K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây. TIẾNG VIỆT CỦA CHÚNG MÌNH TRẺ LẠI TRƯỚC MÙA XUÂN                                                Phạm Văn Tình Tiếng Việt chúng mình...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản sau đây.

TIẾNG VIỆT CỦA CHÚNG MÌNH TRẺ LẠI TRƯỚC MÙA XUÂN

                                               Phạm Văn Tình

Tiếng Việt chúng mình có từ thời xa lắm
Thuở mang gươm mở cõi dựng kinh thành
Vó ngựa hãm Cổ Loa, mũi tên thần bắn trả
Vẽ nên hồn Lạc Việt giữa trời xanh.
Bao thế hệ đam mê sống lại thời chiến trận
Bài Hịch năm nào hơn mười vạn tinh binh
Cả dân tộc thương nàng Kiều rơi lệ
Lời Bác truyền gọi ta biết sống vượt lên mình.
Tiếng Việt ngàn năm trong ta là tiếng mẹ
Là tiếng em thơ bập bẹ hát theo bà
Xốn xang lời ru tình cờ qua xóm nhỏ
Ơi tiếng Việt mãi nồng nàn trong câu hát dân ca!
Anh lại cùng em bước vào thiên niên kỷ
Bỗng gặp lại quê hương qua lời chúc mặn mà
Lời chúc sớm mai, ngày mồng một Tết
Qua tấm thiếp gửi thăm thầy, thăm mẹ, thăm cha.
Tiếng Việt ngàn đời hôm nay như trẻ lại
Bánh chưng xanh, xanh đến tận bây giờ
Bóng chim Lạc bay ngang trời, thả hạt vào lịch sử
Nảy lộc đâm chồi, thức dậy những vần thơ.

* Chú thích: Nhân dịp tham dự tọa đàm "Tiếng Việt ân tình" chào mừng ngày Tôn vinh tiếng Việt 08/09/2024, PGS. TS. Phạm Văn Tình bày tỏ niềm vui khi được chia sẻ về nét đẹp của tiếng Việt. Thầy Tình đã gửi đến các bạn khán giả bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" do chính mình sáng tác. 

38

Câu 1: Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Đoạn văn tham khảo: Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn, là niềm tự hào của mỗi dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự trong sáng ấy thể hiện ở việc sử dụng đúng chuẩn mực phát âm, chính tả, ngữ pháp và việc lựa chọn từ ngữ tinh tế, giàu sắc thái. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận giới trẻ đang lạm dụng "ngôn ngữ mạng", viết tắt vô tội vạ hoặc chêm xen tiếng nước ngoài một cách khiên cưỡng, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng mẹ đẻ. Giữ gìn sự trong sáng không phải là bài trừ cái mới, mà là tiếp nhận tinh hoa một cách có chọn lọc để làm giàu thêm tiếng Việt. Mỗi cá nhân cần ý thức được trách nhiệm của mình, trau dồi vốn từ, đọc nhiều tác phẩm văn học giá trị và luôn cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói. Bảo vệ tiếng Việt chính là bảo vệ bản sắc văn hóa và sức sống của dân tộc Việt Nam.

8 tháng 4


c1 Tiếng Việt là linh hồn của dân tộc Việt Nam, gắn liền với bề dày lịch sử và nét văn hóa độc đáo của chúng ta. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, sự lạm dụng từ ngữ ngoại lai, sử dụng teencode tùy tiện đã làm mất đi vẻ trong sáng vốn có của ngôn ngữ mẹ đẻ.Chúng ta cần có ý thức tự giác bảo vệ tiếng Việt: trước hết là sử dụng đúng chuẩn mực chính tả, phát âm và ngữ pháp, tránh chèn lẫn từ ngữ nước ngoài không cần thiết. Thứ hai, hãy ưu tiên sử dụng lời ăn tiếng nói thuần Việt, không dùng từ tục tĩu hay chửi bậy làm ô nhiễm ngôn ngữ. Cuối cùng, học sinh nên trau dồi vốn từ ngữ qua đọc sách, tham gia hoạt động văn học để nâng cao khả năng biểu đạt chính xác và đẹp đẽ.Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là bảo vệ công cụ giao tiếp, mà còn là giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng những gì ông cha ta đã để lại cho thế hệ sau.


Câu 2: Bài nghị luận phân tích bài “Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân”


Bài thơ Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân của nhà thơ ẩn danh đã khơi gợi tình yêu sâu sắc đối với tiếng Việt, đồng thời bày tỏ sự lo lắng trước thực trạng sử dụng ngôn ngữ không đúng chuẩn của giới trẻ. Bài thơ kết hợp giữa hình ảnh mùa xuân thanh bình và vẻ đẹp của tiếng nói dân tộc, mang đến thông điệp cấp bách về việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ mẹ đẻ.

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh mùa xuân yên bình: “Trước mùa xuân, tiếng Việt của chúng ta trẻ lại / Không còn hàm hồ, không còn xấu xa”. Nhà thơ khẳng định tiếng Việt vốn trong sáng, thuần túy, gắn liền với nét đẹp tự nhiên và tâm hồn người Việt. Sau đó, bài thơ chỉ ra thực trạng đáng lo: “Nhưng giờ đây, có những lời nói đã bị ô nhiễm / Được lai tạp bởi những từ ngữ lạ, không thuộc về mình”. Đó là những lời sử dụng teencode tùy tiện, chèn lẫn từ ngoại lai không cần thiết làm mất đi bản sắc ngôn ngữ.

Nhà thơ gọi mọi người cùng giữ gìn vẻ đẹp của tiếng Việt: “Hãy giữ gìn tiếng nói của chúng ta / Để nó luôn trong sáng, luôn đẹp đẽ”. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không phải là cấm sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, mà là sử dụng một cách có chọn lọc, phù hợp hoàn cảnh. Bài thơ nhấn mạnh rằng tiếng Việt là niềm tự hào của dân tộc, khi ta bảo vệ ngôn ngữ mẹ đẻ, ta đang bảo vệ bản sắc dân tộc.

Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, kết hợp hình ảnh mùa xuân để làm nổi bật vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt. Nhà thơ đối chiếu giữa tiếng Việt thuần túy và tiếng Việt bị ô nhiễm, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về thực trạng hiện nay. Sử dụng câu đối xứng, lặp lại từ “luôn” nhấn mạnh ý nghĩa giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, tạo cảm động sâu sắc trong lòng người đọc

Bài thơ Tiếng Việt của chúng ta trẻ lại trước mùa xuân là một lời kêu gọi đầy tình cảm từ trái tim người yêu nước, nhắc nhở mọi người không được quên đi niềm tự hào về ngôn ngữ dân tộc. Hãy cùng nhau giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, để nó luôn là biểu hiện của vẻ đẹp tâm hồn người Việt Nam, và được truyền lại cho thế hệ sau.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Chữ ta      Vừa ở Xơ-un (Hàn Quốc) về nước, đi công tác ở một số thành phố, thấy cần phải viết ngay một điều.      Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Chữ ta

     Vừa ở Xơ-un (Hàn Quốc) về nước, đi công tác ở một số thành phố, thấy cần phải viết ngay một điều.

     Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ”, có quan hệ chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc to hơn phía trên. Đi đâu, nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bẳng hiệu chữ Hàn Quốc. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta, nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài phải lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác.

     Rồi báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Tôi không biết chữ Hàn Quốc nhưng cũng xem qua khá nhiều tờ báo. Có một số tờ báo, tạp chí, số báo xuất bản bằng tiếng nước ngoài, in rất đẹp. Những các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang cuối viết bằng tiếng nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học, ngoại thương có in ở trang cuối mục lục bằng tiếng nước ngoài để người đọc nước ngoài nhờ dịch những bài cần đọc. Trong khi đó, ở ta, khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho “oai”, trong khi đó, người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin.

     Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.

12-4-1994

(Hữu Thọ, theo Bình luận báo chí thời kì đổi mới, NXB Giáo dục, 2000)

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào?

Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? 

Câu 3. Để làm sáng tỏ cho luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào?

Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan mà tác giả đưa ra trong văn bản.

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả.

72
1 tháng 5 2025

Câu 1.Văn bản "Chữ ta" thuộc kiểu văn bản nghị luận. Trong văn bản, tác giả trình bày quan điểm cá nhân, lập luận bằng dẫn chứng cụ thể, nhằm bày tỏ suy nghĩ về việc sử dụng tiếng nước ngoài ở Việt Nam và khẳng định cần phải giữ gìn, tôn trọng tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của dân tộc.

Câu 2.Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là thái độ của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ trong bối cảnh mở cửa, hội nhập với thế giới. Tác giả phê phán việc lạm dụng tiếng nước ngoài trong bảng hiệu, báo chí ở Việt Nam, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc tôn trọng và đề cao tiếng Việt.

Câu 3.Tác giả đã sử dụng phép so sánh đối chiếu giữa Hàn Quốc và Việt Nam để làm rõ luận điểm:

  • Ở Hàn Quốc:
    • Mặc dù là một quốc gia phát triển, có quan hệ rộng rãi với phương Tây, nhưng họ vẫn giữ gìn và đề cao ngôn ngữ dân tộc.
    • Quảng cáo có ở nhiều nơi, nhưng không đặt ở công sở, hội trường hay danh lam thắng cảnh.
    • Trên các bảng hiệu, chữ Hàn Quốc luôn được viết to, đặt phía trên, còn chữ tiếng Anh (nếu có) thì nhỏ, nằm phía dưới.
    • Báo chí chủ yếu viết bằng tiếng Hàn, chỉ một số tạp chí khoa học hoặc ngoại thương mới có mục lục bằng tiếng nước ngoài để phục vụ người đọc nước ngoài.
  • Ở Việt Nam:
    • Có tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài: chữ tiếng Anh to hơn chữ Việt, xuất hiện nhiều trên các bảng hiệu ở nơi công cộng.
    • Một số tờ báo của nhà nước có thói quen tóm tắt các bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, gây lãng phí thông tin đối với người đọc trong nước.
    • Câu 4.
  • Thông tin khách quan:
    “Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh.”
    → Đây là một quan sát thực tế về Hàn Quốc, mang tính khách quan.
  • Ý kiến chủ quan:
    “Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.”
    → Đây là suy nghĩ, đánh giá mang tính cá nhân của tác giả, thể hiện ý kiến chủ quan.
  • Câu 5.
  • Tác giả lập luận rõ ràng, chặt chẽ và thuyết phục. Tác giả sử dụng phép so sánh và đối chiếu giữa hai quốc gia (Hàn Quốc và Việt Nam) để nêu bật sự khác biệt trong cách ứng xử với ngôn ngữ dân tộc.
    Lập luận được củng cố bằng những quan sát thực tế cụ thể và đi kèm với nhận xét sâu sắc, từ đó làm nổi bật quan điểm về việc cần giữ gìn, tôn trọng tiếng mẹ đẻ như một biểu hiện của lòng tự trọng dân tộc.


Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội/bình luận báo chí). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? Vấn đề chính là hiện tượng "sính ngoại" hình thức của một số tờ báo trong nước khi tóm tắt bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối chỉ để cho "oai", gây lãng phí không gian thông tin cho người đọc nội địa. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào? Bằng chứng: Nhiều tờ báo, kể cả báo ngành của nhà nước, có "mốt" tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối. Lí lẽ: Việc làm này chủ yếu để cho "oai" chứ không thực sự phục vụ người đọc nước ngoài như mục đích ban đầu (so sánh với cách làm của nước ngoài là in mục lục để dịch bài cần đọc). Gây thiệt hại cho người đọc trong nước vì mất đi diện tích cho các thông tin hữu ích khác. Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan trong văn bản. Thông tin khách quan: "khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối". (Đây là sự thật đang diễn ra). Ý kiến chủ quan: "xem ra để cho “oai”" hoặc "Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm." (Đây là nhận xét, đánh giá riêng của tác giả). Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. Chặt chẽ và sắc sảo: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu (cách làm của nước ngoài và cách làm "biến tướng" ở ta). Ngôn ngữ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu cay: Sử dụng các từ ngữ như "mốt", "cho oai" để chỉ ra sự lố lăng của hình thức. Nâng tầm vấn đề: Từ một hiện tượng nhỏ trên báo chí, tác giả nâng lên thành vấn đề về lòng tự trọng quốc gia trong bối cảnh hội nhập, khiến người đọc phải suy ngẫm.

Câu 1 Hình tượn người phụ nữ trong bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" của nguyễn quan thiều  hiện lên đầy ám ảnh với vẻ đẹp lam lũ, vất vả nhưng vô cùng kiên cường. Qua những chi tiết tả thực như "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái", tác giả khắc họa sâu sắc sự nhọc nhằn của những người phụ nữ lao động nghèo. Đôi chân ấy không chỉ gánh nước mà còn gánh cả gánh nặng cuộc đời, thời gian "năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm". Vẻ đẹp của họ không nằm ở sự kiều diễm mà ở sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, thầm lặng cống hiến sức mình cho cuộc sống. Hình ảnh hoán dụ "gánh nước sông" vừa nhấn mạnh công việc vất vả, vừa gợi lên thân phận trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Đoạn thơ không chỉ thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước những kiếp người "đàn bà gánh nước" mà còn ngợi ca phẩm chất chịu đựng, sức sống tiềm tàng và tình yêu thương gia đình cao quý của họ. Tóm lại, hình tượng người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó. 

Câu 2 Hội chứng "burnout" (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng báo động trong giới trẻ hiện nay, không chỉ ở môi trường làm việc mà còn cả học tập. Đó là trạng thái kiệt quệ về thể chất, tâm lý và cảm xúc, dẫn đến mất động lực, giảm năng suất và cảm giác tách biệt. Nguyên nhân sâu xa đến từ áp lực thành tích, sự kỳ vọng của xã hội và áp lực đồng trang lứa, khiến người trẻ không ngừng chạy đua trong xã hội hiện đại. Burnout không chỉ là mệt mỏi thông thường mà là sự "cháy sạch" năng lượng bên trong. Biểu hiện dễ thấy là việc người trẻ mất hứng thú với những đam mê trước đây, luôn trong trạng thái căng thẳng, lo âu, hay quên, giảm khả năng tập trung và thường xuyên muốn tách biệt khỏi xã hội. Nhiều bạn trẻ cảm thấy mình phải "hoàn hảo", luôn phải bận rộn để chứng tỏ giá trị bản thân, dẫn đến tình trạng làm việc quá sức.Nguyên nhân của hội chứng này phần lớn đến từ môi trường xã hội cạnh tranh khốc liệt. Sự phát triển của mạng xã hội tạo ra "áp lực đồng trang lứa", khi thấy người khác thành công sớm, giới trẻ cảm thấy tự ti và ép buộc mình phải chạy nhanh hơn. Ngoài ra, việc thiếu cân bằng giữa thời gian học tập/làm việc và nghỉ ngơi cũng là yếu tố chính.Hậu quả của burnout là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ gây ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, công việc mà còn dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm về tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu và suy giảm thể chất nghiêm trọngĐể vượt qua burnout, giới trẻ cần học cách lắng nghe cơ thể và tâm trí mình. Cần dám sống chậm lại, thiết lập ranh giới rõ ràng giữa công việc và cuộc sống, dành thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục và tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình hoặc chuyên gia tâm lý. Hãy nhớ rằng: "Sức khỏe tinh thần là nền tảng của mọi thành công".

Tóm lại, burnout là một căn bệnh thời đại của giới trẻ. Chúng ta cần thay đổi tư duy về thành công, trân trọng sức khỏe bản thân và dũng cảm đối mặt với áp lực để có thể sống một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc hơn\(\)

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:             Những người đàn bà gánh nước sôngNhững ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà máiĐã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấyNhững người đàn bà xuống gánh nước sôngNhững bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướtMột bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

             Những người đàn bà gánh nước sông

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bám vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

                                                                1992

                                                  - Nguyễn Quang Thiều -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

174

Câu1 thể thơ tự do

Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông

Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải

Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài

11 tháng 3 2025

trả lời giúp mình với

17 tháng 3 2025

hỏi nhiều thế chs say get k



28 tháng 1

Hai văn bản đều nói về vai trò quan trọng của động vật đối với con người và nhấn mạnh việc con người cần yêu thương quan tâm và đối xử tốt với chúng. Cả hai đều cho thấy động vật không chỉ mang lại niềm vui lợi ích tinh thần mà còn giúp con người sống nhân ái có trách nhiệm hơn. Điểm giống nhau này giúp em hiểu rằng việc bảo vệ và đối xử thân thiện với động vật là cần thiết góp phần xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và hài hòa hơn.

11 tháng 3 2025

là từ đầu nghĩa gốc

28 tháng 1

Phần phát triển ý trong bài tại sao nên có vật nuôi trong nhà đưa ra nhiều lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục. Tác giả cho rằng vật nuôi mang lại niềm vui giúp con người giảm căng thẳng và bớt cô đơn trong cuộc sống hằng ngày. Vật nuôi còn giúp con người rèn luyện tinh thần trách nhiệm thông qua việc chăm sóc cho ăn và bảo vệ chúng. Bên cạnh đó tác giả nêu dẫn chứng về việc vật nuôi có thể trông nhà bảo vệ tài sản hoặc hỗ trợ con người trong một số công việc. Những lí lẽ và dẫn chứng này làm rõ lợi ích thiết thực của việc nuôi vật nuôi trong gia đình.

28 tháng 1

Phương thức biểu đạt chính của bài thơ đám ma bác giun là tự sự kết hợp với miêu tả. Tác giả kể lại câu chuyện về đám ma của bác giun thông qua các chi tiết miêu tả sinh động và hài hước qua đó bộc lộ cảm xúc và thái độ châm biếm nhẹ nhàng đồng thời thể hiện cách nhìn hồn nhiên của trẻ thơ đối với thế giới xung quanh.