K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. Mở bài- Giới thiệu về bài thơ: Bài thơ "Con mối và con kiến" không chỉ mô tả sự đối lập giữa hai nhân vật mối và kiến mà còn gửi gắm những thông điệp sâu sắc về lao động, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh vì cộng đồng.- Giới thiệu vấn đề: Nhân vật kiến trong bài thơ hiện lên là một hình mẫu tiêu biểu cho sự cần cù, hy sinh vì cộng đồng và tinh thần lao động kiên...
Đọc tiếp

I. Mở bài


- Giới thiệu về bài thơ: Bài thơ "Con mối và con kiến" không chỉ mô tả sự đối lập giữa hai nhân vật mối và kiến mà còn gửi gắm những thông điệp sâu sắc về lao động, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh vì cộng đồng.


- Giới thiệu vấn đề: Nhân vật kiến trong bài thơ hiện lên là một hình mẫu tiêu biểu cho sự cần cù, hy sinh vì cộng đồng và tinh thần lao động kiên trì.


II. Thân bài


1. Kiến là hình mẫu của sự lao động cần cù và tinh thần trách nhiệm


- Kiến là nhân vật cần mẫn, làm việc chăm chỉ để duy trì sự sống và phát triển của cả đàn.


- Kiến giải thích về giá trị của lao động qua câu nói: “Hễ có làm thì mới có ăn.” Đây là quan điểm sống về lao động vất vả, nhưng không thể thiếu trong cuộc sống.


- Kiến làm việc không chỉ vì bản thân mà vì lợi ích của cộng đồng, thể hiện trách nhiệm đối với gia đình, đàn kiến.


2. Sự hy sinh vì cộng đồng và tinh thần đoàn kết


- Kiến không chỉ lao động cho mình mà còn vì tổ, vì đàn. "Sinh tồn là cuộc khó khăn / Vì đàn vì tổ nên thân gầy gò."


- Kiến chấp nhận sự vất vả, gầy gò để giúp đỡ đồng loại, thể hiện tinh thần hy sinh và đoàn kết trong cộng đồng.


- Lời nói của kiến phản ánh sự quan trọng của việc làm việc cho tập thể, chứ không chỉ cho bản thân.


3. Sự khiêm tốn và không tự mãn


- Kiến không hề tự mãn hay khoe khoang về công việc vất vả của mình. Thay vào đó, nó bình tĩnh giải thích rằng sự hy sinh lao động là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển lâu dài.


- Kiến không chạy theo sự hưởng thụ mà mối đang khoe khoang, thể hiện sự khiêm nhường và không chú trọng vào những thành quả tạm thời.


4. Lời cảnh tỉnh đối với sự lười biếng và ích kỷ


- Lời cảnh tỉnh của kiến đối với mối: "Các anh chả vun thu xứ sở / Cứ đục vào chỗ ở mà xơi."


- Kiến nhắc nhở về việc lao động bền bỉ, không thể sống dựa vào sự hưởng thụ tạm bợ, nếu không sẽ dẫn đến sự đổ vỡ, "nhà kia đổ xuống đi đời các anh."


- Lời nhắc nhở này là bài học cho những ai chỉ muốn hưởng thụ mà không đóng góp công sức.


III. Kết bài


- Khái quát lại hình ảnh và vai trò của nhân vật kiến: Kiến là biểu tượng của sự lao động chăm chỉ, hy sinh vì cộng đồng và tinh thần khiêm tốn.


- Ý nghĩa bài học: Bài thơ gửi gắm thông điệp về giá trị của lao động, sự hy sinh, và trách nhiệm trong cộng đồng. Kiến là hình mẫu lý tưởng cho mỗi chúng ta trong cuộc sống.

Xem TẠI ĐÂY CHO AI CẦN BÀI VIẾT PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT CON KIẾN TRONG VĂN BẢN ''VẾT NỨT VÀ CON KIẾN''

0
viết đoạn văn phân tích chủ đề nhà mẹ lê ai giúp tui với mn ơi NHÀ MẸ LÊNhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có...
Đọc tiếp

viết đoạn văn phân tích chủ đề nhà mẹ lê ai giúp tui với mn ơi

NHÀ MẸ LÊ

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.

0