K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:     Tóm lược: Nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ lấy cảm hứng từ cốt truyện dân gian dựng nên vở kịch nói nổi tiếng cùng tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Vở kịch kể về bi kịch của Trương Ba – một người làm vườn hiền lành, đức độ nhưng vì một sự cố, linh hồn ông phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt phàm tục. Sự khác biệt giữa linh hồn...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

     Tóm lược: Nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ lấy cảm hứng từ cốt truyện dân gian dựng nên vở kịch nói nổi tiếng cùng tên “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Vở kịch kể về bi kịch của Trương Ba – một người làm vườn hiền lành, đức độ nhưng vì một sự cố, linh hồn ông phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt phàm tục. Sự khác biệt giữa linh hồn thanh cao và thân xác đầy bản năng tạo ra mâu thuẫn lớn, khiến Trương Ba ngày càng đau khổ. Ông phải đối mặt với sự thay đổi từ chính mình khi bắt đầu bị ảnh hưởng bởi những đòi hỏi bản năng của thân xác. Đồng thời, gia đình và những người thân yêu cũng dần xa lánh ông vì không còn nhận ra người Trương Ba trước kia. Trong tâm trạng giằng xé, ông có một cuộc đối thoại đầy căng thẳng với chính thân xác hàng thịt – nơi cả hai bên vạch trần những xung đột sâu sắc giữa linh hồn và thể xác. Đoạn trích sau là phần đầu chương 7 của vở kịch, tái hiện “Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác”.

     (Trên sân khấu, hồn Trương Ba tách ra khỏi xác anh hàng thịt và hiện hình lờ mờ trong dáng nhân vật Trương Ba thật. Thân xác bằng thịt vẫn ngồi nguyên trên chõng và lúc này chỉ còn là thân xác.)

Xác hàng thịt: (bắt đầu) Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác...

Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lý, mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù...

Xác hàng thịt: Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy!

Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc!

Xác hàng thịt: Có thật thế không?

Hồn Trương Ba: Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…

Xác hàng thịt: Tất nhiên, tất nhiên. Sao ông không kể tiếp: Khi ông ở bên nhà tôi... Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại... Đêm hôm đó, suýt nữa thì...

Hồn Trương Ba: Im đi! Đấy là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày...

Xác hàng thịt: Thì tôi có ghen đâu! Ai lại ghen với chính thân thể mình nhỉ! Tôi chỉ trách là sao đêm ấy ông lại tự dưng bỏ chạy, hoài của!... Này, nhưng ta nên thành thật với nhau một chút: Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao? Để thoả mãn tôi, chẳng lẽ ông không tham dự vào chút đỉnh gì? Nào, hãy thành thật trả lời!

Hồn Trương Ba: Ta... ta... đã bảo mày im đi!

Xác hàng thịt: Rõ là ông không dám trả lời. Giấu ai chứ không thể giấu tôi được! Hai ta đã hoà với nhau làm một rồi!

Hồn Trương Ba: Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn...

Xác hàng thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!

Hồn Trương Ba: (bịt tai lại) Ta không muốn nghe mày nữa!

Xác hàng thịt: (lắc đầu) Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi. Tôi đã cho ông sức mạnh. Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi... Ha ha!

Hồn Trương Ba: Ta cần gì đến cái sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo.

Xác hàng thịt: Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Đâu phải lỗi tại tôi... (buồn rầu) Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân... Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi... Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác… Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác... Mỗi bữa tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ!

Hồn Trương Ba: Nhưng... Nhưng...

Xác hàng thịt: Hãy công bằng hơn, ông Trương Ba ạ! Từ nãy tới giờ chỉ có ông nặng lời với tôi, chứ tôi thì vẫn nhã nhặn với ông đấy chứ (thì thầm). Tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn...

Hồn Trương Ba: Chiều chuộng?

Xác hàng thịt: Chứ sao? Tôi thông cảm với những “trò chơi tâm hồn của ông”. Nghĩa là: Những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh, vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều xấu gì ông cứ việc đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết: Cần phải để cho tính tự ái của ông được ve vuốt. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện! Hà hà, miễn là... ông vẫn làm đủ mọi việc để thoả mãn những thèm khát của tôi!

Hồn Trương Ba: Lí lẽ của anh thật ti tiện!

Xác hàng thịt: Ấy đấy, ông bắt đầu gọi tôi là anh rồi đấy! Có phải lí lẽ của tôi đâu, tôi chỉ nhắc lại những điều ông vẫn tự nói với mình và với người khác đấy chứ! Đã bảo chúng ta tuy hai mà một!

Hồn Trương Ba: (như tuyệt vọng) Trời!

Xác hàng thịt: (an ủi) Ông đừng nên tự dằn vặt làm gì! Tôi đâu muốn làm khổ ông, bởi tôi cũng rất cần đến ông. Thôi, đừng cãi cọ nhau nữa! Chẳng còn cách nào khác đâu! Phải sống hoà thuận với nhau thôi! Cái hồn vía ương bướng của tôi ơi, hãy về với tôi này!

      (Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào xác hàng thịt. Trên sân khấu, nhân vật Trương Ba biến đi. Chỉ còn lại xác hàng thịt mang hồn Trương Ba ngồi lặng lẽ bên chõng... Vợ Trương Ba vào.)

(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, NXB Kim Đồng, 2021)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định mâu thuẫn chính trong đoạn trích trên.

Câu 2. Chủ đề của đoạn trích trên là gì?

Câu 3. Xác định nghĩa của yếu tố Hán Việt “thuận” trong những câu sau:

a. Phải sống hoà thuận với nhau thôi!

b. Thuyền thuận gió lao đi vun vút.

Câu 4. Phân tích một số lời thoại mà anh/chị cho rằng có tác dụng trong việc thể hiện tính cách của nhân vật Trương Ba.

Câu 5. Anh/ chị đồng tình hay phản đối với những lập luận của phần xác anh hàng thịt trong đoạn trích trên. Hãy lí giải quan điểm của bản thân bằng đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng.

0
30 tháng 3 2025

Trong cuộc sống, mỗi người đều có những ước mơ, khát vọng riêng biệt. Tuy nhiên, ngoài những mong muốn cá nhân, mỗi chúng ta còn phải đối diện với kỳ vọng của gia đình, đặc biệt là trong thời điểm quan trọng như việc chọn ngành nghề, định hướng tương lai. Làm thế nào để dung hòa những mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình là một câu hỏi không dễ dàng và cần có sự suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng.

Đầu tiên, chúng ta cần hiểu rõ kỳ vọng của gia đình và mong muốn của bản thân. Gia đình luôn là người quan tâm và yêu thương chúng ta nhất, họ đặt ra kỳ vọng dựa trên những gì họ cho là tốt nhất cho con cái, thường là một công việc ổn định, có thu nhập cao, hoặc những thành công trong xã hội. Tuy nhiên, đôi khi những kỳ vọng này có thể không phù hợp với sở thích hay đam mê của chúng ta. Chính vì thế, bước đầu tiên là lắng nghe và hiểu rõ quan điểm của gia đình về tương lai của mình, nhưng cũng cần xác định rõ ràng những ước mơ và sở thích cá nhân.

Thứ hai, để dung hòa giữa mong muốn bản thân và kỳ vọng gia đình, cần phải có sự trao đổi thẳng thắn và cởi mở. Việc chia sẻ với gia đình về những đam mê, mục tiêu cá nhân là rất quan trọng. Điều này giúp gia đình hiểu rõ hơn về quyết định của chúng ta và những lý do đằng sau lựa chọn đó. Một cuộc trò chuyện thẳng thắn sẽ giúp giảm bớt sự lo lắng của gia đình khi thấy con cái đi theo con đường không phải lúc nào cũng an toàn. Đồng thời, chúng ta cũng cần lắng nghe và tôn trọng những lý lẽ của họ, vì đôi khi những kỳ vọng đó xuất phát từ tình yêu thương và sự lo lắng cho chúng ta.

Thứ ba, chúng ta cần tìm cách kết hợp những mong muốn cá nhân với kỳ vọng của gia đình một cách hợp lý. Đôi khi, không phải là phải lựa chọn giữa hai điều mà là làm thế nào để cả hai đều được thỏa mãn. Ví dụ, nếu bạn yêu thích nghệ thuật nhưng gia đình lại muốn bạn theo đuổi một ngành nghề ổn định, bạn có thể tìm cách kết hợp giữa đam mê và công việc thực tế. Bạn có thể theo học một ngành nghề ổn định, đồng thời duy trì việc theo đuổi nghệ thuật như một sở thích, hoặc thậm chí phát triển nghệ thuật như một nghề tay trái. Điều này không chỉ giúp bạn giữ vững đam mê mà còn đáp ứng được kỳ vọng của gia đình.

Cuối cùng, sự quyết đoán và kiên trì là yếu tố không thể thiếu. Sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng và có sự trao đổi thẳng thắn với gia đình, nếu bạn chắc chắn rằng con đường mình chọn là đúng đắn và có khả năng thành công, hãy kiên quyết theo đuổi mục tiêu của mình. Thành công không đến từ sự dễ dàng mà là từ sự kiên trì, nỗ lực không ngừng. Đồng thời, chúng ta cũng cần chứng minh cho gia đình thấy rằng sự lựa chọn của mình không phải là một quyết định bốc đồng mà là một con đường có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy trách nhiệm.

Tóm lại, để dung hòa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình, chúng ta cần sự lắng nghe, thấu hiểu và trao đổi cởi mở. Mỗi quyết định trong cuộc sống đều cần phải cân nhắc kỹ lưỡng và có sự hợp lý. Bằng cách tìm ra điểm cân bằng giữa đam mê và kỳ vọng, chúng ta không chỉ có thể đạt được ước mơ của mình mà còn nhận được sự ủng hộ và đồng hành từ gia đình.

Câu 1

Bài làm

Bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn cao quý của Bác. Trước hết, đó là một tâm hồn yêu thiên nhiên sâu sắc. Giữa không gian sông nước tĩnh lặng, Bác cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của dòng sông, ánh trăng và buổi rạng đông hồng tươi. Những hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi đã cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp của cuộc sống. Tuy nhiên, vượt lên trên tình yêu thiên nhiên, Bác còn là người luôn nặng lòng với đất nước. Trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ, Bác vẫn trăn trở, lo lắng cho vận mệnh dân tộc, mong muốn khôi phục giang sơn. Điều đó thể hiện tinh thần trách nhiệm lớn lao và lòng yêu nước sâu sắc. Tâm hồn Bác vì thế vừa thanh cao, giản dị, vừa kiên cường, vững vàng trước mọi thử thách. Qua bài thơ, ta càng thêm kính trọng và học tập ở Bác lối sống đẹp: biết yêu thiên nhiên, sống có lý tưởng và luôn hướng đến lợi ích chung của đất nước.

Câu 2:

Bài làm

Trong cuộc sống, mỗi người đều có những ước mơ và mong muốn riêng. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại những kỳ vọng từ gia đình. Làm thế nào để dung hòa giữa mong muốn cá nhân và kỳ vọng của gia đình là một vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với người trẻ hiện nay. Trước hết, mong muốn của bản thân là điều hoàn toàn chính đáng. Mỗi người sinh ra đều có năng lực, sở thích và ước mơ khác nhau. Khi được sống và theo đuổi đam mê, con người sẽ có động lực học tập, làm việc và dễ đạt được thành công hơn. Nếu chỉ sống theo sự sắp đặt của người khác mà bỏ qua mong muốn của mình, ta dễ rơi vào trạng thái chán nản, mất phương hướng, thậm chí thất bại. Vì vậy, việc lắng nghe chính mình là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, kỳ vọng của gia đình cũng mang ý nghĩa tích cực. Cha mẹ luôn mong muốn con cái có cuộc sống ổn định, hạnh phúc và thành công. Những định hướng của gia đình thường dựa trên kinh nghiệm sống và sự từng trải. Do đó, không nên xem kỳ vọng của gia đình là áp lực tiêu cực, mà cần nhìn nhận đó như một sự quan tâm, lo lắng và định hướng cần thiết.

Để dung hòa hai yếu tố này, điều quan trọng nhất là sự thấu hiểu và giao tiếp. Người trẻ cần mạnh dạn chia sẻ với gia đình về ước mơ, kế hoạch và mục tiêu của bản thân. Khi trình bày rõ ràng, có lý lẽ và định hướng cụ thể, ta sẽ dễ nhận được sự đồng thuận hơn. Đồng thời, cũng cần lắng nghe ý kiến của cha mẹ, biết tiếp thu những lời khuyên đúng đắn để điều chỉnh bản thân.

Bên cạnh đó, mỗi người cần tìm ra điểm cân bằng giữa đam mê và thực tế. Không phải ước mơ nào cũng phù hợp với điều kiện hiện tại. Vì vậy, cần cân nhắc kỹ lưỡng để lựa chọn con đường vừa phát huy được năng lực bản thân, vừa đảm bảo tương lai ổn định. Trong nhiều trường hợp, ta hoàn toàn có thể kết hợp giữa đam mê và định hướng của gia đình, từ đó tạo ra hướng đi phù hợp nhất. Ngoài ra, sự nỗ lực và trách nhiệm của bản thân đóng vai trò quyết định. Khi đã lựa chọn con đường riêng, ta cần kiên trì theo đuổi và chứng minh bằng hành động cụ thể. Thành công sẽ là cách thuyết phục tốt nhất đối với gia đình. Ngược lại, nếu thiếu cố gắng, mọi lý lẽ đều trở nên vô nghĩa.

Tuy nhiên, cũng cần phê phán những trường hợp áp đặt một chiều. Có những gia đình ép buộc con cái theo ý mình mà không quan tâm đến sở thích, năng lực của con. Điều này dễ gây ra áp lực tâm lý và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của người trẻ. Ngược lại, cũng có những bạn trẻ sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân mà bỏ qua sự quan tâm của gia đình, dẫn đến những lựa chọn thiếu chín chắn.

Tóm lại, dung hòa giữa mong muốn của bản thân và kỳ vọng của gia đình là một quá trình cần sự thấu hiểu, chia sẻ và nỗ lực từ cả hai phía. Khi biết cân bằng hợp lý, mỗi người không chỉ đạt được ước mơ mà còn giữ gìn được tình cảm gia đình. Đây chính là nền tảng quan trọng để hướng tới một cuộc sống hạnh phúc và bền vững.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (Trình bày ngắn gọn)​ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG ĐÁYDòng sông lặng ngắt như tờ,Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.Bốn bề phong cảnh vắng teo,Chỉ nghe cót két, tiếng chèo thuyền nan.Lòng riêng, riêng những bàn hoàn(1)Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng.Thuyền về, trời đã rạng đông,Bao la nhuốm một...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (Trình bày ngắn gọn)

​ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG ĐÁY

Dòng sông lặng ngắt như tờ,

Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.

Bốn bề phong cảnh vắng teo,

Chỉ nghe cót két, tiếng chèo thuyền nan.

Lòng riêng, riêng những bàn hoàn(1)

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng.

Thuyền về, trời đã rạng đông,

Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Viết ngày 18 - 8 - 1949

(Đi thuyền trên sông Đáy, Hồ Chí Minh, nguồn: https://www.thivien.net/)

Chú thích:

- Bài thơ "Đi thuyền trên sông Đáy" được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác năm 1949 trong một lần Bác từ Khấu Lấu (thuộc xã Tân Trào) xuôi thuyền về huyện lỵ Sơn Dương thăm một lớp học của cán bộ kháng chiến.

- (1) Sử dụng hình thức lẩy Kiều (sửa chữa hay thay đổi một vài chữ trong câu Kiều nhằm diễn đạt một đề tài): Ở đây, tác giả mượn lời một câu thơ trong Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du (Câu 771: Nỗi riêng, riêng những bàn hoàn).

Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết thể thơ của văn bản.

Câu 2. Liệt kê những dòng thơ miêu tả thiên nhiên có trong bài thơ. 

Câu 3. Phân tích tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:

Dòng sông lặng ngắt như tờ,

Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.

Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về hai câu thơ sau?

Lòng riêng, riêng những bàn hoàn,

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng. 

Câu 5. Thông điệp anh/chị rút ra từ bài thơ là gì? (Viết đoạn văn từ 5 - 7 dòng)

9
30 tháng 3 2025

Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình của bài thơ.
Đáp án: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là tôi (bài thơ viết ở ngôi thứ nhất), có thể là Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc một người đại diện cho ý chí, tâm tư của Bác. Nhân vật này thể hiện những suy tư, cảm xúc về cảnh vật và tình hình đất nước trong thời kỳ kháng chiến.

Câu 2: Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong bài thơ.
Đáp án:

Từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên:

"Dòng sông lặng ngắt như tờ"
"Bốn bề phong cảnh vắng teo"
"Thuyền về, trời đã rạng Đông"
"Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi"
Những hình ảnh này miêu tả sự tĩnh lặng của thiên nhiên, không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hòa hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Câu 3: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong hai dòng thơ: "Lòng riêng, riêng những bàng hoàng, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng."
Đáp án:

Tác dụng của biện pháp ẩn dụ:

"Lòng riêng, riêng những bàng hoàng": Cụm từ này ẩn dụ cho tâm trạng của nhân vật trữ tình. "Bàng hoàng" không chỉ là cảm xúc lo lắng mà còn thể hiện sự suy tư, trăn trở về vận mệnh của đất nước.
"Giang san Tiên Rồng": Đây là ẩn dụ chỉ đất nước Việt Nam (Tiên Rồng là biểu tượng của sự vĩ đại và thiêng liêng), thể hiện sự lo lắng của nhân vật trữ tình về sự nghiệp khôi phục và xây dựng đất nước, mang đậm giá trị lịch sử và văn hóa dân tộc.
Biện pháp ẩn dụ này làm nổi bật cảm xúc sâu sắc của nhân vật trữ tình, thể hiện nỗi lo âu, khát khao và quyết tâm bảo vệ, xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.

Câu 4: Phân tích mạch vận động của cảm xúc ở hai dòng thơ đầu và hai dòng thơ cuối.
Đáp án:

Hai dòng thơ đầu: "Dòng sông lặng ngắt như tờ, / Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo."

Cảm xúc ở đây là sự tĩnh lặng, yên bình của thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng sự bâng khuâng, trăn trở. Dòng sông lặng lẽ như tờ giấy, thuyền chờ đợi trăng gợi lên không gian tĩnh mịch, như một khung cảnh phù hợp để suy tư, chiêm nghiệm.
Hai dòng thơ cuối: "Thuyền về, trời đã rạng Đông, / Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi."

Cảm xúc chuyển từ trạng thái lặng lẽ, trầm tư sang một cảm giác tươi sáng, đầy hy vọng. "Trời đã rạng Đông" tượng trưng cho sự khởi đầu mới, "Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi" mang đến hình ảnh đất nước trong tương lai tươi sáng, đầy hy vọng và tiềm năng. Đây là dấu hiệu của sự phục hồi, của một thời kỳ mới, giàu sức sống.
Câu 5: Từ tâm thế của nhân vật trữ tình trong bài thơ, Anh/Chị hãy bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc xây dựng và phát triển đất nước.
Đáp án: Từ tâm thế của nhân vật trữ tình trong bài thơ, người đọc có thể thấy rằng, sự lo lắng về sự phục hồi và phát triển đất nước là điều mà bất kỳ ai, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần phải quan tâm. Bài thơ thể hiện sự trăn trở về giang sơn Tiên Rồng, đất nước sau chiến tranh. Điều này nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về trách nhiệm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Trách nhiệm của thế hệ trẻ:

Học tập và rèn luyện: Thế hệ trẻ cần học hỏi, trang bị kiến thức để có thể đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Kiến thức là nền tảng vững chắc để xây dựng một đất nước giàu mạnh.
Đoàn kết và yêu nước: Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy, tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước là nguồn sức mạnh vô tận, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Làm việc cống hiến: Thế hệ trẻ cần cống hiến sức lực, tài năng để xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Mỗi công dân là một phần quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Bài thơ "Đi thuyền trên sông Đáy" chính là một lời nhắc nhở về sự khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh, mà trong đó thế hệ trẻ phải là người gánh vác, tiếp nối truyền thống yêu nước, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam.

Câu 1 - Dấu hiệu thể thơ: → Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (dấu hiệu: mỗi dòng 7 chữ, gồm 8 dòng → dạng biến thể của thơ Đường). Câu 2 -Những dòng thơ tả thiên nhiên: “Dòng sông lặng ngắt như tờ”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo”, “Bốn bề phong cảnh vắng teo”, “Chỉ nghe cót két, tiếng chèo thuyền nan”, “Thuyền về, trời đã rạng đông”, “Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”. Câu 3 -Biện pháp tu từ: so sánh (“lặng ngắt như tờ”) -Tác dụng: → Làm nổi bật sự yên tĩnh tuyệt đối của dòng sông, → Gợi không gian thanh bình, tĩnh lặng, → Làm nền cho tâm trạng suy tư của tác giả. Câu 4 Hiểu hai câu thơ: → Thể hiện nỗi lòng riêng của Bác: Trăn trở, lo lắng cho vận mệnh đất nước Mong muốn khôi phục giang sơn, đem lại độc lập cho dân tộc → Cho thấy tấm lòng yêu nước sâu sắc và trách nhiệm lớn lao. Câu 5 -Thông điệp: Bài thơ gửi gắm thông điệp về tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu đất nước. Trong khung cảnh yên bình của dòng sông, con người vẫn không quên trách nhiệm lớn lao với dân tộc. Mỗi người cần biết sống có lý tưởng, quan tâm đến vận mệnh chung của đất nước. Đồng thời, cần trân trọng những phút giây bình yên để nuôi dưỡng tâm hồn. Sống không chỉ cho bản thân mà còn vì cộng đồng. Đó là cách để cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây. THƠ TÌNH CUỐI MÙA THUCuối trời mây trắng bayLá vàng thưa thớt quáPhải chăng lá về rừngMùa thu đi cùng...
Đọc tiếp

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây. 

THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may

(Trích Tự hát, Xuân Quỳnh, NXB Tác phẩm mới, 1984)

Chú thích: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân  thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường. Xuân Quỳnh viết "Thơ tình cuối mùa thu" khi chị không còn ở tuổi đôi mươi mà đã là người phụ nữ trải qua nhiều biến động của cuộc đời. Bài thơ như một cách để Xuân Quỳnh trải lòng mình về tình yêu sau nhiều sóng gió. 

30
30 tháng 3 2025

Câu 1:
Suy nghĩ về ý nghĩa của việc gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống

Văn hóa truyền thống là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, bao gồm những phong tục, tập quán, lễ hội, ngôn ngữ, nghệ thuật, và các giá trị tinh thần truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống không chỉ giúp bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn tạo ra sự gắn kết cộng đồng. Các giá trị văn hóa này giúp con người hiểu rõ nguồn gốc, cội nguồn của mình, từ đó tạo dựng niềm tự hào dân tộc, củng cố lòng yêu nước và trách nhiệm bảo vệ đất nước. Hơn nữa, những giá trị văn hóa truyền thống còn giúp con người phát triển nhân cách, hình thành những phẩm chất tốt đẹp như lòng nhân ái, sự tôn trọng gia đình, cộng đồng. Trong thời đại hội nhập toàn cầu hiện nay, việc gìn giữ văn hóa truyền thống càng trở nên quan trọng, bởi chúng giúp mỗi cá nhân không bị mất đi bản sắc trong dòng chảy của sự thay đổi không ngừng. Đồng thời, phát huy giá trị văn hóa truyền thống còn là cách để chúng ta quảng bá, giới thiệu những nét đẹp văn hóa của dân tộc với bạn bè quốc tế, góp phần xây dựng hình ảnh đất nước trong mắt thế giới.


Câu 2:
Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ "Thơ tình cuối mùa thu" của Xuân Quỳnh

"Thơ tình cuối mùa thu" là một trong những bài thơ nổi bật của Xuân Quỳnh, thể hiện một tình yêu sâu sắc, đằm thắm và đầy cảm xúc. Được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi tác giả đã trải qua những biến động của cuộc đời, bài thơ không chỉ là lời thổn thức của tình yêu mà còn là sự suy tư về thời gian, về sự thay đổi trong tình cảm và cuộc sống.

Nội dung bài thơ:
Bài thơ mở đầu với cảnh mùa thu đang dần qua đi, lá vàng rơi, mùa thu không còn ở lại nữa, mà cùng với lá, mùa thu ra đi vào không gian mênh mang của biển cả và cánh đồng hoa cúc. Hình ảnh "chỉ còn anh và em" trong đoạn thơ này thể hiện sự khẳng định tình yêu sâu đậm của hai người giữa dòng chảy của thời gian. Mặc dù mùa thu đi qua, dù cuộc đời có nhiều thay đổi, nhưng tình yêu của họ vẫn còn ở lại, vững vàng như hàng cây qua mùa gió bão, như dòng sông đã yên bình sau những thác lũ. Tác giả sử dụng những hình ảnh quen thuộc của mùa thu để làm nền tảng cho những suy nghĩ sâu sắc về tình yêu và thời gian.

Trong đoạn thơ thứ hai, "Chỉ còn anh và em" như một lời nhắc nhở về sự tồn tại của tình yêu giữa những biến động của cuộc sống. Những cảm giác xao động, sự thay đổi trong cảm xúc qua hình ảnh "lối đi quen bỗng lạ" hay "cỏ lật theo chiều mây" tạo nên một không gian vừa ấm áp, vừa có chút bâng khuâng, tiếc nuối. Điều này thể hiện sự thay đổi không ngừng của thời gian và tình cảm con người.

Nghệ thuật:
Bài thơ sử dụng các hình ảnh thiên nhiên như lá vàng, mùa thu, gió heo may để làm nền cho tình yêu và những suy tư về thời gian. Hình ảnh mùa thu, đặc biệt là lá vàng rơi, được tác giả sử dụng như một biểu tượng cho sự chia ly, sự trôi qua của thời gian, nhưng đồng thời cũng là minh chứng cho sự tồn tại mãi mãi của tình yêu chân thành. Xuân Quỳnh khéo léo sử dụng lối viết ngắn gọn, đầy ẩn ý để biểu đạt những suy nghĩ sâu sắc về tình yêu, về sự bền vững của mối quan hệ giữa anh và em, mặc cho những thay đổi của cuộc sống.

Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện sự giao hòa giữa các yếu tố hiện thực và mơ mộng. Cảm xúc trong thơ vừa lãng mạn, vừa thực tế, thể hiện một tình yêu vững bền giữa những thử thách của cuộc sống. Việc sử dụng các phép so sánh như "tình ta như hàng cây đã qua mùa gió bão" hay "tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ" làm tăng sức mạnh biểu cảm cho bài thơ.

Tóm lại, "Thơ tình cuối mùa thu" của Xuân Quỳnh là một tác phẩm nổi bật thể hiện sự đắm say trong tình yêu và sự chiêm nghiệm về thời gian. Qua những hình ảnh mộc mạc, những câu thơ giản dị nhưng sâu sắc, tác giả đã gửi gắm thông điệp về tình yêu vĩnh cửu, luôn tồn tại và bền vững dù thời gian có trôi đi.


10 tháng 4

Câu 1 :

Đã từ lâu việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống mỗi con người và của cả dân tộc. Trước hết, đó là cách để chúng ta bảo tồn bản sắc riêng, giúp dân tộc không bị hòa tan trong quá trình hội nhập quốc tế. Những phong tục, tập quán, lễ nghi hay lối sống truyền thống chính là “căn cước văn hóa”, giúp mỗi người hiểu rõ cội nguồn và thêm tự hào về quê hương, đất nước. Bên cạnh đó, việc phát huy các giá trị truyền thống còn góp phần giáo dục thế hệ trẻ về đạo lí, nhân cách, lối sống tốt đẹp như lòng hiếu thảo, tình làng nghĩa xóm, sự đoàn kết. Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, nhiều giá trị đang dần bị mai một, vì vậy mỗi người cần có ý thức giữ gìn, chọn lọc và phát huy những nét đẹp phù hợp với cuộc sống hiện đại. Là học sinh, em cần trân trọng những truyền thống tốt đẹp, tích cực tìm hiểu, quảng bá văn hóa dân tộc và góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn những giá trị quý báu ấy cho mai sau.

Câu 2

Bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh là tiếng lòng sâu lắng của một người phụ nữ từng trải, khi nhìn lại tình yêu sau những biến động của cuộc đời. Qua hình ảnh mùa thu tàn phai, tác giả đã thể hiện những suy ngẫm chân thành, tinh tế về tình yêu bền vững, thủy chung; đồng thời cho thấy phong cách nghệ thuật giàu cảm xúc, giàu hình ảnh của mình.

Trước hết, bài thơ khắc họa bức tranh mùa thu cuối mùa với vẻ đẹp buồn man mác. Những hình ảnh “mây trắng bay”, “lá vàng thưa thớt”, “dòng nước mênh mang” gợi lên sự tàn phai, chia lìa của thời gian. Mùa thu dường như đang rời đi: “Phải chăng lá về rừng / Mùa thu đi cùng lá”. Cảnh vật không chỉ mang tính tả thực mà còn mang ý nghĩa biểu tượng cho sự trôi chảy của thời gian, của tuổi trẻ và những gì đã qua. Trong không gian ấy, con người trở nên nhỏ bé, cô đơn, chỉ còn lại “anh và em” giữa mùa thu cũ. Điệp ngữ “Chỉ còn anh và em” được lặp lại nhiều lần như một điểm tựa cảm xúc, nhấn mạnh sự gắn bó, đồng thời cũng gợi cảm giác mong manh trước dòng chảy vô tận của thời gian.

Không chỉ dừng lại ở nỗi buồn trước sự đổi thay, bài thơ còn thể hiện vẻ đẹp của một tình yêu đã được thử thách và trở nên bền vững. Tình yêu ấy được ví như “hàng cây ;Đã qua mùa gió bão”, như “dòng sông ;Đã yên ngày thác lũ”. Những hình ảnh so sánh này rất giàu ý nghĩa, cho thấy tình yêu không còn nồng nhiệt, bồng bột như thuở ban đầu mà đã trở nên sâu sắc, vững chãi sau bao sóng gió. Đây là tình yêu của sự thấu hiểu, đồng hành, là kết quả của quá trình trải nghiệm và vượt qua thử thách. Dù “thời gian như là gió”, “tuổi theo mùa đi mãi”, mọi thứ có thể thay đổi, nhưng “anh và em ;Cùng tình yêu ở lại” – đó chính là giá trị bền lâu, là điều đáng trân trọng nhất.

Bên cạnh nội dung sâu sắc, bài thơ còn thành công về nghệ thuật. Trước hết là việc sử dụng hình ảnh giàu tính biểu tượng. Mùa thu không chỉ là bối cảnh thiên nhiên mà còn là ẩn dụ cho tuổi đời, cho những đổi thay của cuộc sống và tình yêu. Các hình ảnh như lá vàng, gió heo may, sương lạnh… đều góp phần tạo nên không khí trữ tình, man mác buồn nhưng cũng rất đỗi dịu dàng. Thứ hai, giọng điệu bài thơ nhẹ nhàng, tha thiết, mang đậm chất nữ tính. Cách ngắt nhịp linh hoạt, điệp ngữ “Chỉ còn anh và em” tạo nên âm hưởng ngân vang, nhấn mạnh cảm xúc. Ngoài ra, nghệ thuật so sánh giản dị mà sâu sắc đã giúp làm nổi bật ý nghĩa của tình yêu từng trải.

Đặc biệt, kết thúc bài thơ mang đến một dư vị suy tư: “Kìa bao người yêu mới ;Đi qua cùng heo may”. Hình ảnh này vừa gợi sự tiếp nối của tình yêu trong cuộc đời, vừa làm nổi bật giá trị của tình yêu hiện tại – một tình yêu đã vượt qua thử thách để tồn tại bền vững. Qua đó, Xuân Quỳnh như muốn khẳng định: trong dòng chảy vô tận của thời gian, điều đáng quý nhất chính là tình yêu chân thành, thủy chung.

“Thơ tình cuối mùa thu” không chỉ là bức tranh thiên nhiên giàu cảm xúc mà còn là bản tự tình sâu sắc về tình yêu của Xuân Quỳnh. Với nội dung ý nghĩa và nghệ thuật tinh tế, bài thơ đã để lại trong lòng người đọc những rung cảm nhẹ nhàng mà thấm thía về giá trị của tình yêu và thời gian.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (Trình bày ngắn gọn)LỄ BUỘC CHỈ CỔ TAY - PHONG TỤC ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI LÀO      Lễ buộc chỉ cổ tay (còn gọi là lễ Sou khoẳn) thường được người Lào tổ chức trong các dịp quan trọng, như: Bunpimay (Tết Lào), lễ cưới hỏi, ma chay, lễ tân gia… Lễ buộc chỉ tay của người Lào có nhiều ý...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (Trình bày ngắn gọn)

LỄ BUỘC CHỈ CỔ TAY - PHONG TỤC ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI LÀO

      Lễ buộc chỉ cổ tay (còn gọi là lễ Sou khoẳn) thường được người Lào tổ chức trong các dịp quan trọng, như: Bunpimay (Tết Lào), lễ cưới hỏi, ma chay, lễ tân gia… Lễ buộc chỉ tay của người Lào có nhiều ý nghĩa khác nhau, nếu được tổ chức vào dịp năm mới thì lễ buộc cổ chỉ tay để cầu may mắn cho bản thân và các thành viên trong gia đình; đối với đám cưới, lễ buộc chỉ cổ tay để chúc phúc cho cô dâu, chú rể; khi nhà có người ốm đau, gia đình tổ chức làm lễ để cầu sức khỏe cho người bị ốm; hay khi nhà có người mất thì họ hàng sẽ tổ chức lễ buộc chỉ cầu cho linh hồn được siêu thoát, con cháu được bình an...
      Lễ buộc chỉ cổ tay gồm 2 phần chính là nghi thức cúng và nghi thức buộc chỉ. Theo phong tục, nghi lễ phải được tổ chức ở nơi trang trọng nhất trong nhà, cơ quan. Người chủ trì nghi lễ theo nguyên tắc là Mophon (thầy cúng), nhà sư, nhà sư đã hoàn tục hoặc các bậc cao niên có uy tín trong dòng tộc, dòng họ làm lễ buộc chỉ cổ tay. Để chuẩn bị mâm lễ cúng, quan trọng nhất là tháp chỉ, các sợi chỉ được buộc vào mâm cúng và đủ dài để người dự lễ có thể nắm được, xung quanh tháp chỉ có thể trang trí hoa, trên đỉnh có cắm một cây nến vàng; lễ vật cúng gồm trứng luộc, thịt lợn, nước, cơm nếp, bánh kẹo…

       Chuẩn bị tiến hành lễ, tất cả những người tham dự sẽ ngồi xung quanh mâm cúng, khi tiến hành lễ, mỗi người tham dự sẽ dùng ngón cái của bàn tay trái kẹp một phần của sợi chỉ và truyền phần còn lại cho những người ngồi sau cứ thế kéo dài cho đến bao giờ hết sợi chỉ mới thôi. Ðến giờ lành, thầy cúng sẽ châm cây nến vàng trên đỉnh của mâm lễ và bắt đầu bài khấn, mọi người ngồi xung quanh mâm cúng, tay trái cầm sợi chỉ, tay phải chạm nhẹ vào mâm, những người ngồi xa, không với tới mâm thì vẫn chắp tay trái trước ngực, tay phải chạm nhẹ vào khuỷu tay của người ngồi phía trước để truyền lời nguyện của thầy cúng tới tất cả các thành viên. Khi cúng xong, thầy cúng cầm cuộn chỉ đã được chia thành nhiều đoạn buộc chỉ, đọc lời cầu phúc cho mọi người và phân phát cho người lớn, người cao tuổi để tiến hành buộc chỉ cổ tay cầu phúc, cầu an cho các con, cháu và khách tham dự lễ. Những người khác cũng lấy chỉ trên mâm cúng và buộc cho người khác để cầu phúc cho nhau. Theo quan niệm của người Lào, để những lời cầu chúc có hiệu nghiệm, người được buộc phải để sợi chỉ trên tay trong ít nhất ba ngày, không được tháo chỉ vì bất cứ lí do nào.

Ngữ văn 12, lễ buộc chỉ cổ tay của người Lào, olm

Lễ buộc chỉ cổ nhân dịp Bunpimay Lào

(Ảnh: Sabpanya Bilingual School)

       Phong tục buộc chỉ cổ tay của người Lào không chỉ độc đáo, mà còn mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh, khiến người được buộc chỉ cảm thấy bình an, hạnh phúc và phấn khởi hơn trong cuộc sống. Trải qua nhiều thập kỷ, người dân Lào vẫn giữ nguyên vẹn lễ buộc chỉ cổ tay vào các dịp đầu năm mới, cưới hỏi, ma chay... Ðây là lễ tục tâm linh mang đậm bản sắc dân tộc, vì thế cần được bảo tồn, giữ gìn trong thời kì hội nhập văn hóa như hiện nay.

(Nguyễn Cúc, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 4, ngày 17/4/2021)

Câu 1. Xác định đề tài của văn bản. 

Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì?  

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản.

Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về câu văn Phong tục buộc chỉ cổ tay của người Lào không chỉ độc đáo, mà còn mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh, khiến người được buộc chỉ cảm thấy bình an, hạnh phúc và phấn khởi hơn trong cuộc sống.?

Câu 5. Văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về đối tượng thông tin?

55
30 tháng 3 2025

Câu 1:
Đề tài của văn bản là Lễ buộc chỉ cổ tay - Phong tục độc đáo của người Lào.

Câu 2:
Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là lễ buộc chỉ cổ tay của người Lào, một phong tục độc đáo với các nghi lễ và ý nghĩa tâm linh trong các dịp quan trọng của người Lào như Tết Lào, lễ cưới hỏi, ma chay, lễ tân gia...

Câu 3:
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh (ảnh minh họa về lễ buộc chỉ cổ tay trong dịp Bunpimay Lào). Tác dụng của việc sử dụng hình ảnh là minh họa sinh động cho phong tục này, giúp người đọc dễ hình dung về không gian lễ hội và sự trang trọng trong nghi lễ. Đồng thời, hình ảnh cũng làm tăng tính hấp dẫn và sinh động cho bài viết.

Câu 4:
Câu văn "Phong tục buộc chỉ cổ tay của người Lào không chỉ độc đáo, mà còn mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh, khiến người được buộc chỉ cảm thấy bình an, hạnh phúc và phấn khởi hơn trong cuộc sống." có thể hiểu là phong tục này không chỉ là một nghi lễ độc đáo của người Lào mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Nó giúp người tham gia cảm thấy an lành, hạnh phúc, và đem lại niềm tin, sự may mắn trong cuộc sống. Sự kết hợp giữa yếu tố tâm linh và truyền thống giúp nâng cao giá trị tinh thần của cộng đồng.

Câu 5:
Văn bản gợi cho em suy nghĩ về sự quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời đại hội nhập hiện nay. Mặc dù xã hội ngày càng hiện đại hóa, nhưng các phong tục truyền thống như lễ buộc chỉ cổ tay vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc và đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối cộng đồng, duy trì các giá trị tinh thần. Việc gìn giữ và phát huy những phong tục này là cách để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng hơn những giá trị văn hóa của dân tộc mình.


10 tháng 4

Câu 1

-Đề tài của văn bản là:Lễ buộc chỉ cổ tay phong tục cổ truyền của người lào.

Câu 2

-Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là:Lễ buộc chỉ cổ tay của người dân Lào.

Câu 3

-Phương tiện phi ngôn ngữ là:Hình ảnh.

-Tác dụng:Giúp người đọc hình dung trực quan, sinh động về nghi lễ; tăng tính xác thực và sức hấp dẫn cho thông tin được truyền tải.

Câu 4

-Ý hiểu của tôi về câu văn là:Nét đẹp riêng biệt, lưu giữ linh hồn và bản sắc dân tộc Lào.Là điểm tựa tâm linh,mang lại nguồn năng lượng tích cực,sự an tâm và niềm tin yêu cuộc sống cho con người.

Câu 5

-Câu Văn bản khơi gợi niềm trân trọng và ngưỡng mộ đối với một nét đẹp văn hóa truyền thống của nước bạn Lào. Qua đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc bảo tồn và giữ gìn những giá trị tâm linh tốt đẹp trước sự biến đổi của thời đại hội nhập, bởi đó chính là "linh hồn" tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc.

2 tháng 4 2025

uhhhh

30 tháng 3

Câu 1 Em thấy rằng

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc đoạn trích sau:CON YÊU CON GHÉT   Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

CON YÊU CON GHÉT

   Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.

   [...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:

   - Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...

   Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:

   - Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...

   Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]

   [...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:

  - Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.

   Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:

   - Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!

   Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:

   - Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?

1966 - 1974

 (Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.

Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?

Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.

42
14 tháng 3 2025

Câu 1:

  • Ngôi kể trong đoạn trích là ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình).

Câu 2:

Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ dù trước đó từng bị phân biệt đối xử:

  • Khi mẹ đến ở cùng, Bớt rất mừng nhưng vẫn hỏi lại mẹ để mẹ suy nghĩ kỹ.
  • Chị không trách móc mẹ mà chỉ lo mẹ sẽ lại thay đổi ý định.
  • Chị tận tình chăm sóc mẹ, để mẹ ở cùng mà không oán giận chuyện cũ.
  • Khi mẹ ân hận, Bớt vội ôm lấy mẹ và trấn an để mẹ không phải suy nghĩ nhiều.

Câu 3:

Nhân vật Bớt là một người:

  • Bao dung, hiếu thảo: Dù từng bị mẹ phân biệt đối xử, chị vẫn mở lòng đón mẹ về sống cùng, không oán trách.
  • Chăm chỉ, tần tảo: Một mình chị vừa lo công tác, vừa nuôi con, làm ruộng.
  • Yêu thương gia đình: Chị quan tâm, lo lắng cho mẹ và các con, luôn cố gắng vun vén gia đình.

Câu 4:

Hành động ôm lấy mẹ và câu nói "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa:

  • An ủi mẹ, giúp mẹ bớt mặc cảm, không dằn vặt về những lỗi lầm trong quá khứ.
  • Thể hiện sự bao dung của Bớt, chị không hề trách mẹ mà ngược lại còn muốn mẹ sống thanh thản.
  • Khẳng định tình cảm mẹ con: Dù trước kia có chuyện gì xảy ra, Bớt vẫn yêu thương và kính trọng mẹ.

Câu 5:

Thông điệp ý nghĩa nhất: "Hãy bao dung và yêu thương gia đình, bởi gia đình là nơi cuối cùng ta có thể trở về."

Lí do:

  • Gia đình có thể xảy ra mâu thuẫn, nhưng nếu biết tha thứ và yêu thương, mọi vết thương đều có thể hàn gắn.
  • Như chị Bớt, dù từng chịu thiệt thòi, chị vẫn mở lòng với mẹ, giữ gìn tình cảm gia đình.
  • Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người vì những mâu thuẫn nhỏ mà xa cách người thân, nên thông điệp này càng trở nên ý nghĩa.
11 tháng 1

câu1: người kể chuyện ẩn danh khong lộ mặt

=> ngôi kể thứ ba

câu2

chi tiết là thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung Bớt rất mừng. nhưng chị cố gặng hỏi mẹ cho hết lẽ chị sợ mẽ sẽ thay đổi ý định

- chị tận tình chăm sóc mẹ, để mẹ ở nhà cùng mà không oán hận chuyện cũ

câu3

Qua đoạn trích em thấy nhân vật Bớt là người có tấm lòng bao dung vị tha, hiếu thảo và giàu tình yêu thương. Chị Bớt hiện lên là một người con hiếu thảo, không ôm lòng oán hận quá khứ khi bị mẹ phân biệt đối xử. Chị thể hiện sự thấu hiểu, lòng bao dung vô bờ bến và tình cảm chân thành dành cho mẹ, mong muốn giữ gìn tình cảm gia đình.

câu 4

Hành động và lời nói của chị Bớt thể hiện sự bao dung vị tha của chị bớt. Chị không để quá khứ làm tổn thương hiện tại mà chọn cách đối đãi bằng tình yêu thương. Chị muốn xoa dịu sự ân hận, hối lỗi của mẹ, thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc và mong muốn gắn kết tình thân là biểu hiện đẹp của đạo hiếu trong gia đình.

câu5

Thông điệp có ỹ nghĩa nhất là tình cảm gia đình có thể chữa lành mọi tổn thương nếu con người biết yêu thương và bao dung. Dù từng chịu thiệt thòi vì sự thiên vị của mẹ, Bớt vẫn mở rộng lòng đón mẹ về chung chăm sóc mẹ không một lời oán trách. Chính tình thương và sự bao dung ấy đã hoá giải hối hận trong lòng người mẹ. thông điệp này nhắc nhở mỗi người nên trân trọng giữ gìn mối quan hệ ruột thịt trong gia đình, hãy biết bao dung thứ lỗi cho mọi người để gắn kết tình thương yêu. Đề cao sức mạnh của tình thân trong việc hàn gắn mọi rạn nứt.

II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:               NHÀNMột mai, một cuốc, một cần câu,Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.Ta...
Đọc tiếp

II. VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:

               NHÀN

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. 

(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)

53

II. VIẾT

Câu 1:

Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà còn là không gian sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của mỗi người. Khi môi trường bị ô nhiễm hay tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về mặt cảm xúc, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh. Bên cạnh đó, nhà nước và các tổ chức cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau.

Câu 2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi và tìm về với thiên nhiên. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt, thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của mỗi tác giả.

Trước hết, điểm gặp gỡ giữa hai nhà thơ là ở lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa cuộc sống giản dị với “một mai, một cuốc, một cần câu”, tự do, ung dung giữa cảnh quê thanh bình. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên hiện lên với bầu trời thu xanh, làn nước trong và không gian tĩnh lặng. Cả hai đều thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tâm hồn, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống. Điều đó cho thấy vẻ đẹp chung của người ẩn sĩ: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và không bị cuốn theo vòng xoáy danh lợi.

Tuy nhiên, đằng sau sự tương đồng ấy lại là những khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc lựa chọn cuộc sống “nhàn” là một sự chủ động và đầy bản lĩnh. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại” của người khôn, biết tránh xa danh lợi để giữ trọn khí tiết. Giọng thơ của ông vì thế mang vẻ ung dung, nhẹ nhàng và có phần triết lí. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn dật lại gắn với tâm trạng buồn bã, bất lực trước thời cuộc. Là một người từng làm quan nhưng chứng kiến xã hội rối ren, ông lui về quê sống ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu nỗi niềm. Cảnh thu trong thơ ông tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn và tiếc nuối. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thấy sự an nhiên thực sự trong cuộc sống ẩn dật, thì Nguyễn Khuyến lại mang theo nỗi đau thời thế vào trong từng vần thơ.

Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, giọng điệu thơ có sự khác biệt: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí, nhẹ nhàng; còn thơ Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, sâu lắng và man mác buồn.

Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, biết giữ mình trước danh lợi, đồng thời cũng phản ánh những tâm trạng khác nhau của các nhà nho trước thời cuộc. Điều đó không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về con người và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, mà còn gợi nhắc về giá trị của một lối sống giản dị, thanh sạch và giàu ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.

30 tháng 3

C1:

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn nhân loại. Môi trường là không gian sống của con người và muôn loài sinh vật, cung cấp không khí, nước, đất và các nguồn tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Khi môi trường bị ô nhiễm hoặc tàn phá, không chỉ thiên nhiên bị tổn hại mà sức khỏe và đời sống tinh thần của con người cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Những hiện tượng như biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng hay ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiếu ý thức. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh, phân loại rác thải hay nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Khi mỗi cá nhân thay đổi nhận thức và hành động tích cực, môi trường sống sẽ dần được cải thiện. Như vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính con người hôm nay và cả các thế hệ mai sau, vì thế mỗi chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp.

C2:

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một hình tượng quen thuộc, thể hiện nhân cách thanh cao và thái độ sống của các nhà nho trước những biến động của xã hội. Khi con đường công danh không còn phù hợp với lý tưởng đạo đức, nhiều trí thức đã lựa chọn lối sống ẩn dật, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Qua hai tác phẩm, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng về lối sống và nhân cách, vừa có những nét khác biệt về tâm trạng và cảm xúc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của các trí thức xưa.

Trước hết, trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, thanh thản và chủ động lựa chọn cuộc sống xa rời danh lợi. Ngay từ những câu thơ mở đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”

Những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê. Điệp từ “một” được lặp lại ba lần không chỉ tạo nhịp điệu khoan thai mà còn nhấn mạnh sự đơn sơ trong cuộc sống của người ẩn sĩ. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm trạng ung dung, tự tại, không bị ràng buộc bởi những bon chen nơi chốn quan trường. Đặc biệt, quan niệm sống của tác giả được thể hiện sâu sắc qua hai câu thơ:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.”

Ở đây, cách nói “ta dại” là một lối nói ngược, thể hiện sự tự ý thức của tác giả. Người đời cho rằng tìm nơi vắng vẻ là “dại”, nhưng thực chất đó lại là lựa chọn khôn ngoan của người hiểu rõ giá trị của sự thanh thản. Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế hiện lên với tư thế chủ động, coi thường danh lợi và hướng đến đời sống tinh thần trong sạch.

Cuộc sống của người ẩn sĩ trong bài thơ còn gắn bó mật thiết với thiên nhiên bốn mùa:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi đã khắc họa cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giản dị mà thanh cao. Người ẩn sĩ tìm niềm vui trong những sinh hoạt bình thường, không bị chi phối bởi vật chất hay danh vọng. Điều này được khẳng định rõ hơn trong hai câu thơ cuối:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Qua hình ảnh “phú quý tựa chiêm bao”, tác giả thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi, xem giàu sang chỉ là điều phù phiếm, không đáng để đánh đổi sự bình yên của tâm hồn. Như vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của sự ung dung, tự tại và lạc quan.

Nếu người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung và thanh thản thì trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại gắn liền với tâm trạng sâu lắng và nỗi niềm riêng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng và trong trẻo:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”

Không gian mùa thu được mở ra với màu sắc trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác vắng lặng. Những từ ngữ như “lơ phơ”, “hắt hiu” đã tạo nên không khí buồn nhẹ, gợi lên tâm trạng cô đơn của người ẩn sĩ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là nơi để sống mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng của con người.

Những câu thơ tiếp theo tiếp tục khắc họa vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh vật:

“Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào.”

Cảnh vật hiện lên mờ ảo, yên tĩnh, mang vẻ đẹp tinh tế và giàu chất trữ tình. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là tâm trạng suy tư của tác giả. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối:

“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”

Hình ảnh “thẹn với ông Đào” (Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng với lối sống ẩn dật) cho thấy sự tự ý thức về nhân cách và lý tưởng sống. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ thưởng thức thiên nhiên mà còn suy ngẫm về bản thân, mang trong lòng nỗi niềm trăn trở trước cuộc đời.

So sánh hai bài thơ, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả hai đều lựa chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách thanh cao. Thiên nhiên trong hai bài thơ đều trở thành không gian sống lý tưởng, giúp con người tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Đồng thời, cả hai tác giả đều thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao giá trị của đời sống tinh thần.

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ cũng có những nét khác biệt rõ rệt. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, lạc quan và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, thể hiện thái độ sống tích cực và bình thản. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng trầm lắng, có phần cô đơn và suy tư. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm màu tâm trạng, thể hiện nỗi buồn trước thời cuộc và sự bất lực trước thực tại.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ đều mang vẻ đẹp của nhân cách cao quý và tâm hồn thanh sạch. Qua đó, các tác giả đã thể hiện quan niệm sống đề cao sự thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Đồng thời, hai tác phẩm cũng góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.

Nhìn chung, hai bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người. Hình tượng người ẩn sĩ qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lối sống và nhân cách của các nhà nho xưa. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp mà cha ông đã để lại cho nền văn học dân tộc.

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TIẾC THƯƠNG SINH THÁI   Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TIẾC THƯƠNG SINH THÁI

   Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).

   Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.

   [...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]

   Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.

(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?

Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?

Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?

Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?

83
9 tháng 3

Câu 1.
Theo bài viết, “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy giảm hoặc biến mất của môi trường tự nhiên và hệ sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra.

Câu 2.
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự: nêu hiện tượng → giải thích khái niệm → đưa ra dẫn chứng thực tế → cung cấp số liệu khảo sát để mở rộng và làm rõ vấn đề.

Câu 3.
Tác giả sử dụng các bằng chứng như: ý kiến và nghiên cứu của các nhà khoa học; dẫn chứng thực tế về các cộng đồng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (người Inuit ở Canada, nông dân ở Australia, các tộc người bản địa ở Brazil); và số liệu khảo sát về cảm xúc của trẻ em, thanh thiếu niên ở nhiều quốc gia.

Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc nhìn tâm lí và đời sống tinh thần của con người, cho thấy biến đổi khí hậu không chỉ gây tổn hại môi trường mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc và sức khỏe tinh thần của con người.

Câu 5.
Thông điệp sâu sắc nhất là biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường mà còn tác động mạnh đến đời sống tinh thần của con người. Vì vậy mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và có trách nhiệm hơn với Trái Đất.

Câu 1:
Theo bài viết, hiện tượng tiếc thương sinh thái là trạng thái cảm xúc buồn bã, lo lắng hoặc đau buồn của con người khi nhận thấy môi trường tự nhiên bị suy thoái, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và hệ sinh thái bị tổn hại.

Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự từ việc nêu thực trạng, sau đó đưa ra dẫn chứng và số liệu cụ thể. Tác giả trước hết đề cập đến hiện tượng tiếc thương sinh thái do biến đổi khí hậu, rồi dẫn kết quả khảo sát để làm rõ mức độ ảnh hưởng của vấn đề này đối với giới trẻ.

Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng như kết quả khảo sát, số liệu thống kê và dẫn chứng khoa học (Cuộc thăm dò của Caroline Hickman và cộng sự với 1.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở 10 quốc gia).

Câu 4:
Cách tiếp cận vấn đề của tác giả mang tính khách quan và khoa học. Tác giả không chỉ nêu hiện tượng mà còn đưa ra số liệu khảo sát cụ thể, giúp người đọc hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cảm xúc và đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ.

Câu 5:
Từ bài viết trên thông điệp sâu sắc nhất đối với em là: Con người cần nhận thức về những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với thiên nhiên và đời sống. Thông điệp này có ý nghĩa với em vì biến đổi khí hậu không chỉ gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý và cuộc sống của con người. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và chung tay hành động để giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Tóm lại thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà còn đối với tất cả mọi người.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Viết ra những ý tưởng có thể giúp bạn trở nên thông minh hơn     Một người trưởng thành trung bình có 50.000 suy nghĩ mỗi ngày. Bây giờ bạn hãy cố gắng nhớ lại 100 ý tưởng trong số đó xem nào. Quá khó phải không?     Chúng ta quên đi hầu hết các suy nghĩ đó là điều bình thường vì não của chúng ta phải loại...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Viết ra những ý tưởng có thể giúp bạn trở nên thông minh hơn

     Một người trưởng thành trung bình có 50.000 suy nghĩ mỗi ngày. Bây giờ bạn hãy cố gắng nhớ lại 100 ý tưởng trong số đó xem nào. Quá khó phải không?

     Chúng ta quên đi hầu hết các suy nghĩ đó là điều bình thường vì não của chúng ta phải loại ra những thông tin không cần thiết để tránh cho thần kinh của chúng ta bị rối loạn. Vấn đề là chúng ta thường quên đi rất nhiều ý tưởng tuyệt vời trong ngày.

     Những ý tưởng tuyệt vời thường xuất hiện khi chúng ta không có sự chuẩn bị trước

     Hầu hết các ý tưởng tuyệt vời sẽ xảy đến khi não của bạn đang ở trong “chế độ phân tán” (diffused mode): Những ý tưởng đến với bạn trong trạng thái này khi bạn không cố ý tập trung, chẳng hạn như khi bạn đang mơ tưởng điều gì đó hay khi tâm hồn lơ lửng trong lúc tắm.

     Những ý tưởng sáng tạo thường đến với chúng ta trong trạng thái tâm trí này bởi vì đây là lúc tâm trí của chúng ta thoải mái nhất. Đây là khi não chúng ta liên kết những bó dây thần kinh (neural pathways) khác nhau lại để đưa ra những ý tưởng mới mẻ (giống như sự sáng tạo cho phép chúng ta kết nối các chấm nhỏ lại với nhau như thế nào thì não của chúng ta cũng diễn ra quá trình này một cách tự nhiên ở trạng thái phân tán này). Vấn đề là vì lúc đó bộ não của chúng ta đang hoàn toàn thư giãn nên nó không có chủ đích ghi nhớ lại những ý tưởng phát ra.

     Đừng bao giờ tin tưởng vào não bộ của bạn: bộ nhớ của nó không hoàn hảo đâu

     Thông thường thì những ý tưởng xuất hiện trong đầu chúng ta suốt chế độ phân tán có thể khá trừu tượng. Vượt quá giới hạn suy nghĩ thông thường, nếu bạn có thể. Đây là những ý tưởng hay nhất của bạn. Những ý tưởng mới lạ, sáng tạo và ở đẳng cấp cao sẽ khuynh đảo cả thế giới này.

     Bạn có nhớ ý tưởng đột phá, thiên tài bạn nghĩ ra khi đang tắm? Bạn có nhớ ý tưởng sẽ tạo nên một cuộc cách mạng cho thế giới như chúng ta có thể nghĩ đến? Tất nhiên bạn không thể nhớ. Ý tưởng phi thường của bạn sẽ trôi tuột khỏi bộ nhớ của bạn, không bao giờ có thể nhớ lại được vì bạn đã không viết nó ra. 

    Trong cuộc chạy đua với thời gian ngày nay, chúng ta không thể bớt chút thời gian để ghi lại những ý tưởng liên tục xuất hiện trong đầu của mình. Một số người có thể cho rằng đó là một sự lãng phí thời gian. Chúng ta nghĩ rằng nếu suy nghĩ đó thật sự quan trọng đến thế, thì sau này chúng ta sẽ nhớ nó và hiện thực hóa nó. Nhưng chúng ta không nhớ gì cả. Và chúng ta bị bỏ lại với sự mơ hồ rỗng tuếch - “Tôi biết tôi dự tính làm gì đó, nó là gì nhỉ?”

     Đừng lười biếng, hãy ghi lại ý tưởng tuyệt vời dù bạn có tự tin rằng bạn sẽ nhớ nó đến mức nào đi chăng nữa

     Luôn giữ các công cụ có thể lưu trữ trong tầm tay, nhưng không để chúng trong tầm mắt. Nếu bạn để một cuốn sổ tay và một cây bút ngay trước mặt bạn, bạn sẽ không còn ở chế độ phân tán nữa và những suy nghĩ sẽ không tuôn ra một cách dồi dào nữa. Nhưng bạn cần để quyển sổ tay đủ gần, để khi những suy nghĩ tuôn ra, bạn sẽ không phải vất vả cả thể chất lẫn tinh thần để với lấy nó.

     Các ứng dụng trên điện thoại thông minh như Evernote là sự lựa chọn tuyệt vời cho việc này. Một số ứng dụng khác là những ứng dụng ghi âm, sổ tay chống nước dùng trong phòng tắm, máy tính xách tay, hoặc đơn giản chỉ là một quyển sổ tay và một cây bút (đây là món đồ yêu thích của cá nhân tôi, đáng tin hơn).

     Ngăn chặn sự nóng vội sắp xếp thông tin

     Bạn sẽ rất dễ rơi vào cái bẫy cần tổ chức suy nghĩ của bạn ngay lập tức khi chúng xuất hiện trong bạn. Đừng làm thế. Tổ chức lại các ý tưởng là một nhiệm vụ riêng biệt sẽ thực hiện sau, khi bạn chuyển sang chế độ tập trung (trái ngược với chế độ phân tán).

     Hãy duy trì quá trình suy nghĩ tự do và viết ra những ý tưởng và để chúng yên một chỗ cho đến khi nào bạn hoàn thành. Nếu bạn cố gắng sắp xếp chúng khi chúng mới nảy sinh, bạn sẽ bỏ lỡ nhiều ý tưởng bởi vì bạn quá tập trung vào một ý tưởng duy nhất. Bạn cũng sẽ bị mất động lực bởi vì bạn đang tự đặt gánh nặng lên chính mình và phức tạp hóa quá trình lên.

     Xem lại ý tưởng của bạn thường xuyên

     Bây giờ thì bạn đã viết ra những ý tưởng, bạn cần củng cố lại những ý tưởng này để biến chúng thành một thứ gì đó to lớn hơn. Bạn nên xem lại ý tưởng của mình khoảng 3 lần một tuần.

     Trong khi xem xét các ý tưởng, bạn có thể lọc ra một số ý tưởng có tính hữu ích thấp hơn, sắp xếp chúng riêng ra và bắt đầu phát triển những ý tưởng có tiềm năng thành công.

     Hãy nhớ rằng, hầu hết mọi người đều có rất nhiều ý tưởng tuyệt vời, nhưng chỉ có rất ít người trong số đó quan tâm đến chuyện viết chúng ta. Và những người viết ra được chính là những người thành công.

(Theo nghethuatsong.com)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Vấn đề được đặt ra trong văn bản là gì?

Câu 3. Vì sao tác giả bài viết lại khuyến cáo chúng ta không nên tin tưởng vào não bộ của chúng ta?

Câu 4. Trong văn bản, để có thể trở thành một người thành công, tác giả bài viết đã đưa ra những lời khuyên nào cho chúng ta?

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.

6
12 tháng 3 2025

Bạn tham khảo thôi nhé, mình có làm sai thì thông cảm nha!
Câu 1: PTBĐ chính dc sử dụng trong văn bản: Nghị luận
Câu 2. Vấn đề dc đặt ra trong VB là tầm quan trọng của việc ghi chép lại ý tưởng, tránh lãng phí những suy nghĩ sáng tạo.
Câu 3. Tác giả bài viết khuyến cáo cta kh nên tin tưởng vào não bộ chúng ta vì:
+ nó kh thể ghi nhớ tất cả mọi thứ một cách hoàn hảo.
+ những ý tưởng đột nhiên loé lên trong đầu, dù là có tuyệt vời đến mấy thì ta cũng kh thể nhớ hết chúng dc nếu kh dc ghi chép lại.
Câu 4. Trong VB, để có thể trở thành một người thành công, tác giả bài viết đã đưa ra những lời khuyên:
+ Luôn ghi lại ý tưởng ngay khi chúng xuất hiện, dù bạn nghĩ rằng mình có thể nhớ.
+ Kh vội vàng sắp xếp thông tin mà hãy để ý tưởng phát triển tự nhiên.
+ Xem lại và chọn lọc ý tưởng thường xuyên để tìm ra những điều hữu ích nhất.
+ Sử dụng công cụ hỗ trợ như sổ tay, ứng dụng ghi chú để lưu trữ ý tưởng một cách hiệu quả.
Câu 5. Cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, logic và dễ hiểu. Tác giả bài viết đã sử dụng nhiều ví dụ thực tế giúp cho bài đọc rất thuyết phục đối với ng đọc, ng nghe và cách diễn đạt gần gũi khiến nội dung trở nên hấp dẫn hơn.
#ngophuongloan(chipcuti)


Câu 1. Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Nghị luận. Câu 2. Vấn đề được đặt ra trong văn bản Vấn đề chính là: Tầm quan trọng của việc hiện thực hóa ý tưởng bằng cách viết chúng ra để đạt được thành công. Câu 3. Vì sao tác giả khuyến cáo không nên tin tưởng vào não bộ? Dựa trên ngữ cảnh của đoạn trích (dù câu hỏi này hỏi về phần văn bản phía trên đã bị che khuất một phần), có thể hiểu rằng: Não bộ có thể nảy sinh nhiều ý tưởng nhưng cũng rất dễ quên. Việc chỉ giữ ý tưởng trong đầu (tin vào trí nhớ) khiến chúng ta dễ bỏ lỡ những cơ hội phát triển ý tưởng đó thành hiện thực. Câu 4. Những lời khuyên để trở thành người thành công Để trở thành người thành công, tác giả đưa ra các lời khuyên: Sàng lọc ý tưởng: Loại bỏ những ý tưởng ít hữu ích, tập trung vào những ý tưởng có tiềm năng. Viết ý tưởng ra: Đừng chỉ dừng lại ở việc suy nghĩ, hãy ghi chép lại chúng. Phát triển ý tưởng: Bắt đầu bắt tay vào việc thực hiện và nuôi dưỡng những ý tưởng đó. Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả Chặt chẽ và logic: Tác giả đi từ việc xử lý ý tưởng đến việc hành động cụ thể (viết ra). Thuyết phục: Cách đặt vấn đề trực diện, đánh đúng vào tâm lý chung của nhiều người (có nhiều ý tưởng nhưng không thực hiện), từ đó tạo ra sức nặng cho lời khuyên. Ngôn ngữ: Giản dị, gần gũi và giàu tính khích lệ.