K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 11 2025

🟩 Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Cảnh tượng đau lòng”

Đoạn trích Cảnh tượng đau lòng trong bi kịch Vua Lia của William Shakespeare là một trong những cảnh cảm động và bi thương nhất, thể hiện sâu sắc bi kịch của con người khi mất đi tất cả. Về nội dung, đoạn trích khắc họa hình ảnh vua Lia — một vị quân vương từng đầy quyền uy nhưng nay hóa điên, lang thang giữa đời, chịu nỗi đau của sự phản bội và cô đơn. Qua cơn điên của vua, Shakespeare bộc lộ nỗi xót xa cho thân phận con người, đồng thời lên án sự tha hóa của quyền lực, sự giả dối và lạnh lùng của xã hội phong kiến. Về nghệ thuật, đoạn trích đặc sắc bởi ngôn ngữ kịch giàu biểu cảm, đậm tính triết lý, xen kẽ giữa tỉnh và mê, cùng chỉ dẫn sân khấu chi tiết giúp khắc họa rõ diễn biến tâm lý nhân vật. Sự kết hợp giữa hiện thực và bi kịch, giữa nghệ thuật đối thoại – độc thoại đã làm nổi bật tầm nhân đạo sâu sắc của tác phẩm: cảm thương, thức tỉnh và trân trọng con người.


🟩 Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc sống chậm trong xã hội hiện đại

Mở bài:

Trong thời đại công nghệ và tốc độ, con người ngày càng bị cuốn vào nhịp sống gấp gáp, hối hả. Giữa dòng đời tất bật ấy, “sống chậm” trở thành một cách sống cần thiết – không phải để chậm lại so với người khác, mà để hiểu mình, hiểu người và sống có ý nghĩa hơn.


Thân bài:

1. Giải thích:

  • Sống chậm là cách sống biết tạm dừng nhịp vội vã, dành thời gian để suy ngẫm, cảm nhận và tận hưởng những giá trị giản dị của cuộc sống.
  • Đó không phải là lười biếng hay chậm tiến, mà là biết cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa thành công và hạnh phúc.

2. Bàn luận:

  • Trong xã hội hiện đại, con người thường chạy đua với thời gian, bị áp lực công việc, học tập, tiền bạc, danh vọng chi phối. Nếu sống quá nhanh, ta dễ đánh mất cảm xúc, sức khỏe và các mối quan hệ.
  • Sống chậm giúp ta lắng nghe bản thân, hiểu được điều gì thực sự quan trọng, từ đó nuôi dưỡng tâm hồn và sống có chiều sâu hơn.
  • Khi sống chậm, ta mới có thể quan sát, yêu thương và sẻ chia, thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người và của cuộc sống.

3. Dẫn chứng:

  • Nhiều người trẻ ngày nay chọn “detox mạng xã hội”, dành thời gian đọc sách, đi dạo, tập thiền… để lấy lại cân bằng – đó là biểu hiện của sống chậm.
  • Triết lý “thiền” của người Nhật hay “hygge” của người Đan Mạch đều hướng con người đến sự chậm rãi, giản dị, biết tận hưởng từng khoảnh khắc.
  • Những người biết sống chậm thường có tâm thế an nhiên, ít căng thẳng, sống tích cực và bền vững hơn trong xã hội hiện đại.

4. Phản đề:
Tuy nhiên, sống chậm không đồng nghĩa với ì trệ hay thiếu nỗ lực. Nếu hiểu sai, con người sẽ trở nên thụ động, lười biếng, đánh mất cơ hội. Vì thế, cần sống chậm mà không dừng lại, chậm để hiểu sâu hơn chứ không phải để tụt lại phía sau.


Kết bài:

Giữa guồng quay hiện đại, sống chậm là cách để con người giữ gìn tâm hồn, tìm lại bình yên và sống thật với chính mình. Hãy bước chậm lại để lắng nghe tiếng nói từ trái tim, để mỗi ngày không trôi đi vô nghĩa, và để ta biết trân trọng từng hơi thở, từng phút giây của cuộc đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Đoạn trích thơ "Thạch Sanh, Lý Thông" là một ví dụ đặc sắc cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và nghệ thuật của truyện Nôm. Về nội dung, đoạn thơ đã tái hiện thành công mâu thuẫn đỉnh điểm giữa cái thiện (Thạch Sanh) và cái ác (Lý Thông, hồn ma), đồng thời thể hiện khát vọng công lý ngàn đời của nhân dân. Cái thiện phải trải qua oan khuất tột cùng ("Giam vào trong ngục đợi ngày") nhưng cuối cùng vẫn được minh oan. Về nghệ thuật, thể thơ lục bát truyền thống được sử dụng tài tình, khiến câu chuyện dễ đi vào lòng người. Nổi bật nhất là việc sử dụng các chi tiết kỳ ảo. Tiếng đàn thần không chỉ là một vật vô tri mà đã trở thành "nhân vật", là tiếng nói của sự thật ("Ai đưa công chúa lên hang mà về?"), có khả năng chữa bệnh và lay động lòng người. Bên cạnh đó, chi tiết "sét đánh" ở cuối đoạn là sự can thiệp của công lý "Trời", thể hiện quan niệm "ác giả ác báo" một cách tuyệt đối, thỏa mãn mong mỏi của nhân dân. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu cảm xúc, đã làm nổi bật lòng nhân hậu của Thạch Sanh và sự hèn nhát của Lý Thông.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:        Chiều tàn hút gió cheo leo,Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.        Chằn tinh gặp lại đại bàng,Cả hai cùng có chung mang mối thù.        Bàn nhau kiếm cách trả thù,Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.        Vượt qua mấy lớp quân canh,Vào cung lấy trộm gây thành án oan.        Bạc vàng châu báu đem...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

        Chiều tàn hút gió cheo leo,
Hồn oan vất vưởng núi đèo lang thang.
        Chằn tinh gặp lại đại bàng,
Cả hai cùng có chung mang mối thù.
        Bàn nhau kiếm cách trả thù,
Cốt đem tội đổ lên đầu Thạch Sanh.
        Vượt qua mấy lớp quân canh,
Vào cung lấy trộm gây thành án oan.
        Bạc vàng châu báu đem mang,
Bỏ vào lều nhỏ của chàng Thạch Sanh.
        Tội thời tang vật rành rành,
Lý Thông chủ toạ án hình chém ngay.
        Giam vào trong ngục đợi ngày,
Thạch Sanh oan uổng giãi bày không xong.

        Buồn đâu xâm chiếm cõi lòng,
Đàn buông dây có dây không khẽ khàng.
        “Đàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đưa công chúa lên hang mà về?”
        Tiếng đàn như tỉnh như mê,
Giọng đàn ai oán não nề xót xa.
        Tiếng vang đến tận cao xa,
Đến tai công chúa cách ba quãng đường.
        Trong lòng chợt nhớ chợt thương,
Chợt đau chợt khổ vấn vương bồi hồi.
        Tự dưng lại thốt thành lời,
Xin vua cha được gặp người rung tơ.
        Nửa lòng như tỉnh như mơ,
Nửa lòng đang rối như tơ ương vò.
        Làm sao nên cảnh bất ngờ,
Anh hùng nhận án tử chờ khai đao.
        Thạch Sanh thưa chuyện trước sau,
Chằn tinh giết trước, tiếp sau đại bàng.
        Cứu nàng công chúa khỏi hang,
Hàm oan nghiệp chướng mới mang tội này.
        Nhà vua nghe hết tấu bày,
Cảm thương công chúa đêm ngày nhớ mong.
        Ban truyền phò mã sắc phong,
Ngày lành tháng tốt kết phòng se hoa.
        Lý Thông tội nặng chớ tha,
Giao cho phò mã luận ra tội thành.

        Lý Thông mặt xám mắt xanh,
Mọp ngay dưới điện cổ đành chờ đao.
        Nghênh ngang có được lúc nào,
Kề dao vô cổ khác nào bún thiu.
        Tham lam gây ác đủ nhiều,
Chờ nghe luận tội phách siêu hồn rời.
        Sanh rằng tội rõ ràng rồi,
Chiếu theo phép nước ắt thời không tha.
        Nghĩ tình còn có mẹ già,
Tha cho về lại quê nhà tu thân.
        Lý Thông chắc chết mười phần,
Được ban tha bổng thất thần tạ ơn.
        Dập đầu máu đổ trên sân,
Dắt ngay tay mẹ lên đường về quê.
        Ác nhân trời bỏ đời chê,
Giữa đường sét đánh tức thì thiệt thân.

                                           (Thạch Sanh, Lý Thông, Duong Thanh Bach)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Tóm tắt văn bản bằng những sự kiện chính và cho biết văn bản thuộc mô hình cốt truyện nào?

Câu 4. Phân tích tác dụng của một chi tiết kì ảo trong văn bản.

Câu 5. So sánh văn bản với truyện cổ tích Thạch Sanh, hãy chỉ ra những điểm giống và khác nhau cơ bản trong hai văn bản.

34
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản. Văn bản được viết bằng thể thơ lục bát (dòng trên 6 chữ, dòng dưới 8 chữ).

13 tháng 11 2025

Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là:

- Tự sự (kể lại diễn biến câu chuyện: hồn ma trả thù, Thạch Sanh bị oan, gảy đàn, được minh oan, Lý Thông bị trừng trị) - Đây là phương thức chủ đạo.

- Miêu tả (miêu tả cảnh: "Chiều tàn hút gió cheo leo", miêu tả nhân vật: Lý Thông "mặt xám mắt xanh").

- Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, tâm trạng: Thạch Sanh "Buồn đâu xâm chiếm cõi lòng", tiếng đàn "ai oán não nề", công chúa "vấn vương bồi hồi").

13 tháng 11 2025

Câu 1 (Khoảng 200 chữ): Phân tích đoạn trích

Đoạn trích “Chèo đi rán thứ sáu … Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!” thể hiện nỗi bi ai, cô độc và khát vọng tự do của con người trước thiên nhiên và số phận. Ngôn ngữ tác giả giàu nhịp điệu, giọng điệu bi tráng, gợi cảm giác dồn nén và bức bối. Hình ảnh “biển” vừa là biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, vừa là ẩn dụ cho thử thách, bão tố cuộc đời mà con người phải đối mặt. Qua lời độc thoại, nhân vật bộc lộ tâm trạng kiên cường, quyết liệt và khát khao sống, đồng thời phản ánh sự đấu tranh nội tâm giữa ý chí sống và hoàn cảnh éo le. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang âm hưởng gợi hình, gợi cảm và nhịp điệu câu linh hoạt tạo ra hiệu quả biểu cảm mạnh mẽ, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau, khát vọng và tình yêu cuộc sống của nhân vật. Từ đó, đoạn trích không chỉ tái hiện hoàn cảnh khó khăn mà còn nhấn mạnh sức sống tiềm ẩn và lòng dũng cảm của con người trong nghịch cảnh.


Câu 2 (Khoảng 600 chữ): Giá trị của tình thân trong cuộc sống

Tình thân, bao gồm tình cảm gia đình, quan hệ ruột thịt và sự gắn bó giữa những người thân yêu, là một giá trị tinh thần vô cùng quý báu trong cuộc sống mỗi con người. Nó không chỉ là nơi ta tìm thấy sự che chở, bảo vệ và đồng cảm, mà còn là nguồn động lực tinh thần để vượt qua khó khăn, thử thách. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, mỗi người đều phải đối mặt với áp lực học tập, công việc hay các mối quan hệ phức tạp. Trong bối cảnh ấy, tình thân trở thành bến bờ bình yên, giúp con người cảm thấy an toàn, vững vàng và được yêu thương.

Tình thân còn được thể hiện qua những hành động cụ thể: cha mẹ nhẫn nại nuôi dưỡng, dạy dỗ con; anh chị em chia sẻ, giúp đỡ nhau trong khó khăn; người thân luôn ở bên lúc hoạn nạn, đau ốm hay thất bại. Những giá trị ấy không thể đo bằng vật chất, mà được cảm nhận qua sự quan tâm, sẻ chia và tình yêu thương chân thành. Văn học, điện ảnh hay những câu chuyện đời thường đều minh chứng rằng, tình thân giúp con người giữ được nhân cách, niềm tin và lạc quan trong cuộc sống.

Ngược lại, thiếu tình thân sẽ khiến con người cô độc, mất phương hướng và dễ chán nản. Chính vì vậy, việc duy trì, nuôi dưỡng tình thân là điều cần thiết. Mỗi người cần biết trân trọng gia đình, quan tâm và sẻ chia với người thân, bởi chỉ khi có tình thân, con người mới cảm nhận trọn vẹn hạnh phúc, nghị lực và ý nghĩa cuộc sống.

Tóm lại, tình thân là nguồn sức mạnh tinh thần, chỗ dựa bền vững và ánh sáng dẫn lối cho con người trong hành trình sống. Dù cuộc sống có bộn bề, khó khăn hay thử thách, tình thân vẫn là giá trị vĩnh hằng, giúp mỗi chúng ta vượt qua nghịch cảnh và hoàn thiện nhân cách.

13 tháng 11 2025


(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Chèo đi rán(1) thứ sáuThấy nước vằn mông mốcXé nhau đục vật vờChèo đi thôi, chèo đi!Một người cầm cán dầm cho vững,Nước cuộn thác chớ loBiển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.Chèo đi rán thứ bảy,Nước ác kéo ầm ầm,Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăngChực ăn người...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Chèo đi rán(1) thứ sáu

Thấy nước vằn mông mốc

Xé nhau đục vật vờ

Chèo đi thôi, chèo đi!

Một người cầm cán dầm cho vững,

Nước cuộn thác chớ lo

Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.

Chèo đi rán thứ bảy,

Nước ác kéo ầm ầm,

Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,

Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăng

Chực ăn người đi biển,

Chực nuốt tảng(3) nuốt thuyền

Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế,

Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân.

Có bạc mới được qua.

Chèo đi rán thứ tám,

Nước đổ xuống ầm ầm,

To hơn bịch đựng lúa.

Nước xoáy dữ ào ào,

Nước thét gào kéo xuống Long Vương.

Nhanh nhanh tay chèo sang qua khỏi.

Chèo đi rán thứ chín,

Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,

Khắp mặt biển nước sôi gầm réo.

Biển ơi, đừng giết tôi,

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,

Đừng cho thuyền lật ngang,

Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!

Chèo đi rán thứ mười,

Thuyền lướt theo nước trời băng băng,

Cánh dầm tung bốn góc

Rán lại rán bay đi…

Chèo đến rán mười một,

Sóng đuổi sóng xô đi

Nước đuổi về sau lưng.

Chèo mau lên, chèo cố

Cho thuyền đến cửa biển ta dừng,

Cho thuyền đến bãi cát vàng bình an.

Chèo đi rán mười hai,

– A! Bờ biển kia rồi,

Ta chèo mau lên thôi,

Chèo mau lên, hỡi người trai trẻ!

Trai trẻ hãy lắng tai,

Trai trẻ nghe tôi bảo,

Lại đây nghe tôi dạy:

– Mau lên ta kéo thuyền vào cạn,

Cùng lôi tảng vào bến,

Kéo thuyền vào bãi cát chói hồng,

Kéo thuyền vào bãi bướm vàng vờn bay!

– Mời nàng hương(4) hai cô

Mời em hãy ôm hoa lên bến,

Mời nàng hãy ôm hương hầu slay

Quân quan lên “bời bời”(5)

Đàn bà cầm nón ra thuyền

Đàn ông cầm ô lên bến

Tay trái xách giày hoa ra tảng,

Tay phải xách giày đẹp lên bờ,

Gánh gồng lên rầm rập theo slay(6),

Bao của quý khiêng lên đi lễ người.

Mười hai rán nước nay đã qua rồi,

Bây giờ mới biết tôi sống sót.

Binh mã(7) slay rầm rập

Kéo vào chợ Đường Chu(8)

Sau lưng trơ lại tôi

Ngồi bên bờ biển đất trời mênh mông,

Tự than thân trách phận,

Cay đắng lắm đời sa dạ sa dồng(9).

Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung…

(Trích Vượt biển, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam − Tập IV, tr.887 889)

Chú thích: 

(1) Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm đe doạ những người chèo mảng.

(2) Ngọ lồm: Quỷ vô hình.

(3) Tảng: Loại mảng rất kiên cố có thể đi biển được.

(4) Nàng hương: Nàng hầu của quan slay. Trong thực tế, đây là hai cô gái đẹp chưa chồng, đến phục dịch trà thuốc cho thầy pụt cúng. Theo quan niệm mê tín cũ, những cô gái này khi chết cũng vẫn làm nàng hầu cho quan slay ở xứ ma.

(5) Bời bời: Đông đúc.

(6) Slay: Quan cai trị ở “cõi ma” (âm phủ).

(7) Binh mã: Xe ngựa, quân lính nơi cõi âm. 

(8) Chợ Đường Chu: Chợ ở “xứ ma”.   

(9) Sa dạ sa dồng: Những người làm phu phen đầy tớ cho các quan slay ở cõi âm.

Tóm tắt: Vượt biển là truyện thơ dân gian của dân tộc Tày – Nùng, dài khoảng 1000 câu thơ. Nội dung như sau: Có hai anh em mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau. Người anh sau này khi lấy vợ thì trở nên lạnh nhạt, bỏ mặc em sống nghèo đói. Người chị dâu thương tình, vá áo cho em chồng, chẳng may làm in những ngón tay đang nhuộm chàm lên lưng áo rách. Người anh ghen tuông khiến em bị chết oan ức. Linh hồn em không nơi nương tựa, bị các quan slay ở cõi âm bắt làm sa dạ sa dồng – phu chèo thuyền vượt biển. Mỗi lần vượt biển phải trải qua hành trình mười hai rán nước vô cùng hiểm nguy. Tác phẩm này được các thầy cúng đọc trong các lễ cầu hồn, cầu mát, được phổ biến rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, Bắc Kạn.

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.

Câu 2. Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?

Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?

Câu 5. Những âm thanh nào được thể hiện trong đoạn thơ: Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền? Những âm thanh đó gợi cho em cảm xúc gì?

108
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản


Người kể trong văn bản là người kể thứ nhất, tức nhân vật “tôi” trong truyện. Nhân vật kể lại chính trải nghiệm của mình khi vượt biển, diễn tả trực tiếp cảm giác sợ hãi, lo lắng và cố gắng vượt qua nguy hiểm. Cách kể này giúp người đọc cảm nhận chân thực và sống động hành trình gian nan của nhân vật.


Câu 2. Hình ảnh “biển” trong văn bản có đặc điểm gì?


Hình ảnh biển trong văn bản được miêu tả hung dữ, dữ dội và nguy hiểm:


Biển “nước cuộn thác”, “nước ác kéo ầm ầm”, “nước dựng đứng chấm trời”, “nước sôi gầm réo”.


Biển vừa là thực tại hiểm nguy, vừa là biểu tượng cho thử thách, bão tố của cuộc đời mà con người phải vượt qua.


Biển cũng là đối tượng mà nhân vật phải cầu xin, thuyết phục, thể hiện mối quan hệ con người – thiên nhiên đầy căng thẳng và khát vọng sống.


Câu 3. Chủ đề của văn bản


Chủ đề của văn bản là: khát vọng sống, sức mạnh vượt qua thử thách và ý chí kiên cường của con người trước thiên nhiên và số phận. Đồng thời, truyện cũng phản ánh niềm tin vào cõi tâm linh và các nghi lễ dân gian trong đời sống tinh thần của người Tày – Nùng.


Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?


Các rán nước (từ rán thứ sáu đến rán thứ mười hai) là biểu tượng cho những thử thách, khó khăn và hiểm nguy liên tiếp mà con người phải đối mặt trong cuộc đời. Mỗi rán nước là một chặng đường gian nan, đòi hỏi ý chí, sự kiên trì và khả năng vượt khó. Chúng tượng trưng cho sự đấu tranh không ngừng để giành lại cuộc sống và tự do, đồng thời phản ánh quan niệm nhân quả và thử thách trong tín ngưỡng dân gian.


Câu 5. Những âm thanh và cảm xúc được gợi lên trong đoạn:


“Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?”


Âm thanh được thể hiện:


“nước sôi gầm réo” → âm thanh dữ dội, vang rền của sóng biển.


Tiếng cầu cứu của nhân vật: “Biển ơi, đừng giết tôi, Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền?” → âm thanh kêu van, lo sợ.


Cảm xúc gợi lên:


Sợ hãi, căng thẳng, lo lắng trước hiểm nguy.


Khát vọng sống mạnh mẽ, cầu mong an toàn.


Đồng thời tạo cảm giác kịch tính và hồi hộp cho người đọc, giúp nhập vai vào hành trình gian nan của nhân vật.

13 tháng 11 2025

Câu 1. Người kể trong văn bản là người xưng "tôi", xuất hiện trực tiếp qua các câu "Biển ơi, đừng giết tôi", "bây giờ mới biết tôi sống sót", "Sau lưng trơ lại tôi". Đối chiếu với phần tóm tắt, người kể chính là linh hồn của người em trai đã chết oan, bị bắt làm sa dạ sa dồng (phu chèo thuyền) ở cõi âm.

Đọc văn bản sau:Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dông xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dông xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen" như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ.

Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu". Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đầm đầm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người có nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bắn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định đề tài của đoạn trích.

Câu 2: Chỉ ra 2 biểu hiện của cái "tôi" của tác giả trong đoạn trích.

Câu 3: Cho biết tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn: "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng." .

Câu 4: Nêu tác dụng của yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích.

Câu 5: Thông điệp nào có ý nghĩa quan trọng nhất đối với Anh/Chị? Vì sao?

5
13 tháng 11 2025

Câu 1: Đề tài của đoạn trích là vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của con Sông Đà dưới góc nhìn say đắm, tài hoa và đầy cá tính của nhà văn Nguyễn Tuân.

13 tháng 11 2025

Câu 2: Chỉ ra 2 biểu hiện của cái "tôi" của tác giả trong đoạn trích

Cái "tôi" của Nguyễn Tuân (một cái "tôi" uyên bác, tài hoa và giàu lòng yêu nước) được thể hiện rất rõ qua:

- Cái "tôi" say đắm, trực tiếp tham gia vào quan sát: Tác giả không miêu tả Sông Đà một cách khách quan mà bộc lộ rõ sự si mê của mình. (Ví dụ: "Tôi đã nhìn say sưa làn mây...", "tôi đã xuyên qua đám mây...").

- Cái "tôi" giàu lòng tự tôn dân tộc và cá tính mạnh mẽ: Tác giả thể hiện quan điểm rõ ràng, bác bỏ cách gọi mang tính miệt thị của thực dân Pháp ("Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen... gọi bằng một cái tên Tây láo lếu"). (Ngoài ra, có thể kể đến cái "tôi" lãng mạn, xem Sông Đà như một "cố nhân").

5 tháng 11 2025

Dân tộc Việt Nam ta vốn giàu truyền thống "lá lành đùm lá rách", và hành động từ thiện chính là biểu hiện sinh động nhất của tinh thần nhân ái, tương thân tương ái đó. Theo quan niệm của em, từ thiện không chỉ đơn thuần là việc cho đi vật chất như tiền bạc, quần áo, lương thực mà còn là sự sẻ chia về tinh thần: một lời động viên, một ánh mắt cảm thông. Điều cốt lõi làm nên giá trị của hành động này là tấm lòng chân thành, xuất phát từ trái tim muốn giúp đỡ người khác mà không vụ lợi hay mong cầu danh tiếng. Những việc làm tử tế dù nhỏ bé, nếu được thực hiện bằng cái tâm trong sáng, sẽ giúp xoa dịu nỗi đau, gieo niềm tin vào cuộc sống cho những mảnh đời bất hạnh. Hơn hết, làm từ thiện cũng chính là làm giàu có tâm hồn mình, khiến cuộc sống trở nên ý nghĩa và xã hội văn minh, ấm áp hơn.

6 tháng 11 2025

Các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới gồm:

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thế kỷ XVIII – XIX) với máy hơi nước và sản xuất hàng loạt.

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (cuối thế kỷ XIX – đầu XX) gắn với điện, động cơ đốt trong, đường sắt, hoá chất.

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (giữa thế kỷ XX) với điện tử, tin học, tự động hoá.

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hiện nay) với trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, robot.

Tác động tích cực: Những cách mạng này giúp tăng năng suất lao động, tạo nhiều sản phẩm mới, thay đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao mức sống và mở rộng giao lưu khoa học kỹ thuật. Con người được giải phóng khỏi nhiều lao động nặng nhọc. Tác động tiêu cực: Công nghiệp quy mô lớn gây khai thác cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường; máy móc thay thế con người làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp; khoảng cách giàu nghèo tăng, một số phát minh bị sử dụng trong vũ khí hủy diệt.

 Hành động làm từ thiện là một nghĩa cử cao đẹp, xuất phát từ lòng trắc ẩn và tình yêu thương giữa con người với con người. Đó không chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ về vật chất mà còn là sự sẻ chia, động viên về mặt tinh thần, mang lại niềm tin và hy vọng cho những mảnh đời kém may mắn. Quan niệm về làm từ thiện cần được nhìn nhận một cách thấu đáo và toàn diện. Làm từ thiện không phải là một hành động phô trương hay để đánh bóng tên tuổi, mà là sự tự nguyện, âm thầm và chân thành. Giá trị của việc làm từ thiện không nằm ở số tiền hay món quà lớn hay nhỏ, mà nằm ở tấm lòng của người cho và sự cần thiết đối với người nhận. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, sự giúp đỡ kịp thời có ý nghĩa hơn bất cứ sự giúp đỡ nào khác. Tuy nhiên, làm từ thiện cũng cần có sự hiểu biết và tổ chức khoa học. Việc trao quà cần đúng đối tượng, đúng nhu cầu, tránh tình trạng lãng phí hoặc tạo ra sự ỷ lại. Các tổ chức từ thiện uy tín đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối những tấm lòng hảo tâm với những người thực sự cần giúp đỡ. Tóm lại, hành động làm từ thiện là một nét đẹp văn hóa cần được lan tỏa trong xã hội. Mỗi người, tùy theo khả năng của mình, đều có thể đóng góp một phần nhỏ bé để tạo nên một cộng đồng nhân ái, ấm áp và tốt đẹp hơn.
Câu 1. (2.0 điểm)     Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về ý thức bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống của giới trẻ Việt Nam hiện nay. Câu 2. (4.0 điểm)     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong bài thơ sau:  khói chiều cõng một hoàng hônbờ vai bà cõng tâm hồn cháu baytrên đường tan học...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm)

     Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về ý thức bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống của giới trẻ Việt Nam hiện nay. 

Câu 2. (4.0 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong bài thơ sau: 

khói chiều cõng một hoàng hôn
bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay
trên đường tan học chiều nay
có ai đốt rạ, khói lay cỏ đồng

sau lưng bà, cháu cứ trông
trông con sông lớn chảy dòng đằng xa
chẳng hay có lắm cỏ hoa
chiều nay đám bạn có ra giỡn cười?

trông vườn trái đã mọng tươi
sáng nay ông bảo điểm mười, ông cho
sáng nay bà nấu thịt kho
về nhà cháu sẽ ăn no bụng tròn…

bánh xe bà đạp quay tròn
bao giờ đi hết đường mòn, bà ơi?
đồng xa đã lặn Mặt Trời
có ai thắp lửa sáng ngời trong sân

đường về ngày ấy thật gần
xe bà đạp hết mấy lần đến nơi
ngồi sau bà, cháu mải chơi
mà quên ngắm một Mặt Trời cạnh bên.

sau này khi đã lớn lên
đôi khi quanh quẩn, cháu quên đường về
ngẩng đầu thấy giữa trời quê
hai Mặt Trời dẫn lối về cháu đi.

                                               (Lam)

49
22 tháng 12 2025

Câu 1

Bài làm

Trong dòng chảy hội nhập và phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại, việc bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống đang trở thành vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay. Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, là cội nguồn làm nên bản sắc dân tộc, giúp mỗi con người hiểu mình là ai, đến từ đâu. Tuy nhiên, trước sự tác động của lối sống hiện đại và văn hóa ngoại lai, một bộ phận giới trẻ đang dần thờ ơ, xem nhẹ những giá trị truyền thống như phong tục, tập quán, tiếng Việt, trang phục dân tộc hay các lễ hội cổ truyền. Bên cạnh đó, đáng tiếc thay, vẫn có nhiều bạn trẻ ý thức rõ vai trò của mình khi tích cực tìm hiểu lịch sử, trân trọng các giá trị văn hóa quê hương, lan tỏa nét đẹp truyền thống qua mạng xã hội và đời sống hằng ngày. Điều đó cho thấy, giữ gìn văn hóa không phải là khước từ cái mới mà là biết chọn lọc, tiếp thu tinh hoa nhân loại trên nền tảng bản sắc dân tộc. Mỗi bạn trẻ cần nâng cao ý thức trách nhiệm, bắt đầu từ những hành động nhỏ để văn hóa truyền thống luôn được gìn giữ và tỏa sáng trong đời sống hôm nay.

Câu 2

Bài làm

Bài thơ “Hai Mặt Trời” của Lam là một khúc hát dịu dàng, thấm đẫm tình bà cháu và tình quê hương sâu nặng. Qua những hình ảnh mộc mạc, gần gũi của làng quê Việt Nam, tác giả đã khắc họa thành công vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật đầy cảm xúc, để lại dư âm lắng sâu trong lòng người đọc.

23 tháng 12 2025

Câu 1

Trong thời kỳ hội nhập và phát triển, việc bảo vệ và giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam hiện nay.

Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử dân tộc, thể hiện qua phong tục, tập quán, lối sống, ngôn ngữ và các giá trị đạo đức tốt đẹp. Đối với giới trẻ, giữ gìn văn hóa không chỉ là trân trọng quá khứ mà còn là cách khẳng định bản sắc trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy một bộ phận thanh niên còn thờ ơ với truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại, có cách ăn mặc và ứng xử chưa phù hợp với thuần phong mỹ tục. Điều này khiến nhiều giá trị văn hóa dần bị mai một. Trước thực trạng đó, mỗi người trẻ cần nâng cao ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc bằng những hành động cụ thể: sử dụng tiếng Việt trong sáng, cư xử lễ phép, tôn trọng các phong tục truyền thống, tích cực tìm hiểu lịch sử và tham gia các hoạt động văn hóa cộng đồng. Đồng thời, giới trẻ cũng cần biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới một cách chọn lọc, không đánh mất bản sắc dân tộc.

Khi giới trẻ có ý thức và trách nhiệm, những nét đẹp văn hóa truyền thống sẽ được gìn giữ và lan tỏa lâu bền.

Câu 2

Bài thơ Khói chiều của Lam mang đến cho người đọc một thế giới thơ rất riêng – nơi những hình ảnh đời thường của làng quê, gia đình và tuổi thơ được xếp đặt theo dòng cảm xúc tự nhiên, mơ hồ mà sâu sắc. Không kể chuyện theo trình tự rõ ràng, bài thơ giống như những mảnh ký ức vụn vỡ, lặng lẽ hiện lên trong làn khói chiều bảng lảng, gợi nhiều suy ngẫm về thời gian và tình thân.

Về phương diện nội dung, Khói chiều trước hết là bản hòa ca của tuổi thơ hồn nhiên trong không gian quen thuộc sau buổi tan học. Hình ảnh “hoàng hôn bờ vai”, “đường tan học chiều nay” gợi cảm giác thân thương, gần gũi, như thể người đọc cũng đang bước đi cùng “cháu” trên con đường làng yên ả. Trong khoảnh khắc ấy, thiên nhiên và con người hòa vào nhau, tạo nên một bức tranh chiều êm đềm, giàu chất trữ tình. Câu hỏi “có ai bước ra khỏi hôm nay” vang lên như một tiếng tự vấn non nớt nhưng đầy ám ảnh, thể hiện sự cảm nhận ban đầu của đứa trẻ về dòng chảy không ngừng của thời gian.Đi sâu hơn, bài thơ khắc họa đậm nét tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu. Hình ảnh bà xuất hiện lặng lẽ, không lời giải thích, nhưng lại mang ý nghĩa lớn lao. “Sau lưng bà” là cả một thế giới bình yên, nơi đứa cháu có thể tựa vào, quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng ánh nhìn trong trẻo. Bà hiện lên như biểu tượng của sự chở che, nhẫn nại và yêu thương âm thầm – những giá trị truyền thống bền vững của gia đình Việt Nam. Cùng với bà, hình ảnh ông với lời dặn về “điểm 10 cho sự với bạn thì khó” không chỉ phản ánh sinh hoạt đời thường mà còn gửi gắm bài học đạo đức sâu sắc: nhân cách, sự trung thực luôn đáng quý hơn thành tích bề nổi.Thiên nhiên trong Khói chiều cũng mang chiều sâu biểu tượng. Dòng sông “chảy dòng kia” gợi liên tưởng đến dòng đời miên man, lặng lẽ trôi qua trước mắt con người. Đứa cháu “cứ trông con sông lớn” như đang đối diện với những câu hỏi đầu tiên về cuộc sống, về tương lai, dù chưa thể gọi tên. Chính sự đan xen giữa cảnh vật và tâm trạng đã làm nên sức gợi cảm đặc biệt cho bài thơ.Về nghệ thuật, điểm nổi bật của Khói chiều là hình thức thơ tự do, không ràng buộc niêm luật, giúp cảm xúc được tuôn chảy tự nhiên. Cách ngắt nhịp linh hoạt, nhiều câu thơ dài như lời kể, lời nghĩ thầm, tạo nên nhịp điệu chậm rãi, phù hợp với không khí chiều tà. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu tính khẩu ngữ nhưng được sắp xếp tinh tế, khiến những điều bình dị trở nên có chiều sâu. Bên cạnh đó, giọng điệu thơ nhẹ nhàng, man mác buồn, pha chút suy tư đã góp phần thể hiện thành công thế giới nội tâm tinh tế của nhân vật trữ tình.

Nhìn chung, Khói chiều của Lam không gây ấn tượng bằng những hình ảnh lớn lao hay cảm xúc mãnh liệt, mà chinh phục người đọc bằng sự giản dị, chân thành. Qua những lát cắt ký ức tuổi thơ và tình thân gia đình, bài thơ để lại dư âm lắng sâu, nhắc nhở mỗi người biết trân trọng những khoảnh khắc bình yên đã và đang trôi qua trong đời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:Quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam       […] Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Quần thể di tích Cố đô Huế − di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam

       […] Nằm giữa lòng Huế, bên bờ Bắc của con sông Hương dùng dằng chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn đang sừng sững trước bao biến động của thời gian. Đó là Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, ba tòa thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế − đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh... Nhìn từ phía ngược lại, những công trình kiến trúc ở đây như hòa lẫn vào thiên nhiên tạo nên những tiết tấu diệu kỳ khiến người ta quên mất bàn tay con người đã tác động lên nó.

Ngữ văn 11, Đọc hiểu văn bản thông tin, olm

 Ảnh: Cố đô Huế

       Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành − nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.

       […] Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Lăng vua đôi khi lại là một cõi thiên đường tạo ra cho chủ nhân thú tiêu dao lúc còn sống, rồi sau đó mới trở thành cõi vĩnh hằng khi bước vào thế giới bên kia. Hàm nghĩa như vậy nên kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam. Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Đức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...

       Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữ trong lòng bao nhiêu công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với thể chế của hoàng quyền mà cách phối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục. Song song với Kinh thành vững chãi bảo vệ bốn mặt, Trấn Bình Thành án ngữ đường sông, Trấn Hải Thành trấn giữ mặt biển, Hải Vân Quan phòng ngự đường bộ phía Nam, cả một hệ thống thành lũy của Kinh đô song không mấy ai để ý đến tính quân sự của nó vì nghệ thuật kiến trúc đã đạt đến đỉnh cao. Đan xen giữa các khu vực kiến trúc cảnh vật hóa độc đáo ấy, chúng ta còn có thể tham quan đàn Nam Giao − nơi vua tế trời; đàn Xã Tắc − nơi thờ thần đất, thần lúa; Hổ Quyền − đấu trường duy nhất dành cho voi và hổ; Văn Miếu − nơi thờ Khổng Tử và dựng bia khắc tên Tiến sĩ văn thời Nguyễn; Võ Miếu − nơi thờ các danh tướng cổ đại và dựng bia khắc tên Tiến sĩ võ; điện Hòn Chén − nơi thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na... còn quá nhiều những thắng tích liên quan đến triều Nguyễn hòa điệu trong những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, Vọng Cảnh, Thiên Thai, Thiên An, Cửa Thuận... thực sự là những bức tranh non nước tuyệt mỹ.  

       […] Với một di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới. Di sản Huế đang được bảo tồn rất tốt bởi những nỗ lực không mệt mỏi của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế, của Bộ Văn hóa Thông tin, mà trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ngày 11 tháng 12 năm 1993, cả nước hân hoan đón mừng Quần thể di tích Cố đô được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới; ngày 7 tháng 11 năm 2003 vừa qua, văn hóa Huế một lần nữa được đăng quang khi Âm nhạc cung đình Huế: Nhã nhạc (triều Nguyễn) đã được UNESCO ghi tên vào danh mục Các Kiệt tác Di sản phi vật thể của nhân loại. Hẳn không chỉ như vậy, với một công cuộc bảo tồn lớn lao theo những tiêu chuẩn cao nhất của Di sản Thế giới, kho tàng văn hóa Huế sẽ còn nở rộ những đóa hoa nghệ thuật khác nữa. “Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn” cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta.

(Theo thuathienhue.gov.vn)

Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nào?

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Theo em, vì sao văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp? 

Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. 

Câu 5. Từ nội dung của văn bản, em có những suy nghĩ, cảm nhận gì về quần thể khu di tích Cố đô Huế?

59
13 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Cầu 3.

Văn bản

Quần thể di tích Cố đô Huế

di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
  • Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 4.

  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế.
  • Tác dụng

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn.

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế

Câu5



18 tháng 12 2025

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích

Cố đô Huế.

Câu 2


Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Câu 3

Văn bản

Quần thể di tích Cố đô Huế

di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt

Nam

vì:

được coi là một văn bản thông tin tổng hợp

- Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu

- Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ

Câu 4

- Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô

Huế.

- Tác dụng:

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế