K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Vua Lý Thái Tổ (Lý Công uẩn) 

Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. 

Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. 

Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225). 

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028. 

6 tháng 3 2025

ftryyegdfv yegyugffggggggggggggggggggggggggggagaaagagagagagagagagagagagatdfwyeggfr ghughru4uygfyutfygygfbggfjhgffguydgfdygyrgtfttfry✘

6 tháng 3 2025

Thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên để lại những bài học quý giá:

Tinh thần đoàn kết: Đoàn kết toàn dân, từ quân đội đến nhân dân, là yếu tố quyết định chiến thắng.

Chiến lược đúng đắn: Áp dụng chiến thuật linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế, như dùng địa hình và chiến tranh du kích.

Lãnh đạo tài giỏi: Vai trò lãnh đạo sáng suốt của các vị tướng như Trần Hưng Đạo, giúp quân ta chiến thắng.

Từ ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông-Nguyên, chúng ta có thể rút ra bài học về tinh thần đoàn kết, sáng tạo, kiên nhẫn và khai thác lợi thế địa phương trong việc vượt qua những thách thức hiện nay và đạt được thành công bền vững cho quốc gia của chúng ta.

6 tháng 3 2025

Ngày 19 tháng 5, 1969, trong một chuyến thăm của Bác Hồ tại một khu căn cứ, một sự việc đặc biệt đã xảy ra và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những người có mặt.

Bác Hồ luôn là người giản dị và gần gũi với mọi người, dù là lãnh tụ của dân tộc, nhưng trong mắt dân, Bác luôn là một người cha, một người bạn thân thiết. Một lần, khi Bác đến thăm một đơn vị quân đội, có một người lính trẻ muốn được gặp Bác để xin ý kiến. Anh lính này là một người rất đơn giản, chưa một lần được tiếp xúc gần gũi với Bác. Anh đã lấy hết can đảm đến gặp Bác, trong lòng đầy lo lắng.

Khi gặp Bác, anh lính cúi đầu chào và nói: “Bác ơi, con muốn hỏi Bác một câu hỏi. Dù con là lính nhưng con rất muốn biết cách làm sao để trở thành một người tốt và có ích cho đất nước?” Bác Hồ ngồi xuống, vỗ nhẹ lên vai anh lính và đáp lời một cách bình dị: “Con hãy làm tốt công việc của mình, làm từ những việc nhỏ nhất, hãy luôn nghĩ đến lợi ích của dân, của đất nước, rồi con sẽ trở thành người tốt.”

Câu trả lời của Bác Hồ giản dị, dễ hiểu nhưng sâu sắc. Những lời của Bác như là kim chỉ nam cho không chỉ anh lính trẻ mà còn là bài học quý giá cho mọi người trong cuộc sống. Sau khi nghe những lời dạy của Bác, anh lính trở nên tự tin hơn trong công việc của mình và quyết tâm phấn đấu trở thành một người tốt, có ích cho xã hội.

Sự việc này không chỉ chứng minh sự gần gũi của Bác Hồ đối với nhân dân mà còn thể hiện trí tuệ, phẩm hạnh và tình yêu thương vô bờ bến của Bác đối với tất cả mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ của đất nước. Những bài học của Bác mãi là ngọn đuốc soi sáng cho con đường mà mỗi chúng ta đi.


8 tháng 2

Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam, câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” là một lời dạy sâu sắc, thể hiện truyền thống nhân ái, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta từ bao đời nay. Câu tục ngữ tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng ý nghĩa lớn lao, nhắc nhở con người về trách nhiệm sống vì cộng đồng. Trước hết, “lá lành” được hiểu là những người có cuộc sống đầy đủ, may mắn hơn, còn “lá rách” tượng trưng cho những người nghèo khó, bất hạnh, gặp nhiều thiệt thòi trong cuộc sống. “Đùm” nghĩa là che chở, bao bọc. Qua hình ảnh quen thuộc của những chiếc lá trong đời sống, câu tục ngữ khuyên con người khi có điều kiện tốt hơn thì nên biết quan tâm, giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình. Đó không chỉ là sự chia sẻ về vật chất mà còn là sự cảm thông, động viên về tinh thần. Trong thực tế cuộc sống, tinh thần “lá lành đùm lá rách” luôn được thể hiện rõ nét qua nhiều hành động đẹp. Khi đồng bào miền Trung chịu thiên tai, lũ lụt, người dân khắp nơi đã chung tay ủng hộ tiền bạc, lương thực và quần áo để giúp họ vượt qua khó khăn. Trong trường học, bạn bè giúp nhau trong học tập, sẻ chia khi có bạn gặp hoàn cảnh khó khăn cũng là biểu hiện sinh động của tinh thần ấy. Những việc làm tuy nhỏ bé nhưng góp phần lan tỏa yêu thương và làm cho xã hội trở nên ấm áp hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những hành động tốt đẹp, vẫn còn một số người sống thờ ơ, chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến người khác. Điều đó làm mất đi những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc. Vì vậy, mỗi người cần tự ý thức rèn luyện lối sống nhân ái, biết yêu thương và giúp đỡ người khác bằng những việc làm thiết thực trong khả năng của mình. Tóm lại, câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lí làm người. Sống biết sẻ chia, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau không chỉ mang lại niềm vui cho người nhận mà còn làm cho cuộc sống của chính chúng ta trở nên ý nghĩa hơn, góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết và nhân văn.

6 tháng 3 2025

(75\(x^5\) ):(3\(x^3\) )

=\(\left(75:3\right)\times\left(x^5:x^3\right)\)

=25 \(x^2\)

6 tháng 3 2025

\(\left(75x^5\right):\left(3x^3\right)=25x^2\)

S
6 tháng 3 2025

ta có dãy tỉ số bằng nhau là:

\(\dfrac{x}{2}=\dfrac{y}{4}=\dfrac{z}{3}\)

6 tháng 3 2025

Ta có dãy tỉ số bằng nhau là:

\(\frac{x}{2}=\frac{y}{4}=\frac{z}{3}\)


Viết bài văn nghị luận xã hội về câu ca dao "" Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"-Mở bài:+Có câu dẫn dắt+Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận+Nêu được ý kiến-Thân bài:+Giải thích từ ngữ , ý nghĩa của tục ngữ+Nêu được ít nhất hai lí lẽ thuyết phục,chặt chẽ để làm rõ ý kiến+Nêu được bằng chứng đa dạng,thuyết phục để củng cố cho lí...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận xã hội về câu ca dao "" Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"


-Mở bài:

+Có câu dẫn dắt

+Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận

+Nêu được ý kiến

-Thân bài:

+Giải thích từ ngữ , ý nghĩa của tục ngữ

+Nêu được ít nhất hai lí lẽ thuyết phục,chặt chẽ để làm rõ ý kiến

+Nêu được bằng chứng đa dạng,thuyết phục để củng cố cho lí lẽ

+Sắp xếp các lí lẽ,bằng chứng theo một trình tự hợp lí

+lật lại vấn đề,bổ sung ý kiến để cách nhìn về vấn đề thêm toàn diện

-Kết bài

+Khẳng định lại ý kiến

+Đề xuất giải pháp,bài học nhân thức và phương hướng hành động



(Làm bài văn dài 1 tí, đủ bằng chứng, lí lẽ, ý kiến, bằng chứng , lí lẽ, ý kiến gắn kết chặt chẽ, sắp xếp hợp lí.)

1
6 tháng 3 2025

Người Việt Nam ta có một truyền thông rất quý báu, đó là tinh thần tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách”, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau “thương người như thể thương thân”. Truyền thông ấy đã trở thành đạo lí của dân tộc, được thể hiện trong tục ngữ, ca dao. Câu ca dao giàu hình ảnh dưới đây bắt đầu từ nguồn mạch ấy:

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Nói đến lòng yêu thương lẫn nhau, đoàn kết với nhau, câu ca dao trên đã đưa ra hai hình ảnh so sánh giàu sức biểu cảm: “bầu” và “bí”. Bầu và bí tuy là giống khác nhau nhưng được trồng chung trên một mảnh đất, bắc chung một giàn tre. Chúng thường có chung môi trường, điều kiện sống. Chính vì vậy chúng càng gần gũi, thân thiết với nhau. Bầu thân mềm, bí cũng thân mềm. Bầu phải tựa vào giàn mới phát triển được. Bí cũng như thế. Chung một giàn còn có nghĩa là bầu và bí tựa vào nhau, tựa vào giàn. Giàn đổ thì bầu gặp tai vạ, bí cũng gặp tai vạ. Bầu và bí cùng chung một phận. Vì thế bầu chớ chê bí xấu, bí cũng không nên chê bầu hoa trắng không được duyên rồi ghét bỏ, xa cách nhau. Vì sao bầu bí khác giống nhau mà vẫn phải thương yêu nhau? Nhân dân đưa ra lí do “chung một giàn”. Chung một giàn là chung nhau địa điểm, chung nhau không gian. Bầu và bí cùng chịu mưa, chịu nắng, cùng sống chung bằng những tấc đất bạc màu hay trù phú, cùng được tưới những dòng nước mát hay cùng chịu những ngày hạn hán. Như vậy cảnh ngộ của chúng không khác gì nhau. Lẽ nào một mình bầu tươi xanh khi bí thì khô héo? Bầu thương bí cũng chính là thương mình. Bí có sống thì bầu mới sông. Nếu bí cỗi cằn thì bầu cũng chẳng tươi xanh.

Câu ca dao nói về bầu và bí nhưng dân gian không chỉ nói chuyện cỏ cây. Hình ảnh bầu bí là hình ảnh ẩn dụ để khuyên nhủ người đời. Con người cũng như cây bầu, cây bí, tuy khác giống(không phải là anh em “Cùng chung bác mẹ một nhà càng thân”) nhưng lại sống chung trong một làng, một xã. Hình ảnh cái giàn của bầu và bí chung nhau gợi cho người ta liên tưởng đến một đất nước, một tỉnh, một huyện, một vùng quê, một xã, một làng. Cũng có thể đó là một trường, một lớp học hay một xưởng máy, một cửa hàng. Bầu hãy thương lấy bí hay là những người gần gũi trong một đơn vị tổ, nhóm hãy đoàn kết gắn bó và yêu thương nhau.

Không ai có thể sống đơn lẻ một mình không có mối liên hệ nào với những người khác. Ai cũng có quê hương nghĩa là có những người đồng hương chung làng, chung xóm. Ai cũng phải làm việc nên cũng có những người đồng nghiệp. Khi còn bé đi học, bạn bè cùng lứa tuổi cùng chung trường lớp, thầy cô. Chính những nét chung nhất ấy của họ đã giúp họ gắn bó với nhau hơn. Nhờ đò họ càng hiểu nhau, cảm thông cho nhau và giúp đỡ nhau, nhường nhịn nhau. Nhất định cuộc sống sẽ đẹp hơn nếu mọi người đều quan tâm, yêu quý nhau. Vì vậy lòng yêu thương, tinh thần đoàn kết, chia sẻ, nhường nhịn nhau là đức tính, phẩm chất quý báu cần có ở mỗi người.

Lời khuyên nhủ, kêu gọi yêu thương đoàn kết không chỉ được nhắc một lần qua câu ca dao trên. Chúng ta còn bắt gặp trong những câu ca dao khác:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng

Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

Thực tế đã chứng minh sự đoàn kết gắn bó của nhân dân ta mỗi khi có giặc ngoại xâm. Trong những trận chiến đấu ấy, tình thương yêu, đoàn kết đã làm cho dân tộc ta có sức mạnh chiến thắng. Từ miền ngược tới miền xuôi, từ Bắc chí Nam, từ cụ già đến trẻ em, ai ai cũng đồng lòng giết giặc cứu nước. Bởi vì họ đều là dân của đất nước Việt Nam, cùng chịu chung nỗi khổ mất nước, chịu chung ách nô lệ. Chính vì vậy mà nhân dân ta đã đoàn kết, yêu thương nhau, cùng nhau chiến thắng kẻ thù.

Hiện nay đất nước ta đã thống nhất nhưng không phải mọi miền đều giàu có như nhau. Cuộc sống của mọi người cũng khác biệt. Có những người quanh năm làm lụng vất vả nhưng không sao đủ cái ăn, cái mặc. Lại có những người rất giàu sang, đầy đủ. Theo truyền thông yêu thương của dân tộc, cần phải giúp đỡ người nghèo xóa đói giảm nghèo. Những người giàu có giúp người nghèo vay vốn làm ăn, góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện chính là thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, truyền thông nhân ái “nhường cơm sẻ áo” của cha ông. Nếu không giúp đỡ, nương tựa vào nhau như vậy làm sao con người có thể đồng đều vươn lên trong cuộc sống?

Đọc lại câu ca dao kêu gọi lòng yêu thương đùm bọc, ta càng thấy ý nghĩa to lớn của tình thương và sự sáng suốt của người xưa. Tình thương làm cho người ta sống nhân hậu, thân ái với mọi người. Tình thương làm cho con người vượt qua được khó khăn, hoạn nạn. Yêu thương, quan tâm giúp đỡ những người xung quanh, những người hàng xóm, bạn bè là một phẩm chất cần có của mỗi người chúng ta. Người Việt Nam sẽ truyền cho thế hệ mai sau đạo lí tốt đẹp đó để làm cho cuộc đời này thêm đẹp, thêm ý nghĩa hơn.

Viết bài văn nghị luận xã hội về câu tục ngữ "" Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" -Mở bài: +Có câu dẫn dắt +Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận +Nêu được ý kiến -Thân bài: +Giải thích từ ngữ , ý nghĩa của tục ngữ +Nêu được ít nhất hai lí lẽ thuyết phục,chặt chẽ để làm rõ ý kiến +Nêu được bằng chứng đa dạng,thuyết phục để...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận xã hội về câu tục ngữ "" Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" -Mở bài: +Có câu dẫn dắt +Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận +Nêu được ý kiến -Thân bài: +Giải thích từ ngữ , ý nghĩa của tục ngữ +Nêu được ít nhất hai lí lẽ thuyết phục,chặt chẽ để làm rõ ý kiến +Nêu được bằng chứng đa dạng,thuyết phục để củng cố cho lí lẽ +Sắp xếp các lí lẽ,bằng chứng theo một trình tự hợp lí +lật lại vấn đề,bổ sung ý kiến để cách nhìn về vấn đề thêm toàn diện -Kết bài +Khẳng định lại ý kiến +Đề xuất giải pháp,bài học nhân thức và phương hướng hành động (Làm bài văn dài 1 tí, đủ bằng chứng, lí lẽ, ý kiến, bằng chứng , lí lẽ, ý kiến gắn kết chặt chẽ, sắp xếp hợp lí.)

1
8 tháng 2

Trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam, có nhiều câu nói giản dị nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách sống và cách làm người. Một trong những câu tục ngữ tiêu biểu là: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Câu tục ngữ không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó giữa con người với con người mà còn gửi gắm quan niệm sống nhân ái, đoàn kết – một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Theo em, đây là một lời khuyên đúng đắn và vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hôm nay. Trước hết, cần hiểu rõ ý nghĩa của câu tục ngữ. “Bầu” và “bí” là hai loại cây khác nhau nhưng cùng leo chung trên một giàn, cùng nương tựa để sinh trưởng. Hình ảnh ấy được nhân dân mượn để nói về con người trong xã hội: tuy khác nhau về hoàn cảnh, nghề nghiệp, xuất thân nhưng cùng sống trong một cộng đồng, một đất nước. Từ đó, câu tục ngữ khuyên con người phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Một lí lẽ quan trọng khẳng định giá trị của câu tục ngữ là con người không thể sống tách rời cộng đồng. Trong cuộc sống, không ai có thể tự mình làm được tất cả mọi việc. Khi biết yêu thương và giúp đỡ nhau, xã hội sẽ trở nên gắn bó, bền vững hơn. Thực tế đã chứng minh, trong những lúc thiên tai, dịch bệnh hay khó khăn chung, tinh thần “bầu bí thương nhau” đã giúp dân tộc ta vượt qua thử thách. Những phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào vùng lũ, giúp đỡ người nghèo, người yếu thế là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của lòng nhân ái. Bên cạnh đó, câu tục ngữ còn nhắc nhở con người phải biết sống bao dung, không phân biệt, ích kỉ hay vô cảm. Trong xã hội hiện đại, vẫn còn những biểu hiện của lối sống thờ ơ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân mà quên đi trách nhiệm với người khác. Điều đó khiến các mối quan hệ trở nên lạnh lẽo, rạn nứt. Ngược lại, nếu mỗi người biết quan tâm, sẻ chia từ những việc nhỏ như giúp bạn bè trong học tập, kính trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người gặp khó khăn thì xã hội sẽ trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, yêu thương và giúp đỡ không có nghĩa là làm mọi việc một cách mù quáng. Mỗi người cần giúp đỡ đúng cách, đúng lúc, không dung túng cho cái xấu hay tiếp tay cho hành vi sai trái. Chỉ khi sự yêu thương đi kèm với trách nhiệm và sự tỉnh táo thì giá trị của câu tục ngữ mới được phát huy trọn vẹn. Tóm lại, câu tục ngữ “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đã khẳng định truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc Việt Nam. Đây là một bài học sâu sắc về cách sống yêu thương, biết nghĩ cho người khác. Là học sinh, em nhận thức rằng mình cần rèn luyện lối sống chan hòa, biết sẻ chia, giúp đỡ bạn bè, gia đình và những người xung quanh. Chỉ khi mỗi người cùng chung tay vun đắp tình yêu thương, xã hội mới thực sự trở thành một “giàn” vững chắc cho tất cả mọi người cùng phát triển.