Đọc văn bản sau:
Lúa chín
Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng
Gió nâng tiếng hát chói chang
Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời.
Gặt lúa
Tay nhè nhẹ chút người ơi
Trông đôi hạt rụng hạt rơi xót lòng
Dễ rơi là hạt đầu bông
Công một nén, của một đồng là đây.
Tuốt lúa
Mảnh sân trăng lúa chất đầy
Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình
Rơm vò từng búi rối tinh
Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi.
Phơi khô
Nắng non mầm mục mất thôi
Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn
Nắng già hạt gạo thêm ngon
Bưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho.
Quạt sạch
Cám ơn cơn gió vô tư
Quạt đi vù vù rác rưởi vương rơi
Hạt nào lép cứ bay thôi
Gió lên cho lúa sáng ngời mặt gương!
(1) Một bức tranh về mùa gặt ở nông thôn miền Bắc những năm hợp tác hóa nông nghiệp đã được nhà thơ Nguyễn Duy miêu tả bằng những nét không thể lẫn. Một mùa vàng bát ngát với những cánh đồng lúa chín, với cái nắng tháng năm chói chang, với liềm hái và những cánh cò, với tiếng máy tuốt lúa rộn rã đêm trăng,.... Tất cả tạo nên một không khí đầm ấm, thanh bình mà ta đã từng gặp những nơi thôn quê khi mùa gặt đến.
(2) […] Đây là không gian mùa gặt. Cái nắng gắt gao hình như không phải từ trên trời xuống, mà như ngược lại được "phả" từ cánh đồng lên: đồng lúa rộng quá, màu vàng của lúa chín còn sáng ngợp hơn cả nắng trời, đến nỗi nó làm đảo lộn cả tương quan của tự nhiên trong cảm nhận của con người. Chỉ nội một chữ “phả” đã gợi được không gian và cái nóng hầm hập của thời tiết. Người ta vẫn nói “cánh cò chở nắng”, còn ở đây nhà thơ thấy cánh cò dẫn gió. Hình ảnh có sự khác nhau, nhưng ấn tượng mà nó đem đến chỉ là một: thiên nhiên chợt có hồn trong một cánh cò mải miết bay ngang. Gió đã có hồn, nó nâng tiếng hát hay chính nó là tiếng hát ấy trên vòm cao chói chang? Đến những lưỡi hái cũng sáng lên như những tia chớp nhỏ, cần mẫn “liếm ngang chân trời”. Bốn dòng thơ trong khổ đầu, cứ một dòng gợi ý niệm cao, lại một dòng gợi ý niệm rộng. Sự kết hợp giữa chúng mở ra một không gian rộng lớn và sống động của những ngày mùa gặt hái nơi đồng quê.
(3) Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình”. Cái sân nông thôn ngày thường rộng thế, nói “sân trăng” thì còn rộng hơn nữa. Cái rộng rãi, đẹp của ánh trăng ngàn đời nơi thôn dã đã gặp gỡ vẻ đẹp của sự no ấm nơi đây, nhường chỗ cho những đồng lúa chất cao ngồn ngộn một vẻ rất đời thường. Hơn thế nữa, những náo nức của mùa gặt đã đánh thức cả ánh trăng vốn tĩnh lặng; dưới ánh trăng, trong nhịp máy quay rộn ràng, những hạt lúa chín mẩy chảy tràn trông như thể “vàng tuôn”. Câu thơ có vẻ sáo, nhưng bù lại, nó đã thể hiện rất hồn nhiên cái tình cảm của một anh nhà nghèo, xoa tay sung sướng trước những thành quả do mình làm ra.
(4) Ấy vậy nhưng người nông dân ở nhà thơ Nguyễn Duy lại rất hay “cả nghĩ”. Luôn có hai thái cực song hành trong tình cảm của người ấy. Xôn xao náo nức là thế khi mùa gặt đến, nhưng tự đáy lòng mình, người ấy vẫn đắm xuống trong một tình cảm lo xa. Thành quả ấy, “của một đồng, công một nén là đây”, cho nên mới phải thốt lên: “Tay nhè nhẹ chút, người ơi/ Trông đôi hạt rụng, hạt rơi xót lòng”. Chuyện đời lúa, đời người cứ lẫn vào nhau, đến nỗi nhìn những bó rơm bị vò nát mà cũng thấy “Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi!”. Lại cả những lo xa đã có từ ngàn đời nảy sinh trên luống cày, vẫn cứ còn nung nấu: “Nắng non mầm mục mất thôi/ Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn”.
[…]
(Trần Hòa Bình, Tiếng hát mùa gặt của Nguyễn Duy, Thơ với lời bình, Nhiều tác giả, tập 2, NXB Giáo dục, 1996)
* Trần Hoà Bình (1956 – 2008) sinh ra tại Hà Tây, là nhà báo, nhà thơ. Ông còn là chuyên gia tâm lý sâu sắc và hóm hỉnh với những lời gỡ rối tâm tình giúp độc giả với bút danh Tầm Thư. Trần Hoà Bình là người đàn ông đa tài. Ông viết báo, làm thơ, vẽ, giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm 2, Học viện Báo chí & Tuyên truyền. Và chỉ với bài thơ Thêm một, Trần Hòa Bình ghi tên mình như một thi sĩ tài hoa trên thi đàn Việt Nam đương đại.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Câu 2. Xác định câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3).
Câu 3. Xác định thành phần biệt lập trong những câu sau:
a. Cái nắng gắt gao hình như không phải từ trên trời xuống, mà như ngược lại được "phả" từ cánh đồng lên: đồng lúa rộng quá, màu vàng của lúa chín còn sáng ngợp hơn cả nắng trời, đến nỗi nó làm đảo lộn cả tương quan của tự nhiên trong cảm nhận của con người.
b. Thành quả ấy, “của một đồng, công một nén là đây”, cho nên mới phải thốt lên: “Tay nhè nhẹ chút, người ơi/ Trông đôi hạt rụng, hạt rơi xót lòng”.
Câu 4. Đoạn (2) sử dụng những cách trích dẫn bằng chứng nào? Tác dụng của việc dùng cách trích dẫn ấy là gì?
Câu 5. Các lí lẽ và bằng chứng được dùng trong đoạn (4) có vai trò như thế nào trong việc thể hiện luận điểm của đoạn văn này?
Câu 6. Em thích nhất điều gì trong nghệ thuật nghị luận của tác giả? Vì sao?
Câu 1. Thể thơ: Tự do.
Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ: Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả.
Câu 3.
- Cảm nhận: Nhan đề Tên làng gợi sự tò mò về một địa danh cụ thể, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng và chứa đựng niềm tự hào về nguồn cội.
+ Tác dụng: Nhan đề đóng vai trò là mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm, giúp thể hiện tư tưởng chủ đạo là tình yêu và sự gắn bó máu thịt của con người đối với quê hương (làng Hiếu Lễ).
Câu 4. Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:
+ Tạo nhịp điệu da diết, nồng nàn cho bài thơ.
+ Nhấn mạnh bản sắc, gốc gác và niềm tự hào của nhân vật trữ tình khi tự định nghĩa bản thân là người đàn ông ở làng Hiếu Lễ.
=> Khẳng định dù đi xa (chiến tranh) hay trở về, dù trải qua bao thăng trầm, con người vẫn luôn gắn bó và mang trong mình linh hồn của quê hương
Câu 5. Nội dung của bài thơ: Bài thơ là lời tâm tình của một người con trai gửi đến mẹ và quê hương. Qua những kỷ niệm về sự trưởng thành, những vết thương sau chiến tranh và cuộc sống đời thường bình dị, tác giả khẳng định sức mạnh nuôi dưỡng của quê hương và tình cảm gắn bó không thể tách rời giữa con người với nơi mình sinh ra
Câu 1. Thể thơ: thơ tự do. Câu 2. Các phương thức biểu đạt: biểu cảm (chính), kết hợp tự sự và miêu tả. Câu 3. Nhan đề “Tên làng” gợi cho em cảm nhận về tình yêu quê hương sâu nặng, thiêng liêng; tên làng không chỉ là địa danh mà còn là cội nguồn, là nơi gắn bó với cuộc đời nhân vật trữ tình. → Nhan đề có tác dụng khái quát nội dung bài thơ, nhấn mạnh niềm tự hào, tình yêu tha thiết với quê hương; đồng thời làm nổi bật ý nghĩa: quê hương trở thành một phần máu thịt, in dấu trong cuộc đời con người. Câu 4. Việc lặp lại nhiều lần dòng thơ “Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ” là biện pháp điệp ngữ. Tác dụng: nhấn mạnh thân phận, nguồn gốc của nhân vật trữ tình; khắc sâu hình ảnh người con của quê hương Hiếu Lễ; thể hiện niềm tự hào, tình cảm gắn bó sâu nặng với làng quê; đồng thời tạo nhịp điệu da diết, tăng sức biểu cảm cho bài thơ. Câu 5. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhân vật trữ tình. Qua hình ảnh người đàn ông từ chiến trường trở về, mang thương tích nhưng được quê hương che chở, nuôi dưỡng, tác giả khẳng định quê hương là cội nguồn yêu thương, là nơi nâng đỡ con người. Đồng thời bài thơ bộc lộ niềm tự hào về tên làng Hiếu Lễ và ý thức gắn bó máu thịt với quê hương.