ét ô ét ! Ai cứu mình với .cho mình tham khảo bài của các bạn với . Bài văn tả phong cảnh .cần GẤP !!!!!!ω
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Lá: Thường có dạng bản dẹt, phiến lá rộng giúp thu nhận được nhiều ánh sáng. Lá thường xếp so le và mặt lá thường vuông góc với tia sáng mặt trời để thu nhận được nhiều ánh sáng nhất. - Gân lá: Có mạch dẫn, phân bố dày đặc có vai trò dẫn nước cho quá trình quang hợp và dẫn các sản phẩm quang hợp đến các cơ quan khác.
Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!
Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!
In the spring, it's warm and rainy, with flowers everywhere
ẩn dụ cho những khó khăn, trở ngại, thách thức mà chúng ta luôn phải đối mặt trong cuộc sống, đó là quy luật tất yếu
I. Địa lý (Lớp 9): Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Yêu cầu: “Trình bày thế mạnh nổi bật và vai trò của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL”. Theo gợi ý, ta phân tích lần lượt thế mạnh (TM) và khó khăn (KK) của từng thành tố tự nhiên, rồi kết luận vai trò chung.
1. Thế mạnh – Khó khăn của địa hình và đất đai
- Thế mạnh (TM):
- Địa hình thấp, bằng phẳng:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hạ tầng giao thông, nuôi trồng, phát triển nông nghiệp quy mô lớn.
- Dễ cơ giới hóa, cơ giới hóa canh tác (cày xới, thu hoạch, bơm tiêu nước).
- Nhiều vùng đất phù sa mới bồi:
- Đất đai chủ yếu là phù sa dốc, mịn, màu mỡ (đặc biệt ở Tiền Giang, Cần Thơ, Cà Mau, Bến Tre…), rất thuận lợi cho cây lúa, cây ăn trái, dừa, mía,…
- Bề mặt phẳng nên dễ đào đắp ao hồ, kênh mương để nuôi trồng thủy sản.
- Khó khăn (KK):
- Địa hình quá thấp (< 2 m so với mực nước biển):
- Dễ ngập mặn, ngập lũ vào mùa mưa.
- Kinh tế nông nghiệp phải phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi, rào cản đê bao, cống đập để ngăn mặn, tiêu úng.
- Đất có một số nơi mặn xâm nhập, phèn:
- Ở ven biển, hậu phương sông lớn (như huyện Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Sóc Trăng) thường bị phèn chua, mặn xâm thực vào mùa khô.
- Cần tốn kém đầu tư tiền của để cải tạo, bón vôi khử phèn, làm đê ngăn mặn, đào kênh dẫn ngọt.
2. Thế mạnh – Khó khăn của khí hậu và không khí
- TM:
- Khí hậu cận xích đạo, nhiệt đới ẩm gió mùa:
- Nhiệt độ quanh năm cao, dao động nhỏ (từ 25–28 °C), lượng mưa lớn (khoảng 1 500–2 500 mm/năm).
- Thích hợp cho sản xuất “nông nghiệp hai vụ lúa + cây ăn quả nhiệt đới” (me, xoài, sầu riêng, bưởi, tiêu, hồ tiêu, mía, đậu…).
- Mùa mưa – mùa khô phân rõ:
- Mùa mưa (khoảng tháng 5–11) đủ nước tưới, thuận lợi cho cây lúa nước, nuôi trồng thủy sản nước ngọt, cá nước lợ.
- Mùa khô (tháng 12–4) bề mặt khô ráo, thuận lợi cho việc thu hoạch, phơi sấy nông sản, thi công công trình.
- KK:
- Mùa khô kéo dài (tháng 12–4), hạn hán cục bộ:
- Vùng ven biển, cù lao dễ bị thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn sâu, làm giảm năng suất lúa, vườn cây ăn trái.
- Cần xây dựng hệ thống đê bao, trạm bơm, hồ chứa để chủ động nguồn nước.
- Mùa mưa thường kèm bão, lũ lụt:
- Mưa to ở thượng lưu (Mekong trên đất Lào, Campuchia) làm nước dâng cao, dễ gây ngập lụt diện rộng.
- Thời điểm cuối mùa mưa, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng tăng do thủy triều và khô hạn kết hợp.
3. Thế mạnh – Khó khăn của hệ thống sông ngòi
- TM:
- Mạng lưới sông ngòi dày đặc (mạng sông Tiền, sông Hậu và vô số kênh rạch lớn – nhỏ):
- Cung cấp nước tưới, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy nội địa (vận chuyển nông – thủy sản, hàng hoá, hành khách).
- Nước sông bồi đắp phù sa hàng năm, giúp đất đai tươi tốt.
- Thuỷ sản nước ngọt, nước lợ phát triển:
- Lợi dụng ao hồ, kênh rạch để nuôi cá tra, basa, tôm càng xanh, cá lóc, cá rô phi… chất lượng cao.
- Hệ sinh thái đặc trưng (rừng ngập mặn, rừng tràm) giúp tạo vùng đệm sinh thái, nuôi trồng thủy sản bền vững.
- KK:
- Ngập lũ và xâm nhập mặn:
- Vào mùa mưa, lượng nước thường tăng cao gây ngập rộng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
- Hơn nữa, vào cuối mùa khô, thủy triều lên, nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, vùng ven biển.
- Bão tố, lốc xoáy mùa mưa:
- Một số năm xuất hiện bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh làm sạt lở bờ sông, bờ biển (Ven biển Cà Mau – Sóc Trăng – Bạc Liêu), gây sạt lở đất, ảnh hưởng đến sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản.
4. Thế mạnh – Khó khăn của sinh vật (động – thực vật)
- TM:
- Đa dạng sinh học rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng gỗ lớn:
- Rừng U Minh, rừng tràm Trà Sư (An Giang), rừng phòng hộ Cần Giờ (TP HCM): Nuôi dưỡng nhiều loài thủy sản, chim, thú.
- Các khu bảo tồn (Vườn quốc gia Tràm Chim, Vườn quốc gia Láng Sen) là nguồn gen thủy hải sản, cây dược liệu quý.
- Rừng ngập mặn ven biển:
- Là “vựa tôm, cá vùng ven biển”.
- KK:
- Rừng ngập mặn, rừng tràm bị khai thác quá mức, ô nhiễm:
- Nhiều vùng rừng đã bị chặt phá để nuôi trồng thủy sản công nghiệp (tôm thẻ chân trắng), dẫn đến suy thoái sinh thái.
- Ô nhiễm nguồn nước, chất thải từ nuôi trồng thủy sản, khiến nhiều loài đặc hữu bị ảnh hưởng.
- Diện tích rừng ngập mặn ngày càng thu hẹp:
- Làm mất đệm sinh thái, mặt bằng để bảo vệ bờ biển chống sạt lở, cản bão, hạn chế nguồn lợi thủy sản.
5. Thế mạnh – Khó khăn của biển – đảo
- TM:
- Bờ biển dài gần 740 km, có nhiều cửa sông ra biển (cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Láng…):
- Tạo điều kiện thuận lợi cho đánh bắt, nuôi trồng hải sản (sò huyết, nghêu, cá biển, tôm biển) ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
- Nguồn lợi thủy hải sản phong phú:
- Khu vực biển Vịnh Thái Lan (ven Bạc Liêu, Cà Mau) có ngư trường biển, hải sản biển đa dạng (cá thu, mực, cá nục,…).
- Một số đảo ven biển (Phú Quốc thuộc Kiên Giang) trở thành “trung tâm du lịch biển” quan trọng.
- KK:
- Biển Đông và Vịnh Thái Lan chịu tác động bão (mặc dù ĐBSCL ít bão trực tiếp nhưng vẫn chịu ảnh hưởng gió bão từ Biển Đông lan sâu):
- Vào mùa mưa, triều cường và gió lớn dễ gây xâm nhập mặn mạnh hơn, sạt lở bờ biển.
- Khó khăn trong hạ tầng cảng biển:
- Mực nước sông, biến đổi thủy triều phức tạp khiến nhiều cảng ven biển (Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) chưa đủ sâu để đón tàu trọng tải lớn.
- Cần đầu tư nạo vét, hiện đại hóa cảng để kết nối thuận lợi với vùng Đông Nam Bộ, TP HCM.
6. Thế mạnh – Khó khăn của khoáng sản
- TM:
- Bạc, dầu khí, cát xây dựng, titan, sa khoáng:
- Lưu vực sông Hậu (An Giang, Kiên Giang) có một số mỏ sa khoáng (cát biển, titan, zircon) phục vụ công nghiệp luyện kim, sản xuất gốm sứ, thủy tinh.
- Ngoài ra, vùng biển ven Cà Mau, Bạc Liêu có tiềm năng dầu khí (tuy chưa khai thác nhiều).
- KK:
- Tài nguyên khoáng sản không phong phú và phân bố rải rác:
- Hầu hết là khoáng sản trầm tích (cát, sỏi, sa khoáng) chứ không phải mỏ quặng lớn, nên giá trị kinh tế thấp hơn so với các vùng nhiều tầng khoáng sản trầm tích – siêu mỏ.
- Nếu khai thác cát, khoáng sản không hợp lý, dễ gây sạt lở bờ sông, bờ biển:
- Sạt lở bờ sông, bờ kênh, bờ biển ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng giao thông ven sông.
7. Vai trò của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL
- “Vựa lúa” lớn nhất cả nước
- ĐBSCL đóng góp từ 50–55 % tổng sản lượng lúa cả nước.
- Xuất khẩu lúa gạo (gồm gạo thơm, gạo trắng) chiếm hàng đầu, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng.
- Trung tâm thủy sản nước ngọt, nước lợ
- Chiếm khoảng 70 % sản lượng cá tra, basa và 50 % sản lượng tôm của cả nước.
- Cung cấp nguồn hải sản vùng ven biển, phát triển nuôi trồng thủy sản công nghiệp, đem lại giá trị xuất khẩu lớn.
- Nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến
- Hàng loạt nhà máy xay xát gạo, chế biến hàng nông sản, sản xuất đường, chế biến thủy sản tập trung ở Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau…
- Gần kề TP HCM – cửa ngõ xuất khẩu, thuận lợi cho logistics, cầu cảng.
- Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối
- Nhiều vùng trồng mía (Bạc Liêu, Sóc Trăng) phục vụ nhà máy ethanol, điện sinh khối.
- Mạng lưới sông ngòi và hệ thống kênh rạch có thể phát triển thủy điện nhỏ, nhiệt điện khí đốt ở ven biển Cà Mau.
- ...
Sau dầu khí, loại khoáng sản được khai thác nhiều nhất hiện nay là cát thủy tinh. Cát trắng là nguyên liệu cho công nghiệp thủy tinh, pha lê có nhiều ở đảo Vân Hải (Quảng Ninh) và Cam Ranh (Khánh Hòa).
Câu 17. Sau dầu khí, loại khoáng sản nào dưới đây được khai thác nhiều
nhất hiện nay?
A. San hô.
B. Cát thuỷ tỉnh.
C. Muối
D. Pha lê.

Bài văn tả phong cảnh quê hương buổi chiều tà
Quê hương tôi, nơi chôn rau cắt rốn, luôn mang trong mình vẻ đẹp bình dị mà sâu lắng. Đặc biệt, khung cảnh buổi chiều tà nơi đây luôn khiến lòng tôi xao xuyến, một nỗi nhớ nhung da diết mỗi khi xa cách.
Khi ánh dương bắt đầu dịu dần, nhuộm cả không gian một màu vàng cam ấm áp. Những tia nắng cuối ngày cố gắng len lỏi qua hàng tre xanh mướt ven sông, tạo nên những vệt sáng lung linh nhảy múa trên mặt nước. Dòng sông quê hiền hòa, uốn lượn mềm mại như một dải lụa đào, lững lờ trôi mang theo những cánh bèo lục bình nhè nhẹ.
Hai bên bờ sông, những cánh đồng lúa chín vàng óng ả trải dài như tấm thảm khổng lồ. Gió chiều thổi nhẹ, làm những bông lúa khẽ lay động, tạo nên những làn sóng vàng bất tận. Hương lúa thơm nồng quyện vào trong không khí, mang đến một cảm giác thanh bình, no ấm.
Xa xa, những rặng núi sừng sững hiện lên trong màn sương mỏng màu tím nhạt. Hình dáng núi non hùng vĩ trở nên mềm mại hơn dưới ánh chiều tà, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Vài cánh cò trắng chao liệng trên không trung, rồi từ từ đáp xuống những thửa ruộng đã gặt xong, kiếm tìm chút thức ăn còn sót lại.
Trên con đường làng nhỏ, những đứa trẻ nô đùa ríu rít, tiếng cười trong trẻo vang vọng cả một vùng quê yên tĩnh. Những bà mẹ tất bật trở về nhà sau một ngày làm việc vất vả trên đồng, trên vai gánh nặng trĩu hạt lúa mới. Khói bếp lam chiều bắt đầu lan tỏa, quyện vào mùi rơm rạ, tạo nên một thứ hương vị đặc trưng của làng quê mà không nơi nào có được.
Đứng giữa khung cảnh ấy, lòng tôi bỗng trở nên nhẹ nhàng và thư thái lạ thường. Mọi lo toan, bộn bề của cuộc sống dường như tan biến hết. Chỉ còn lại một tình yêu quê hương sâu sắc, một niềm tự hào về những vẻ đẹp giản dị mà thân thương này.
Buổi chiều tà ở quê hương tôi không chỉ là một khoảnh khắc thời gian, mà còn là một bức tranh tuyệt đẹp, một khúc nhạc êm dịu, khắc sâu vào trái tim tôi những cảm xúc khó tả. Dù đi đâu về đâu, hình ảnh hoàng hôn trên dòng sông quê, cánh đồng lúa vàng và những mái nhà thân thương vẫn luôn là ký ức đẹp đẽ nhất trong tâm hồn tôi.
Sáng sớm, khi những tia nắng đầu tiên còn khe khẽ vươn mình qua hàng dừa trước sân, em cùng bà ra bờ sông nhỏ cạnh nhà. Làn sương mỏng còn phủ lên mặt nước, khiến bóng lục bình trôi lững lờ như những chiếc bè mềm mại. Nước sông trong veo, có thể nhìn thấy đàn cá vàng lấp ló dưới đáy, đôi khi chúng bơi lên mặt nước, vẫy vẫy như chào bình minh. Trên bầu trời, những cánh cò trắng vội vã bay về tổ, để lại tiếng vỗ cánh khẽ khàng như ngân nga khúc hát đầu ngày.
Xa xa, con đường làng hai bên rợp bóng tre xanh mơn mởn. Tiếng lá xào xạc theo gió như thì thầm lời chúc một ngày mới an lành. Bên mé ruộng, lúa xanh rờn đang thì con gái, từng bông lúa nhỏ li ti nghiêng mình đón sương mai. Hoa sen từ bờ ao hé nụ, ngát hương thanh khiết lan tỏa vào không gian, khiến lòng người như dịu lại. Mùi thơm của hoa sen hòa quyện với hương rơm khô từ đống rạ bên bờ ruộng tạo nên một bản giao hưởng mộc mạc mà say đắm.
Em thích nhất là lúc mặt trời lên cao, nắng vàng trải đều khắp cánh đồng. Mỗi lần ngước nhìn, em thấy cuộc sống này thật bình yên và đáng yêu. Phong cảnh quê em không chỉ đẹp mắt mà còn chứa đựng tình người ấm áp, xua đi bao muộn phiền. Em luôn tự hào vì được sinh ra và lớn lên nơi vùng sông nước yên bình này, nơi chứa đựng biết bao kỷ niệm tuổi thơ ngọt ngào.