viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ của em về bài thơ trường sơn đông trường sơn tây ( Phạm Tiến Duật)
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Qua truyện Sự tích quả bầu tiên, em rút ra bài học sâu sắc về lòng nhân ái và cách sống ở hiền gặp lành. Chú bé nghèo tuy thiếu thốn nhưng tốt bụng, yêu thương và giúp đỡ muôn loài nên đã được đền đáp xứng đáng. Ngược lại, tên địa chủ tham lam, độc ác chỉ giả vờ làm việc tốt để mưu lợi cho bản thân nên phải nhận kết cục bi thảm. Câu chuyện nhắc nhở mỗi người cần sống chân thành, biết yêu thương và giúp đỡ người khác thì sẽ nhận được những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Trong số những bài thơ tự do mà em yêu thích, bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng. Bài thơ không gò bó về vần điệu nhưng lại giàu hình ảnh và ý nghĩa. Hình ảnh vầng trăng gắn bó với tuổi thơ và những năm tháng chiến tranh gợi lên sự giản dị, thủy chung của thiên nhiên. Khi con người sống đủ đầy, tiện nghi, vầng trăng bị lãng quên, đến lúc mất điện mới giật mình nhớ lại. Qua đó, bài thơ nhắc nhở con người không được quên quá khứ, quên những nghĩa tình sâu nặng. Giọng thơ nhẹ nhàng mà thấm thía khiến em suy ngẫm về cách sống ân nghĩa, biết trân trọng những điều bình dị quanh mình.
Vua Lý Thái Tổ (Lý Công uẩn)
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
ftryyegdfv yegyugffggggggggggggggggggggggggggagaaagagagagagagagagagagagatdfwyeggfr ghughru4uygfyutfygygfbggfjhgffguydgfdygyrgtfttfry✘
Trong cuộc sống của mỗi con người, tình bạn luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh, một tình bạn đẹp không chỉ giúp ta có thêm niềm vui mà còn góp phần hình thành nhân cách và lối sống lành mạnh. Vì vậy, việc hình thành và giữ gìn một tình bạn đẹp là điều vô cùng cần thiết. Trước hết, tình bạn đẹp được xây dựng trên cơ sở của sự chân thành và tôn trọng lẫn nhau. Những người bạn thật sự luôn biết lắng nghe, thấu hiểu và sẵn sàng chia sẻ niềm vui cũng như nỗi buồn trong cuộc sống. Khi gặp khó khăn hay thất bại, bạn bè là chỗ dựa tinh thần giúp ta có thêm động lực để vượt qua thử thách. Một tình bạn đẹp không xuất phát từ lợi ích cá nhân mà từ sự đồng cảm và tin tưởng. Bên cạnh đó, để giữ gìn tình bạn lâu dài, mỗi người cần học cách bao dung và biết tha thứ. Trong mối quan hệ bạn bè, mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu cả hai đều biết đặt mình vào vị trí của người khác, cư xử chân thành và thẳng thắn, những hiểu lầm sẽ nhanh chóng được hóa giải. Sự sẻ chia và cảm thông chính là sợi dây gắn kết bền chặt tình bạn. Ngoài ra, mỗi người cũng cần biết tôn trọng sự khác biệt của bạn bè và cùng nhau hướng tới những giá trị tốt đẹp. Một tình bạn đẹp là khi bạn bè không kéo nhau vào những thói quen xấu mà luôn nhắc nhở, động viên nhau học tập, rèn luyện và sống có ích cho xã hội. Đó là mối quan hệ giúp mỗi người trở nên tốt hơn. Tóm lại, tình bạn đẹp là món quà quý giá trong cuộc đời mỗi con người. Việc hình thành và giữ gìn tình bạn đòi hỏi sự chân thành, bao dung và trách nhiệm từ cả hai phía. Khi biết trân trọng và vun đắp tình bạn, chúng ta sẽ có thêm niềm vui, sức mạnh và những kỉ niệm đẹp theo suốt chặng đường trưởng thành.
Ngày 19 tháng 5, 1969, trong một chuyến thăm của Bác Hồ tại một khu căn cứ, một sự việc đặc biệt đã xảy ra và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những người có mặt.
Bác Hồ luôn là người giản dị và gần gũi với mọi người, dù là lãnh tụ của dân tộc, nhưng trong mắt dân, Bác luôn là một người cha, một người bạn thân thiết. Một lần, khi Bác đến thăm một đơn vị quân đội, có một người lính trẻ muốn được gặp Bác để xin ý kiến. Anh lính này là một người rất đơn giản, chưa một lần được tiếp xúc gần gũi với Bác. Anh đã lấy hết can đảm đến gặp Bác, trong lòng đầy lo lắng.
Khi gặp Bác, anh lính cúi đầu chào và nói: “Bác ơi, con muốn hỏi Bác một câu hỏi. Dù con là lính nhưng con rất muốn biết cách làm sao để trở thành một người tốt và có ích cho đất nước?” Bác Hồ ngồi xuống, vỗ nhẹ lên vai anh lính và đáp lời một cách bình dị: “Con hãy làm tốt công việc của mình, làm từ những việc nhỏ nhất, hãy luôn nghĩ đến lợi ích của dân, của đất nước, rồi con sẽ trở thành người tốt.”
Câu trả lời của Bác Hồ giản dị, dễ hiểu nhưng sâu sắc. Những lời của Bác như là kim chỉ nam cho không chỉ anh lính trẻ mà còn là bài học quý giá cho mọi người trong cuộc sống. Sau khi nghe những lời dạy của Bác, anh lính trở nên tự tin hơn trong công việc của mình và quyết tâm phấn đấu trở thành một người tốt, có ích cho xã hội.
Sự việc này không chỉ chứng minh sự gần gũi của Bác Hồ đối với nhân dân mà còn thể hiện trí tuệ, phẩm hạnh và tình yêu thương vô bờ bến của Bác đối với tất cả mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ của đất nước. Những bài học của Bác mãi là ngọn đuốc soi sáng cho con đường mà mỗi chúng ta đi.
Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam, câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” là một lời dạy sâu sắc, thể hiện truyền thống nhân ái, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta từ bao đời nay. Câu tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng ý nghĩa lớn lao, nhắc nhở con người về trách nhiệm sống vì cộng đồng. Trước hết, “lá lành” được hiểu là những người có cuộc sống đầy đủ, may mắn hơn, còn “lá rách” tượng trưng cho những người nghèo khó, bất hạnh, gặp nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. “Đùm” nghĩa là che chở, bao bọc. Qua hình ảnh quen thuộc của những chiếc lá trong đời sống, câu tục ngữ khuyên con người khi có điều kiện tốt hơn thì nên biết quan tâm, giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình. Đó không chỉ là sự chia sẻ về vật chất mà còn là sự cảm thông, động viên về tinh thần. Trong thực tế cuộc sống, tinh thần “lá lành đùm lá rách” luôn được thể hiện rõ nét qua nhiều hành động đẹp. Khi đồng bào miền Trung chịu thiên tai, lũ lụt, người dân khắp nơi đã chung tay ủng hộ tiền bạc, lương thực và quần áo để giúp họ vượt qua khó khăn. Trong trường học, bạn bè giúp nhau trong học tập, sẻ chia khi có bạn gặp hoàn cảnh khó khăn cũng là biểu hiện sinh động của tinh thần ấy. Những việc làm tuy nhỏ bé nhưng góp phần lan tỏa yêu thương và làm cho xã hội trở nên ấm áp hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những hành động tốt đẹp, vẫn còn một số người sống thờ ơ, chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến người khác. Điều đó làm mất đi những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức rèn luyện lối sống nhân ái, biết yêu thương và giúp đỡ người khác bằng những việc làm thiết thực trong khả năng của mình. Tóm lại, câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lí làm người. Sống biết sẻ chia, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau không chỉ mang lại niềm vui cho người nhận mà còn làm cho cuộc sống của chính chúng ta trở nên ý nghĩa hơn, góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết và nhân văn.
Bài thơ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây của Phạm Tiến Duật đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Qua những câu thơ giàu hình ảnh, tác giả đã khắc họa sinh động vẻ đẹp của con đường Trường Sơn trong những năm tháng chiến tranh gian khổ. Em ấn tượng với hình ảnh người lính trẻ lạc quan, yêu đời, luôn hướng về đồng đội và hậu phương dù phải đối mặt với mưa bom bão đạn. Bài thơ không chỉ nói về sự chia cắt không gian giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây mà còn thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương giữa những con người cùng chung lý tưởng chiến đấu. Giọng thơ hồn nhiên, trong trẻo mà giàu chất trữ tình giúp em cảm nhận rõ tinh thần dũng cảm, niềm tin và khát vọng hòa bình của thế hệ cha anh. Qua bài thơ, em thêm trân trọng những hi sinh lớn lao của người lính và càng biết ơn sâu sắc đối với những người đã góp phần làm nên độc lập, tự do cho đất nước.