lôi Dương nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Văn bia không ghi người soạn nhưng theo khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn thì tác giả bài văn bia này có thể là nhà sư Hải Chiếu.

(6) Thiệu Long tự bi (Bia chùa Thiệu Long): Văn bia được khắc ở chùa Thiệu Long, xã Tam Hiệp, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Bia này được khắc năm Bính Tuất (1226), năm đầu của nhà Trần.

(7) Xi Vẫn: Một trong những đứa con của rồng. Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh ra chín đứa con nhưng không còn nào trở thành rồng cả. Chín con của rồng được gọi bằng những cái tên khác nhau là Bị Hí, Xi Vẫn, Bồ Lao, Bệ Ngạn, Thao Thiết, Công Phúc,… Xi Vẫn là con thứ hai, mang hình dáng đầu rồng đuôi cá.

(8) Tiếp biến văn hóa: Quá trình thay đổi văn hóa và thay đổi tâm lí sau cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa.

Câu 1. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 2. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Em ấn tượng với thông tin nào trong văn bản? Vì sao?        

13
13 tháng 11 2025

Câu 1. Chủ đề của văn bản là gì? Chủ đề của văn bản là: Những phát hiện khảo cổ học về đặc điểm kiến trúc và vẻ đẹp của hoàng cung Thăng Long qua các triều đại Lý, Trần, Lê.

13 tháng 11 2025

Câu 2. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào? Thông tin trong văn bản được triển khai chủ yếu theo trật tự thời gian, bắt đầu từ bối cảnh chung (các triều đại Lý, Trần, Lê), đi sâu vào kiến trúc thời Lý - Trần, và sau đó là kiến trúc thời Lê.