K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Phần II. Đọc – hiểu văn bản (2,0 điểm)Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu        “Ngày xưa, có hai cô cháu ở chung với nhau một nhà. Người cô già, chồng chết từ lâu. Đứa cháu còn bé chừng mười hai tuổi mồ côi cha mẹ. Nhà họ nghèo, chỉ có vài sào ruộng, không đủ sống. Cho nên cô cháu ngày ngày phải đi mò cua bắt ốc hoặc mót hái kiếm ăn. Mấy năm trời được mùa, hai...
Đọc tiếp

Phần II. Đọc – hiểu văn bản (2,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

        Ngày xưa, có hai cô cháu ở chung với nhau một nhà. Người cô già, chồng chết từ lâu. Đứa cháu còn bé chừng mười hai tuổi mồ côi cha mẹ. Nhà họ nghèo, chỉ có vài sào ruộng, không đủ sống. Cho nên cô cháu ngày ngày phải đi mò cua bắt ốc hoặc mót hái kiếm ăn. Mấy năm trời được mùa, hai cô cháu tuy không lấy gì làm đầy đủ nhưng cũng sống vui. Ngày ngày cháu theo cô xách giỏ ra đồng, miệng hát có vẻ thích chí.

     Nhưng không may vụ hạ năm ấy mất mùa [...] Riêng hai cô cháu sức yếu đành chịu nằm nhà nhịn đói. Cái chết đang dọa nạt họ.

    May sao, buổi sáng hôm ấy có người hàng xóm sang báo tin cho cô cháu biết là có mấy đám lúa ở làng bên cạnh đã bắt đầu gặt. Bà cô thấy mình yếu lắm rồi, đứng lên không vững nữa. Chỉ có cháu là hơi tỉnh. Anh chàng gắng ngồi lên. Một người láng giềng đem cho một bát canh rau. Cháu húp vào thấy khỏe cả người, vội đứng lên đi theo họ.

[...] Mãi đến chiều, người cháu mới đem lúa về. Lèo tèo chỉ có một nắm bằng cái chổi xể. Nhưng anh chàng không ngại. Hắn đập, sảy, rang rồi bỏ vào cối giã. Chỉ một lúc sau hắn đã đổ vào nồi bắc lên bếp.

 Khi nồi cháo bắt đầu sôi thì người cô bỗng trở mình và rên khừ khừ. Cháu lật đật vào lật chiếu thăm cô. Cô rên rỉ kêu đau bụng, bảo cháu đi xin cho mình một tí gừng. Cháu ngần ngại không muốn đi nhưng  thấy cô có vẻ nguy kịch, vội đánh đường vào xóm. Sau khi cháu đi, người cô gắng dậy ngồi vào bếp đun lửa cho nồi cháo. Lúc cháo chín, cô bỏ muối vào nếm thử một hớp. Chất ngũ cốc vào bụng trôi đến đâu, thịt da như sống lại đến đấy. Thấy cháu vẫn chưa về, cô múc ra một bát để dành phần cho cháu rồi lại ngồi ăn. Loáng một cái, cô đã ăn hết phần của mình. Cô lại chõng nằm nhưng trong bụng vẫn thấy thèm. Thấy cháu vẫn chưa về, cô nghĩ: - "Thằng bé có lẽ được người ta cho ăn rồi nên mới lâu thế. Nếu hắn đói thì dù gừng được hay không cũng phải về sớm". Nghĩ vậy, người cô lại lồm cồm dậy ăn xén vào cháo của cháu một tý. Cô đi ra ngoài cửa nhìn. Vẫn không thấy tăm dạng của cháu. -"Chắc nó được ăn rồi còn ngồi lại sưởi. Ta có thể ăn nốt đi cho nó". Nghĩ thế, cô yên tâm lại húp thêm một hớp nữa vào phần của cháu.

Cho đến khi người cháu mang gừng về thì bát cháo chỉ còn một tý nước ở dưới đáy. Cháu hỏi cô. Cô không trả lời. Nhưng cháu cũng đoán được hết. Cháu ôm mặt khóc nức nở. Cháu giận cô, oán cô rồi rủa cô. Được một chốc, cháu bưng bát cháo lại chõng cô nằm, dí sát vào miệng và nói bằng một giọng cay chua:

- Đó còn ít nữa, hít nốt đi! Hít đi cô, hít cô...

Sáng hôm sau, mãi đến trưa vẫn chưa thấy cháu dậy, cô lại gần đưa tay sờ vào người cháu, thì ôi thôi người cháu đã lạnh toát từ bao giờ.

     Từ đó trở đi vào khoảng trời khuya, người ta nghe có tiếng chim kêu não nùng trong không gian: "Hít cô! Hít cô!". Tiếng chim kêu một điệu đều đều như nhắc nhở những ngày sống gian khổ của hai cô cháu[1].

 

                       (Trích truyện cổ tích Chim hít cô)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính và ngôi kể của đoạn trích trên.

Câu 3. Câu chuyện giải thích nguồn gốc của loài vật nào?

Câu 3. Sự việc người cô ăn hết sạch bát cháo để phần người cháu nói lên điều gì?

 

Câu 4. Qua câu chuyện, em rút ra cho mình những bài học nào?

 

Phần III. Làm văn ( 6,0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) nêu cảm nhận của em về một chi tiết trong truyện cổ tích mà em yêu thích.

3
7 tháng 3 2025

Câu 1 :
Phương thức biểu đạt chính : Tự sự
Ngôi kể thứ ba
Câu 2 :

Câu chuyện giải thích nguồn gốc của chim hít cô
Câu 3 :
Sự việc người cô ăn hết sạch bát cháo để phần người cháu đã nói lên sự khốn khổ, đói khát đến tận cùng đã khiến người cô trở lên tham lam, vô tâm, vứt bỏ lòng tự trọng của mình mà đã ăn hết để thỏa mãn cơn đói mà không nghĩ đến người cháu - người đang giúp đỡ cô.
Câu 4 :
- Em rút ra cho mình bài học :
+ Cần phải giữ lòng tự trọng dù cho có khốn khó đến thế nào
+ Nên biết quan tâm đến người khác, đừng chỉ vì mình mà mặc kệ người khác
+ Đừng bao giờ phản bội, ăn cháo đá bát với người đã bỏ thời gian và công sức để tìm cách giúp đỡ mình
+ Luôn phải giữ lý trí mọi hoàn cảnh, không được để bản năng và lòng tham chiếm đoạt.

7 tháng 3 2025

Phần II. Đọc – Hiểu Văn Bản

Câu 1:

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
  • Ngôi kể: Ngôi thứ ba (Người kể giấu mình, kể lại câu chuyện về hai cô cháu)

Câu 2:

Câu chuyện giải thích nguồn gốc của loài chim "Hít cô" (chim hít cô), loài chim kêu lên tiếng kêu thảm thiết như lời trách móc của người cháu đối với người cô năm xưa.

Câu 3:

Sự việc người cô ăn hết sạch bát cháo để phần người cháu thể hiện:

  • Lòng ích kỷ trong cơn đói khát, khiến người cô quên mất tình thương dành cho cháu.
  • Sự yếu đuối của con người trước hoàn cảnh khắc nghiệt, ngay cả tình thân cũng có lúc bị lấn át bởi bản năng sinh tồn.
  • Nguyên nhân dẫn đến bi kịch của câu chuyện, khiến người cháu uất ức, đau đớn đến mức qua đời.

Câu 4:

Những bài học rút ra từ câu chuyện:

  • Phê phán sự ích kỷ, dù trong hoàn cảnh nào cũng không nên chỉ nghĩ cho bản thân mà quên đi người khác.
  • Tình thương và sự sẻ chia rất quan trọng, nhất là khi đối mặt với khó khăn.
  • Cảnh tỉnh về lòng tham, đôi khi một hành động nhỏ có thể dẫn đến hậu quả không thể cứu vãn.
  • Nhắc nhở về lòng biết ơn và cách đối xử trong gia đình, cần trân trọng tình thân hơn là để những ích kỷ cá nhân phá vỡ mối quan hệ.

Phần III. Làm Văn

Câu 1: Viết đoạn văn nêu cảm nhận về một chi tiết trong truyện cổ tích mà em yêu thích

Một trong những chi tiết mà em yêu thích nhất trong truyện cổ tích "Tấm Cám" là khi Tấm hóa thành chim vàng anh để tiếp tục ở bên vua. Chi tiết này thể hiện tinh thần kiên cường, không khuất phục của Tấm trước sự độc ác của Cám và dì ghẻ. Dù bị hãm hại nhiều lần, Tấm vẫn tìm cách quay trở lại, biến thành những hình hài khác nhau như chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi,... Cuối cùng, Tấm cũng được trở về làm hoàng hậu. Điều này cho thấy sự công bằng trong cuộc sống, kẻ ác sẽ phải trả giá, người tốt dù gặp khó khăn vẫn sẽ được đền đáp xứng đáng. Đồng thời, chi tiết này cũng giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, huyền bí, thể hiện niềm tin của nhân dân vào sự bất diệt của cái thiện.

4o
        “...Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần, nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương, rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Trang.       Ít lâu sau, Âu Cơ có mang đến kì sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra...
Đọc tiếp

        “...Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần, nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương, rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Trang.

       Ít lâu sau, Âu Cơ có mang đến kì sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra một trăm con trai, con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô [2], khỏe mạnh như thần.

       Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung với mẹ. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.

  – Sao chàng bỏ thiếp [3] mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?

      Lạc Long Quân nói:  – Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán [4] khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.

      Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường. Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta con cháu vua Hùng, thường nhắc đến nguồn gốc của mình là con Rồng cháu Tiên.

                       (Trích truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên, theo Nguyễn Đổng Chi kể)

Câu 1. Xác định thể loại và ngôi kể của văn bản có đoạn trích trên.

Câu 2.  Chuyện Âu Cơ sinh nở có những điểm gì kì lạ?

Câu 3. Những chi tiết hoang đường kì ảo trong trong đoạn truyện có ý nghĩa gì?

Câu 4. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên, em rút ra cho mình những bài học nào?

 

Phần III. Làm văn ( 6,0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) nêu cảm nhận của em về một chi tiết trong truyện truyền thuyết mà em yêu thích.

 

1
7 tháng 3 2025

### **Phần II. Đọc – Hiểu Văn Bản**


#### **Câu 1:**

- **Thể loại**: **Truyền thuyết**

- **Ngôi kể**: **Ngôi thứ ba** (Người kể chuyện giấu mình, kể lại sự tích về nguồn gốc dân tộc Việt Nam).


#### **Câu 2:**

Chuyện Âu Cơ sinh nở có những điểm kỳ lạ:

- Nàng **không sinh con bình thường mà sinh ra một bọc trăm trứng**, từ đó nở ra **một trăm người con trai**.

- Đàn con **không cần bú mớm nhưng vẫn lớn nhanh như thổi**, khỏe mạnh và khôi ngô khác thường.


#### **Câu 3:**

Những chi tiết hoang đường, kỳ ảo trong đoạn truyện có ý nghĩa:

- **Thể hiện tư duy thần thoại của người xưa**, giúp giải thích nguồn gốc cao quý của dân tộc Việt Nam (con Rồng, cháu Tiên).

- **Đề cao sự đoàn kết**: Dù chia nhau cai quản miền núi và miền biển, nhưng vẫn giúp đỡ nhau khi cần.

- **Tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện**, giúp truyền thuyết sống động và dễ nhớ hơn.


#### **Câu 4:**

Những bài học rút ra từ truyền thuyết *Con Rồng, cháu Tiên*:

- **Niềm tự hào về nguồn gốc dân tộc**, nhắc nhở con cháu luôn ghi nhớ cội nguồn.

- **Tinh thần đoàn kết**, dù khác biệt nhưng vẫn phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.

- **Ý thức trách nhiệm với đất nước**, mỗi người con Việt Nam đều có trách nhiệm xây dựng quê hương giàu mạnh.


---


### **Phần III. Làm Văn**


#### **Câu 1: Viết đoạn văn nêu cảm nhận về một chi tiết trong truyện truyền thuyết mà em yêu thích**


Trong truyền thuyết *Con Rồng, cháu Tiên*, em ấn tượng nhất với chi tiết **Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con**. Đây là một chi tiết kỳ ảo, mang ý nghĩa thiêng liêng về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Nó thể hiện quan niệm của người xưa rằng người Việt đều có chung một tổ tiên, đều là anh em một nhà. Bọc trăm trứng không chỉ khẳng định nguồn gốc cao quý mà còn nhấn mạnh tinh thần đoàn kết, gắn bó của dân tộc. Dù sau này năm mươi người lên núi, năm mươi người xuống biển, nhưng họ vẫn hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn. Chi tiết này đã để lại trong em niềm tự hào sâu sắc về truyền thống dân tộc, nhắc nhở em luôn yêu thương và đoàn kết với mọi người xung quanh.

7 tháng 3 2025

Bài thơ: "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh

"Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: "Cục... cục tác... cục ta" Nghe xao động nắng trưa"

Cảm nhận:

Bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh là một bức tranh làng quê Việt Nam thanh bình và ấm áp. Chỉ với 5 dòng thơ ngắn gọn, tác giả đã vẽ nên một không gian yên tĩnh của buổi trưa hè, nơi mà tiếng gà nhảy ổ vang lên như một nốt nhạc trong bản hòa tấu của cuộc sống.

  • Hình ảnh chân thực: Tiếng gà "cục... cục tác... cục ta" được miêu tả sinh động, gợi lên hình ảnh một chú gà mái đang rướn mình đẻ trứng. Âm thanh ấy không chỉ là âm thanh của tự nhiên mà còn là âm thanh của cuộc sống lao động bình dị.
  • Cảm xúc xao động: Câu thơ "Nghe xao động nắng trưa" thể hiện sự rung động tinh tế của tâm hồn người lính. Tiếng gà trưa không chỉ đánh thức không gian yên tĩnh mà còn đánh thức những cảm xúc sâu kín trong lòng người. Đó có thể là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, hay đơn giản chỉ là sự cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống.
  • Ngôn ngữ giản dị: Bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày. Điều này giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh làng quê và những cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải.
  • Nhịp điệu nhẹ nhàng: Bài thơ có nhịp điệu nhẹ nhàng, chậm rãi, phù hợp với không gian yên tĩnh của buổi trưa hè. Nhịp điệu ấy góp phần tạo nên sự thư thái, dễ chịu cho người đọc.

"Tiếng gà trưa" là một bài thơ hay, thể hiện tài năng quan sát và cảm nhận tinh tế của Xuân Quỳnh. Bài thơ không chỉ là một bức tranh đẹp về làng quê Việt Nam mà còn là một lời nhắc nhở về những giá trị bình dị của cuộc sống.

7 tháng 3 2025

Bài thơ Thơ tình cuối mùa thu của nhà thơ Xuân Quỳnh là bài thơ ấn tượng với em nhất. Bài thơ mang cảm xúc sâu lắng về mùa thu và tình yêu vĩnh cửu, dù thời gian trôi qua. Bài thơ cho em thấy rằng cuộc đời rộng lớn và liên tục thay đổi, nhưng những giá trị đích thực vẫn tồn tại, không có gì là vô nghĩa. Cuộc sống tiếp tục chảy trôi, đón nhận những điều mới mẻ, tình yêu mới nảy nở, và nỗi niềm sẽ qua đi.

7 tháng 3 2025

2000 chữ sao viết nổi, broo

7 tháng 3 2025

Bài thơ "Bàn tay mẹ" của nhà thơ Bùi Đình Thảo là một tác phẩm xúc động, ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và những hy sinh thầm lặng của người mẹ. Bài thơ không chỉ là lời tri ân sâu sắc mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về tình cảm gia đình quý giá.

Đoạn văn phân tích bài thơ "Bàn tay mẹ" (khoảng 2000 chữ):

Mở đầu bài thơ, hình ảnh bàn tay mẹ hiện lên thật gần gũi và thân thương:

"Bàn tay mẹ bế chúng con Bàn tay mẹ chăm chúng con"

Điệp ngữ "bàn tay mẹ" được lặp lại hai lần, nhấn mạnh vai trò quan trọng của đôi tay mẹ trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con cái. Đôi tay ấy không chỉ là công cụ lao động mà còn là biểu tượng của tình yêu thương vô bờ bến.

Tiếp theo, nhà thơ liệt kê những công việc hàng ngày mà đôi tay mẹ đã làm cho con:

"Cơm con ăn tay mẹ nấu Nước con uống tay mẹ đun"

Những việc làm bình dị ấy lại chứa đựng biết bao tâm huyết và tình cảm của mẹ. Mẹ không chỉ chăm lo cho con về mặt vật chất mà còn gửi gắm vào đó cả tấm lòng yêu thương, sự quan tâm và lo lắng.

Trong những ngày hè oi bức, bàn tay mẹ lại trở thành chiếc quạt thần kỳ, mang đến cho con những giấc ngủ ngon lành:

"Trời nóng bức gió từ tay mẹ Con ngủ ngon"

Và khi mùa đông giá rét ùa về, vòng tay mẹ lại là chiếc chăn ấm áp, ủ ấm cho con:

"Trời giá rét cũng vòng tay mẹ Ủ ấm con"

Hình ảnh so sánh "gió từ tay mẹ" và "vòng tay mẹ ủ ấm con" thể hiện sự khéo léo và tài hoa của nhà thơ trong việc sử dụng ngôn ngữ. Đôi tay mẹ không chỉ mang đến sự mát mẻ, ấm áp mà còn là biểu tượng của sự chở che, bảo vệ.

Khổ thơ cuối cùng là lời khẳng định về vai trò to lớn của bàn tay mẹ:

"Bàn tay mẹ vì chúng con Từ tay mẹ con lớn khôn"

Câu thơ "Từ tay mẹ con lớn khôn" không chỉ là sự ghi nhận công lao của mẹ mà còn là lời khẳng định về sức mạnh của tình mẫu tử. Chính tình yêu thương và sự hy sinh của mẹ đã giúp con trưởng thành và vững bước trên đường đời.

Xuyên suốt bài thơ, hình ảnh bàn tay mẹ được khắc họa một cách chân thực và sống động. Đôi tay ấy không chỉ là nhân chứng cho những vất vả, nhọc nhằn mà còn là biểu tượng của tình yêu thương và sự hy sinh.

Bài thơ "Bàn tay mẹ" không chỉ là lời ca ngợi tình mẫu tử mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về tình cảm gia đình quý giá. Hãy biết trân trọng những giây phút được ở bên mẹ, hãy biết yêu thương và báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ.

Ngoài ra, để bài văn thêm phong phú, bạn có thể bổ sung thêm những ý sau:

  • Phân tích chi tiết hơn về các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ: Điệp ngữ, so sánh, ẩn dụ,...
  • Liên hệ với những bài thơ, câu chuyện khác về tình mẫu tử: Để thấy được sự tương đồng và khác biệt.
  • Nêu cảm nhận riêng của bản thân về bài thơ: Những kỷ niệm, những suy nghĩ khi đọc bài thơ.
  • Mở rộng vấn đề: Tình mẫu tử không chỉ thể hiện qua hành động mà còn qua lời nói, ánh mắt,...

Hy vọng đoạn văn trên sẽ giúp bạn có thêm tài liệu tham khảo để ôn tập và cảm nhận sâu sắc hơn về bài thơ "Bàn tay mẹ".

7 tháng 3 2025

Bài thơ Em yêu trường em của Lan Vương mang đến cho người đọc cảm giác thân thuộc, gần gũi về mái trường – nơi lưu giữ những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp. Bài thơ giúp ta cảm nhận được tình yêu tha thiết của một học sinh dành cho trường lớp, thầy cô và bạn bè.
Qua những hình ảnh quen thuộc như sân trường, hàng cây, lớp học, tiếng trống, bài thơ khơi gợi trong lòng người đọc sự trân trọng đối với quãng thời gian cắp sách đến trường. Không chỉ là nơi học tập, mái trường còn là ngôi nhà thứ hai, là nơi nuôi dưỡng ước mơ, dạy ta những bài học đầu đời.
Bên cạnh đó, bài thơ còn nhấn mạnh sự gắn bó sâu sắc giữa con người với không gian tuổi thơ của mình. Khi đọc, ta có thể thấy mình trong đó, nhớ về những năm tháng học trò với bao niềm vui, nỗi buồn và những kỷ niệm không thể phai mờ.
Tóm lại, Em yêu trường em không chỉ đơn thuần là một bài thơ thiếu nhi mà còn là lời nhắc nhở mỗi người về sự biết ơn và yêu quý mái trường – nơi chắp cánh cho bao ước mơ bay xa.


-cô bé nấm-

7 tháng 3 2025

Dưới đây là đoạn văn 200 chữ về bài thơ Gọi điện cho bố:


Bài thơ Gọi điện cho bố là một tác phẩm đầy cảm xúc về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cha con. Bài thơ kể về một người con gọi điện cho bố để hỏi thăm, chia sẻ những điều trong cuộc sống. Qua từng câu chữ, ta cảm nhận được sự quan tâm, lo lắng của người cha dành cho con và ngược lại. Dù không ở gần nhau, nhưng sự kết nối qua chiếc điện thoại đã giúp hai cha con gần gũi hơn. Bài thơ nhắc nhở chúng ta rằng tình cảm gia đình là điều thiêng liêng, dù bận rộn đến đâu cũng đừng quên hỏi thăm, quan tâm đến cha mẹ. Đôi khi, chỉ một cuộc gọi đơn giản cũng đủ khiến người thân vui vẻ, ấm lòng. Qua đó, tác giả muốn gửi gắm thông điệp về tình yêu thương và sự trân trọng những phút giây bên gia đình. Bài thơ không chỉ mang ý nghĩa sâu sắc mà còn giúp ta nhận ra rằng, dù cuộc sống có thay đổi, tình cảm cha con vẫn luôn bền chặt.

7 tháng 3 2025

Ngày xưa, có một ông phú hộ sinh được 4 người con trai. Khi biết mình sắp chết, ông gọi 4 người con đến, dặn dò các con phải chia gia tài của cha làm 4 phần đều nhau. Bốn người con hứa tuân lời cha trối lại, tuy nhiên, vừa chôn cất cha xong thì 3 người con đầu dành phần gia tài nhiều hơn người em út. Họ chỉ chia cho đứa em út một mảnh đất khô cằn. Người em út rất buồn, vừa thương nhớ cha, vừa buồn các anh xử tệ với em. Đang ngồi khóc một mình trước mảnh đất khô cằn, thì người em bỗng thấy một bà Tiên từ mặt ao gần đó hiện lên bảo:

 

– Này con, thôi đừng khóc nữa. Khoảng đất này của con có chứa một kho tàng, mà các anh của con không biết. Kho tàng này chứa nhiều mầm của một loại hoa quý vô giá. Mỗi năm, cứ đến mùa Xuân, thì hoa đâm chồi nẩy lộc, nở từng hàng chi chít trên đất đai của con. Con sẽ hái hoa, đem bán, rất được giá. Nhờ đó, chẳng bao lâu thì con sẽ giầu có hơn các anh.

 

Quả thật, đến mùa Xuân ấy, đúng như lời bà Tiên nói, mảnh đất khô cằn của người em bỗng nhiên mọc lên từng hàng hoa trắng, hương thơm ngào ngạt. Để nhớ đến ơn lành của bà Tiên, người em đặt tên cho loại hoa này là Hoa Thuỷ Tiên. Những người thích hoa, chơi hoa, và những người nhà giầu đã thi nhau đến mua hoa Thuỷ Tiên hiếm quý, với giá rất đắt. Chẳng bao lâu, người em trở nên giầu có, nhiều tiền bạc. Rồi cứ mỗi năm Tết đến, người em út lại giầu thêm, nhờ mảnh đất nở đầy hoa thơm tươi thắm. Người em trở nên giầu hơn 3 người anh tham lam kia.

 

Người ta tin rằng Hoa Thuỷ Tiên mang lại tài lộc và thịnh vượng. Do vậy, mỗi dịp Tết đến, chơi hoa thuỷ tiên trở thành một tục lệ đón Xuân. Những ngày cuối năm, Thuỷ Tiên được chăm sóc để hoa nở đúng Giao Thừa, hy vọng mang đến tài lộc sung túc và may mắn trong năm mới

7 tháng 3 2025

Hello 🥇🏅🎖️🥈💎📯

8 tháng 2

Câu: “Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi, thì ta cũng có cơ hội để thành người tử tế qua mỗi ngày lớn lên.” Đây là **câu ghép** có quan hệ **điều kiện – kết quả**. Phân tích cấu tạo câu: – Vế phụ (chỉ điều kiện, bắt đầu bằng quan hệ từ *khi*): “Khi ta biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi” Trong đó: * Chủ ngữ: ta * Vị ngữ: biết tránh làm điều ác, biết gieo mầm thiện, cho dù nhỏ thôi – Vế chính (chỉ kết quả, bắt đầu bằng quan hệ từ *thì*): “thì ta cũng có cơ hội để thành người tử tế qua mỗi ngày lớn lên” Trong đó: * Chủ ngữ: ta * Vị ngữ: cũng có cơ hội để thành người tử tế qua mỗi ngày lớn lên Như vậy, câu thể hiện mối quan hệ điều kiện – kết quả: nếu con người biết tránh điều ác và gieo mầm thiện thì sẽ có cơ hội trở thành người tử tế trong quá trình trưởng thành.

8 tháng 2

Câu 1.


Yếu tố kì ảo trong văn bản Ông tiên ăn mày góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn và ý nghĩa của truyện. Trước hết, yếu tố kì ảo được thể hiện qua hình ảnh ông tiên cải trang thành một người ăn mày nghèo khổ, lang thang xin ăn để thử lòng con người. Việc một vị tiên có phép màu xuất hiện giữa đời thường đã phá vỡ giới hạn của thực tại, mang đậm màu sắc cổ tích. Bên cạnh đó, những chi tiết như ông tiên ban thưởng cho người tốt, trừng phạt kẻ tham lam, ích kỉ cũng là biểu hiện rõ nét của yếu tố kì ảo. Các sự việc ấy không thể xảy ra trong đời sống thực nhưng lại phản ánh ước mơ công bằng của nhân dân, rằng ở hiền sẽ gặp lành, cái thiện luôn được đền đáp xứng đáng. Nhờ yếu tố kì ảo, câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, đồng thời gửi gắm bài học đạo đức sâu sắc về lòng nhân ái, sự sẻ chia và cách đối nhân xử thế trong cuộc sống.


Câu 2.


Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người, là nơi mang lại yêu thương, chở che và điểm tựa tinh thần vững chắc. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang dần thiếu sự kết nối với người thân trong gia đình. Vì vậy, việc xây dựng mối quan hệ gắn kết, yêu thương giữa các thành viên là điều vô cùng cần thiết.


Trước hết, để gắn kết gia đình, mỗi người cần biết quan tâm và lắng nghe nhau. Sự sẻ chia, thấu hiểu giúp các thành viên cảm nhận được tình yêu thương và sự tôn trọng. Cha mẹ nên dành thời gian trò chuyện với con cái, không chỉ quan tâm đến kết quả học tập mà còn chú ý đến cảm xúc, suy nghĩ của con. Ngược lại, con cái cũng cần mở lòng, chia sẻ những khó khăn, niềm vui với cha mẹ thay vì khép kín hay thờ ơ.


Bên cạnh đó, việc cùng nhau tham gia các hoạt động chung như ăn cơm gia đình, dọn dẹp nhà cửa, đi dã ngoại hay tổ chức những buổi sinh hoạt đơn giản cũng góp phần thắt chặt tình cảm. Những khoảnh khắc bên nhau tuy nhỏ bé nhưng lại có ý nghĩa lớn trong việc tạo nên sự gắn bó bền chặt.


Ngoài ra, mỗi thành viên cần biết yêu thương bằng hành động cụ thể, tránh vô tâm, ích kỉ và lạm dụng quá nhiều thời gian cho thiết bị công nghệ. Gia đình chỉ thực sự ấm áp khi mọi người dành cho nhau sự quan tâm chân thành.


Tóm lại, xây dựng mối quan hệ gắn kết trong gia đình đòi hỏi sự cố gắng từ tất cả các thành viên. Khi mỗi người biết yêu thương, sẻ chia và trân trọng gia đình, mái ấm sẽ luôn là nơi bình yên nhất để trở về.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: ÔNG TIÊN ĂN MÀY(1)       Nguyễn Ất là một người thôn nọ, không nhớ ở xóm nào, thuở nhỏ mô côi cả cha lẫn mẹ, được anh nuôi. Anh là Giáp tham lam, bủn xỉn, không yêu thương em, chị dâu cũng tàn ác hung bạo. Khi Ất lớn ra ở riêng, tài sản của cha bị anh chị chiếm hết. Ất chỉ được một mảnh ruộng cằn với gian nhà nát mà thôi....
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

ÔNG TIÊN ĂN MÀY(1)

      Nguyễn Ất là một người thôn nọ, không nhớ ở xóm nào, thuở nhỏ mô côi cả cha lẫn mẹ, được anh nuôi. Anh là Giáp tham lam, bủn xỉn, không yêu thương em, chị dâu cũng tàn ác hung bạo. Khi Ất lớn ra ở riêng, tài sản của cha bị anh chị chiếm hết. Ất chỉ được một mảnh ruộng cằn với gian nhà nát mà thôi. Nghèo đói quá, Ất phải đi làm mướn, kiếm củi để sống qua ngày. Năm ngoài hai mươi tuổi, Ất nghèo không lấy nổi vợ, anh không đoái hoài đến mà em cũng chẳng muốn hỏi xin.

      Làng bên có một ông nhà giàu. Ất thường làm mướn ruộng cho nhà ấy, lâu dần thành quen. Phú ông có một khoảnh đất bỏ hoang, Ất xin đến ở, bèn gánh cả cơ nghiệp dọn đến. Từ đấy, càng xa cách Giáp, năm hết tết đến cũng chẳng hỏi han gì đến nhau.

      Ất tuy nghèo nhưng hay làm điều thiện, gặp ai bần cùng đều chia sẻ cho họ. Một hôm anh đi làm thuê, chiều tối về thấy một người nằm giữa cửa, lay thì người ấy rên không dậy được. Thắp đèn lên soi thì thấy một ông già gầy guộc, ốm yếu, mắt nhèm, mũi dãi tanh hôi dị thường, nôn mửa, phân vung vãi khắp ngoài cửa. Ất vực dậy hỏi han, ông già nói là người thôn bên, nghèo ốm phải đi ăn xin, tối đến đây mệt quá, xin nhờ một xó nằm nghỉ cho hết đêm. Ất mở cửa đỡ vào, rót nước nóng cho uống, ông già hơi tỉnh, bèn chải chăn chiếu cho nằm; thổi nấu xong gọi ông già cùng ăn. Ông già ốm yếu mà ăn thật khoẻ, ăn hết hơn một đấu gạo còn kêu đói. Ất sẻ thức ăn sang cho ông cụ. Lúc lâu sau, ông cụ mới xoa bụng nói:

      Lão no rồi. Thằng con lão hư đốn không biết hiếu thuận, nếu lão có được người con như cháu thì thật là mãn nguyện.

      Rồi ông lão nằm duỗi dài ra, ngủ thì ngáy như sấm, tỉnh thì ho hắng khạc nhổ, ầm ĩ cả đêm, song Ất không hề tỏ ra khó chịu. Sáng hôm sau, ông già trở dậy, Ất lại sửa soạn mâm bát. Ông già ngăn lại nói:

      Cháu hay làm việc thiện thì không đáng phải nghèo. Ơn một bữa cơm lão không thể không báo đáp.

      Rồi lấy chậu hứng dưới mũi, ngoảnh lại bảo Ất:

      Lấy cán muôi đập vào mũi lão đi!

      Ất không chịu, ông già nài ép, Ất đành đập mấy cái, máu chảy ra, Ất sợ quả dừng tay lại nhưng ông già bảo cứ đập tiếp. Khi máu thôi chảy thì thấy vàng ùn lên từ đáy chậu, lát sau đã đầy. Ông già quay lại bảo Ất:

      Giữ lấy chỗ vàng này có thể làm giàu được rồi đấy! Cháu hãy gắng làm điều thiện, đừng giảm sút nhé!

      Ất kinh ngạc lạy tạ, lúc ngẩng đầu lên thì cụ già đã đi rồi. Ất được vàng, nhưng giấu kín, vẫn đến ông nhà giàu vay tiền, nói là để đi buôn. Anh bỏ vàng vào đãy, mang lên kinh mua hàng đem về bán. Một năm đi ba bốn chuyến, mới dùng hết nửa số vàng mà tiền đã được hàng vạn vạn, anh bèn từ biệt ông nhà giàu về quê, chuộc lại căn nhà cũ, dần dà mua thêm ruộng, mượn người phá nhà cũ làm nhà mới, trở nên giàu có nhất làng. Sau đó Ất đến nhà người anh, nhờ anh hỏi con gái nhà thế tộc làm vợ.

      Lúc đầu Ất về quê đến chào anh chị, vợ chồng Giáp đối xử nhạt nhẽo. Lâu cũng không thèm sang thăm, bỗng nghe nói người em giàu sụ, lấy làm lạ bèn đến xem. Khi tới nơi thấy gian nhà nát trên mảnh đất xưa kia đã được xây thành căn nhà lớn, sắp sửa làm xong. Em lại còn mua mấy mẫu ruộng xấu của một nhà hàng xóm liền kề, phát quang gai góc làm vườn, thợ thuyền, đầy tớ vận chuyển gỗ đá nối nhau không dứt. Anh chị kinh ngạc quá, hỏi em nguyên do, Ất kể kĩ lại những điều đã gặp, anh chị hâm mộ mãi, hỏi kĩ tuổi tác, hình dạng ông già để còn đi tìm.

      Hơn một năm sau, người anh từ ngoài về vừa lúc có một ông già đội mũ vàng, mặc áo bào rách co ro đi qua cửa. Hai vợ chồng Giáp tranh nhau kéo vào nhà, ép ngồi ghế trên, chẳng kịp hỏi rõ ông ta từ đâu đến. Rồi mổ gà, thổi xôi, chặt cá làm gỏi, cung phụng rất hậu. Ông già khép nép không dám nhận, vợ chồng Giáp đối xử theo lễ càng cung kính, lại nói:

      - Tiên ông cứ lấy hết trong lỗ mũi ra thì cả đời đệ tử này ăn tiêu cũng không hết.

      Sáng hôm sau, ông cụ vái chào xin đi, không tặng lại gì cả. Giáp giữ lại, không cho về, lấy cái nón lớn đặt trước mặt ông cụ, cắm cái dùi to vào Ông già hoảng hốt che đỡ. Giáp nói:

      - Tiên ông không hiểu biết gì cả. Đệ tử không xin nhiều. Vàng cứ đầy này là được.

      Tức thì sai vợ giữ quật tay ông lão, còn mình ra sức gõ vào sống mũi ông vừa chọc máu đã chảy ra. Giáp mừng rỡ nói:

      - Quả như lời chú hai nói, vàng sắp thành rồi.

      Liên tiếp đánh đến nỗi mũi ông cụ vỡ ra, rụng cả răng, khiến ông cụ phải hô cứu mạng. Hàng xóm tứ bề kéo đến, không hiểu duyên cớ là gì. Hỏi thì chồng Giáp giận dữ không chịu nói, hỏi ông cụ mới biết tường tận nhưng ông cụ cũng không hiểu vì sao trước thì cung kính sau lại hung tợn như thế. Ông lão vốn là người bán tương ở thôn bên. Giáp ngày thường bủn xỉn, cả làng đều ghét nên có người chạy đi báo với con trai ông cụ. Anh con trai trước đó thấy cha mãi không về, đang lo đi tìm hỏi, nay hay tin giận lắm, tức khắc cùng người làng đưa cả ông cụ và vợ chồng Giáp lên quan. Quan cho rằng đánh tàn nhẫn một người lớn tuổi như thế thì phải đền tiền tạ tội theo luật, lại nọc vợ chồng Giáp ra đánh mấy chục hèo(2), mông nát cả thịt ra.

(Trích Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh(3), in trong Truyện truyền kì Việt Nam, Quyển hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009)

Chú thích:

(1) Ông tiên ăn mày được rút trong Lan Trì kiến văn lục - một tập truyện truyền kỳ bằng chữ Hán do Vũ Trinh biên soạn, bao gồm nhiều câu truyện ngắn, kể về các sự kiện lịch sử, các nhân vật, phong tục, và những hiện tượng kỳ lạ xảy ra trong xã hội thời đó.

(2) Hèo: cây họ cau, thường dùng làm gậy.

(3) Vũ Trinh (1759 - 1828), nhà văn nổi tiếng của Việt Nam trong thời kỳ cuối Lê đầu Nguyễn, nổi tiếng với tác phẩm Lan Trì kiến văn lục. Ông cũng sáng tác nhiều văn thơ thể hiện tư tưởng đạo Nho, đồng thời còn là một học giả tinh thông nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, và triết học.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0,5 điểm). Chỉ ra cách tác giả đã sử dụng để dẫn lời nói của nhân vật trong các câu in đậm sau:

Ông già ngăn lại nói:

- Cháu hay làm việc thiện thì không đáng phải nghèo. Ơn một bữa cơm lão không thể không báo đáp.

Câu 3 (1,0 điểm). Vì sao vợ chồng nhân vật Giáp không được ông già đội mũ vàng, mặc áo bào rách ban tặng vàng?

Câu 4 (1,0 điểm). Nêu ngắn gọn chủ đề của của văn bản.

Câu 5 (1,0 điểm). Hình ảnh hai anh em Giáp, Ất trong văn bản trên khiến em liên tưởng tới truyện cổ tích Việt Nam nào mà em đã học, đã đọc? Vì sao có sự liên tưởng đó? (Trả lời trong 3-5 câu)

1
8 tháng 2

Câu 1 (0,5 điểm).

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.


Câu 2 (0,5 điểm).

Tác giả sử dụng cách dẫn lời trực tiếp, thể hiện bằng dấu hai chấm và dấu gạch đầu dòng để dẫn nguyên văn lời nói của nhân vật ông già.


Câu 3 (1,0 điểm).

Vợ chồng nhân vật Giáp không được ông già đội mũ vàng, mặc áo bào rách ban tặng vàng vì họ không thực sự có lòng nhân ái mà chỉ giả vờ cung kính để mong được lợi lộc. Họ tham lam, tàn nhẫn, dùng bạo lực ép buộc ông già nhằm chiếm đoạt vàng, trái ngược hoàn toàn với tấm lòng thiện lương của Ất.


Câu 4 (1,0 điểm).

Chủ đề của văn bản là ca ngợi lòng nhân ái, lối sống thiện lương của con người và phê phán sự tham lam, độc ác; đồng thời thể hiện quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo trong xã hội.


Câu 5 (1,0 điểm).

Hình ảnh hai anh em Giáp và Ất gợi liên tưởng đến truyện cổ tích Cây khế. Vì trong cả hai truyện đều có sự đối lập rõ nét giữa người em hiền lành, tốt bụng và người anh tham lam, ích kỉ. Người em được đền đáp xứng đáng nhờ lòng nhân hậu, còn người anh vì tham lam nên phải nhận kết cục xấu. Điều đó thể hiện ước mơ công bằng của nhân dân trong truyện cổ tích Việt Nam.