K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

14 tháng 2 2025

văn bản đây ạ

14 tháng 2 2025

văn bản đâu rồi bạn ơi. Không có văn bản sao tụi mình làm được

14 tháng 2 2025

C1: thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

C2: Bài thơ "Bánh trôi nước" được viết theo luật trắc vì nó có nhiều thanh trắc và mang phong cách mạnh mẽ, dứt khoát, phù hợp với nội dung thể hiện thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

(B; Bằng: dấu huyền và không có dấu, T: Trắc: Các dấu còn lại)

C3: Bài thơ "Bánh trôi nước" gieo vần chân, vần liền ở câu 2 và 4, giúp tạo nhịp điệu hài hòa và nhấn mạnh ý nghĩa của bài thơ.(non-son)

C4:

  • Câu 1 (B - B - T - B - T - B - B) niêm với câu 3 (T - T - B - B - T - T - T) (B – T, T – B, B – B → đúng luật)
  • Câu 2 (T - T - B - B - T - B - B) niêm với câu 4 (B - B - T - B - T - B - B) (T – B, B – T, B – B → đúng luật.

C5:

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu nhiều bất công, số phận lênh đênh, phụ thuộc vào lễ giáo hà khắc. Họ không có quyền tự quyết định cuộc đời mình, cam chịu nhiều thiệt thòi trong hôn nhân và cuộc sống. Tuy nhiên, dù chịu nhiều đau khổ, họ vẫn giữ được phẩm chất thủy chung, giàu yêu thương và kiên cường. Dù xã hội đã đổi thay, vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ vẫn luôn đáng trân trọng.

C6:1.Dù bị vùi dập, chìm nổi theo số phận, người phụ nữ trong Bánh trôi nước vẫn kiên cường giữ trọn phẩm giá, như ngọn lửa nhỏ bền bỉ cháy trong giông bão cuộc đời.

2.Số phận người phụ nữ trong bài thơ Bánh trôi nước thật nhỏ bé và mong manh, lênh đênh giữa dòng đời đầy bấp bênh, nhưng vẫn tỏa sáng với tấm lòng son sắc, thủy chung đáng trân trọng.

một trong hai câu đó tùy bạn



14 tháng 2 2025

Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 40 km/ giờ, đến B nghỉ 30 phút. Lúc về, đi với vận tốc 25 km/ giờ. Biết thời gian cả đi lẫn về và nghỉ là 5 giờ 40 phút. Tính quãng đường AB?

14 tháng 2 2025

Ok

11 tháng 2

Các luận điểm chính trong truyện ngắn Anh Hai của Lý Thanh Thảo có thể triển khai như sau


Luận điểm 1 Tình cảm anh em sâu nặng và thiêng liêng, nhân vật Anh Hai luôn yêu thương, quan tâm và sẵn sàng hi sinh vì em, thể hiện sự gắn bó máu thịt trong gia đình


Luận điểm 2 Vẻ đẹp của người anh trong hoàn cảnh khó khăn, Anh Hai giàu trách nhiệm, biết lo toan, chịu đựng vất vả để em được sống và học tập tốt hơn


Luận điểm 3 Sự trưởng thành trong nhận thức của người em, qua những hi sinh thầm lặng của anh, người em hiểu hơn về tình thân và biết trân trọng gia đình


Luận điểm 4 Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm, truyện ca ngợi tình cảm gia đình giản dị mà cao đẹp, nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, sẻ chia và sống có trách nhiệm với người thân

ĐỀ SỐ 9Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:      "(1) Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện luôn phải đi kèm theo những điều kiện nào đó.Thế...
Đọc tiếp

ĐỀ SỐ 9

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:

      "(1) Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng có người đàn ông rất may mắn, ước gì được nấy. Tuy nhiên, đi kèm với sự may mắn đó là điều kiện: Bất cứ điều gì ông ta ước, người hàng xóm sẽ có gấp đôi. Người đàn ông chấp nhận, bởi lẽ mọi ước mơ được toại nguyện luôn phải đi kèm theo những điều kiện nào đó.

Thế là khi ông ta sở hữu ngôi nhà đẹp, người hàng xóm liền có một dinh thự lỗng lẫy. Ông ta ước mình giàu có, người hàng xóm có hẳn một mỏ vàng...Không chịu được sự "bất công" đó, người đàn ông may mắn liền ước mình bị mù một mắt để người hàng xóm bị mù cả hai...

(2) Chính lòng đố kị đã tạo nên sự nhỏ nhen, biến thành cảm giác hận thù và suy nghĩ mù quáng cho ông ta: thà kém may mắn hơn một chút để người khác đau khổ hơn mình thay vì chọn điều ngược lại.

(3) Lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục. Con người cần phải có lòng cao thượng, rộng rãi, biết vui với thành công của người khác. Tình cảm cao thượng không chỉ giúp con người sống thanh thản, mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội và đồng loại tiến bộ".

(Trích: Về những câu chuyện ngụ ngôn, nguồn Internet)

*Câu hỏi đọc hiểu:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn (1).

Câu 2. Tại sao tác giả ngụ ngôn lại cho rằng "mọi ước mơ được toại nguyện luôn phải đi kèm theo những điều kiện nào đó"?

Câu 3: Trong đoạn văn (1) người đàn ông ước những gì? Kết quả ra sao? Em có suy nghĩ gì về ước mơ cuối cùng của người đàn ông trong câu chuyện?

Câu 4: Theo em, vì sao lòng đố kị là một tính xấu cần khắc phục?

Câu 5: Việc trích dẫn đoạn văn (1) có tác dụng gì trong lập luận của ngữ liệu trên?

Câu 6. Em rút ra thông điệp gì tâm đắc nhất từ đoạn ngữ liệu trên? Vì sao?

CỨU TOIII PLSSSSSSSSSSSSSSSSSSSSSS


2
11 tháng 2

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn một là tự sự


Câu 2 Vì trong cuộc sống khi muốn đạt được điều gì con người thường phải chấp nhận những ràng buộc hoặc đánh đổi nhất định, không có sự may mắn hay thành công nào hoàn toàn tự nhiên mà không kèm theo điều kiện


Câu 3 Người đàn ông ước có nhà đẹp, ước giàu có và cuối cùng ước mình mù một mắt để hàng xóm mù cả hai mắt, kết quả là mỗi lần ông ước thì người hàng xóm đều có được gấp đôi, em cho rằng ước mơ cuối cùng thể hiện sự đố kị, ích kỉ và mù quáng vì chỉ muốn người khác khổ hơn mình

11 tháng 2

Câu 4 Vì lòng đố kị khiến con người trở nên nhỏ nhen, ích kỉ, dễ nảy sinh hận thù và hành động sai trái, không chỉ làm tổn hại người khác mà còn làm bản thân sống trong đau khổ và tiêu cực


Câu 5 Việc trích dẫn đoạn văn một giúp đưa ra một câu chuyện cụ thể làm dẫn chứng sinh động, từ đó làm nổi bật vấn đề về lòng đố kị và tăng sức thuyết phục cho lập luận


Câu 6 Thông điệp em tâm đắc nhất là cần sống cao thượng và biết vui trước thành công của người khác vì điều đó giúp tâm hồn thanh thản và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?- Cháu tên là Ngoan.- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!Mặt cậu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ

 Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:

- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?

- Cháu tên là Ngoan.

- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!

Mặt cậu bé rạng lên. Cậu nói:

- Cảm ơn cây.

- Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không? – Cây hỏi.

Cậu bé rùng mình, lắc đầu:

- Đau lắm, cháu chịu thôi!

- Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn?

Câu 1) Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm truyện

Câu 2) Từ văn bản và thực tế đời sống em hãy viết đoạn văn 200 chữ để bày tỏ suy nghĩ của em về cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống

2
11 tháng 2

Câu 1


Truyện Cậu bé và cây si già là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách ứng xử và lòng trắc ẩn. Tác phẩm xây dựng tình huống đơn giản, một cậu bé khắc tên mình lên thân cây si già, hành động tưởng như vô hại nhưng lại gây đau đớn cho cây. Thông qua lời thoại giữa cây và cậu bé, ý nghĩa câu chuyện dần được bộc lộ.


Hình ảnh cây si già được nhân hóa, biết đau, biết nói, biết hỏi han nhẹ nhàng. Khi bị khắc lên thân mình, cây không trách móc gay gắt mà dùng lời lẽ ôn tồn để trò chuyện. Cách hỏi của cây vừa khéo léo vừa thấm thía, đặc biệt là câu hỏi vì sao cậu không khắc tên lên người mình. Chính câu hỏi ấy khiến cậu bé nhận ra sự vô lí trong hành động của mình.


Nhân vật cậu bé đại diện cho sự vô tư, thiếu suy nghĩ của con người khi gây tổn hại cho người khác hay cho thiên nhiên. Khi nghe cây hỏi, cậu rùng mình vì biết đau và sợ đau, từ đó hiểu ra rằng cây cũng có cảm giác như mình.


Truyện gửi gắm thông điệp hãy biết đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Đừng làm điều mình không muốn người khác làm với mình. Qua cách kể giản dị, đối thoại ngắn gọn, tác phẩm để lại bài học đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng nhân ái và sự tôn trọng.

11 tháng 2

Câu 2


Trong cuộc sống, cách ứng xử giữa người với người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ câu chuyện về cậu bé và cây si già, ta nhận ra rằng trước khi làm điều gì, mỗi người cần biết đặt mình vào vị trí của người khác. Khi ta không muốn bị tổn thương, bị xúc phạm hay bị đối xử thiếu tôn trọng thì cũng không nên làm điều đó với người khác.


Thực tế cho thấy có những lời nói vô tình có thể làm người khác buồn rất lâu, có những hành động thiếu suy nghĩ có thể gây ra tổn thương khó bù đắp. Nếu ai cũng biết suy nghĩ thấu đáo, biết lắng nghe và cảm thông, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng, chân thành và lòng nhân ái chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh.


Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách ứng xử đúng mực, biết yêu thương, chia sẻ và cư xử có trách nhiệm. Khi ta trao đi sự tử tế, ta cũng sẽ nhận lại sự tử tế, đó là quy luật giản dị nhưng bền vững của cuộc sống.

11 tháng 2

1 U tương ứng với mẹ

2 Bầm tương ứng với mẹ

3 Thầy tương ứng với bố

4 Bu tương ứng với mẹ

5 Mần tương ứng với làm

6 Răng tương ứng với sao

7 Mô tương ứng với đâu

8 Rứa tương ứng với thế

9 Khoai lang gọi là củ khoai mật tương ứng với khoai lang

10 Ngô tương ứng với bắp


Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp. Bài đọc: CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP        […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.        Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp.

Bài đọc:

CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

       […] Trước hết là sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.

       Truyện mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên “vừa trang trọng, vừa tình cảm”: “Cây cối nhú lộc non.”, “Rừng xanh ngắt và ẩm ướt.”. Và cái nhã thú của người kể chuyện “được đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần”. Chỉ cần ba câu văn ngắn gọn, người kể chuyện đã gợi cho người đọc một không gian rất gần gũi, thân thuộc với con người. Thế nhưng không gian ấy dường như đối lập với suy nghĩ của ông Diểu, nhân vật chính trong truyện.

       Đọc truyện, người đọc không khỏi ám ảnh cảnh đi săn của ông Diểu. Khi thiên nhiên căng tràn sức sống, xanh tươi, mưa xuân ấm áp, rừng ẩm ướt cũng là thời điểm ông Diểu chọn đi săn và xem đó là cái thú đáng sống. […] Xưa nay, con người luôn có khát vọng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, khẳng định sức mạnh và lòng quả cảm của con người. Thế nhưng tàn sát, hủy hoại thiên nhiên ấy lại là tội lỗi. Tiếng gọi buồn thảm, đau đớn của khỉ đực, tiếng rú thê thảm của khỉ con dưới vực sâu xoáy vào lòng người đọc tiếng gọi của rừng sâu, ám ảnh người đi săn. Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật. […] Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông: “Ông Diểu sợ hãi run lên.”, “Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng.”. Nhận ra thiên nhiên giản dị và đẹp cũng là lúc ông ý thức được hành động vừa làm điều ác của chính mình. Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.

       Vẻ đẹp của sự hướng thiện

       Đi săn vào một ngày xuân đối với ông Diểu là điều đáng sống, là cơ hội để ông Diểu “khoe” cái sự dẻo dai, nhanh nhẹn và lòng dũng cảm của mình ở tuổi sáu mươi. Thế nhưng khi hạ gục được con mồi, ông Diểu lại hoảng sợ nghĩ mình đang làm điều ác. Chứng kiến sự hoảng loạn của đàn khỉ, khỉ cái liều mạng quay lại cứu khỉ đực ông Diểu day dứt: “Ông sẽ chết trước hai năm nếu bắn khỉ cái.”. Ông Diểu đã tha cho khỉ cái vì sự cuồng nhiệt hi sinh, bởi lòng cao thượng của nó. Gặp lại con khỉ đực ông vừa mới bắn đang nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh, nhìn khỉ đực bị thương giương ánh mắt cầu khẩn về phía mình, ông Diểu thương hại vơ nắm cỏ Lào vò nát, nhai kĩ đắp vết thương, cởi quần lót bó vết thương cho khỉ đực. Ông Diểu vừa bế khỉ đực vừa tìm đường xuống núi với ý nghĩ sẽ bắt con khỉ đực về, mặc cho ông phải bỏ lại quần áo. Nhưng khi thấy khỉ cái lẽo đẽo đằng sau, lầm lũi xuyên rừng, ông Diểu thấy lòng buồn tê tái, sống mũi cay cay. Ông đã quyết định phóng sinh khỉ đực, rẽ sang lối đi khác. Điều gì đã khiến nhân vật hướng thiện nếu không phải là tình yêu? Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng gợi cho nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật những rung cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên. Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật.

       Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người

       Truyện kết thúc bằng hình ảnh ông Diểu trở về nhà qua lối đi khác: “Lối đi đầy bụi gai, nhưng loài hoa tử huyền nhiều không kể xiết.”, “Hoa tử huyền màu trắng, vị mặn, nhỏ như đầu tăm ba chục năm kết muối một lần, điềm báo may mắn, đất nước thanh bình.”. Lối đi khác mang ý nghĩa biểu tượng cho sự thay đổi nhận thức và hành động của nhân vật. Loài hoa tử huyền mang ý nghĩa biểu tượng cho những điều tốt đẹp. Một người như ông Diểu khao khát chinh phục tự nhiên, ý thức được vẻ đẹp của thiên nhiên, có tấm lòng hướng thiện sẽ đón nhận những điều tốt lành trong cuộc đời.

       Khép lại trang truyện “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình thay đổi nhận thức và vẻ đẹp trong tâm hồn của của nhân vật yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp. Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện. Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”.

(Chu Thị Hảo, đăng trên taodan.com.vn, bài đăng ngày 18/9/2024)

1
11 tháng 2

Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng có tính thuyết phục cao vì người viết triển khai luận điểm rõ ràng, mạch lạc và bám sát tác phẩm. Tác giả lần lượt phân tích sự thức tỉnh của ông Diểu trước vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, qua đó làm nổi bật quá trình chuyển biến trong nhận thức nhân vật. Các dẫn chứng được trích từ truyện khá tiêu biểu, nhất là những chi tiết về tiếng kêu của đàn khỉ và hành động phóng sinh, giúp lập luận cụ thể và sinh động. Bên cạnh đó, người viết kết hợp phân tích và bình luận, đưa ra những nhận xét hợp lí về ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh hoa tử huyền và lối đi khác, làm sáng rõ tư tưởng nhân văn của tác phẩm. Nhờ hệ thống lí lẽ chặt chẽ và cảm nhận tinh tế, bài viết tạo được sự đồng thuận và giúp người đọc hiểu sâu hơn giá trị cái đẹp trong truyện.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá nội dung hai đoạn trích sau. Bài đọc: * Đoạn trích 1: Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự Tôi đều nhận thấy trên môi em Làn môi mong mỏng tươi như máu Đã khiến môi tôi mấp máy thèm *** Từ lúc tóc em bỏ trái đào Tôi chừng cặp má đỏ au au Tôi đều nhận thấy trong con mắt Một vẻ ngây thơ và ước ao *** Lớn lên, em đã biết làm duyên Mỗi...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá nội dung hai đoạn trích sau.

Bài đọc:

* Đoạn trích 1:

Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự
Tôi đều nhận thấy trên môi em
Làn môi mong mỏng tươi như máu
Đã khiến môi tôi mấp máy thèm

***
Từ lúc tóc em bỏ trái đào
Tôi chừng cặp má đỏ au au
Tôi đều nhận thấy trong con mắt
Một vẻ ngây thơ và ước ao
***
Lớn lên, em đã biết làm duyên
Mỗi lúc gặp tôi che nón nghiêng
Nghe nói ba em chưa chịu nhận
Cau trầu của khách láng giềng bên.

(Hàn Mặc Tử, Gái quê, NXB Hội nhà văn, 1995)

* Đoạn trích 2:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có giậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
***
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng…
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi, bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi…
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.
Mắt nàng đăm đắm trông lên…
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!

(Nguyễn Bính, Người hàng xóm, 90 bài thơ tình chọn lọc, NXB Văn học)

2
11 tháng 2

Văn bản Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng đã thể hiện tính thuyết phục cao nhờ hệ thống lí lẽ rõ ràng, dẫn chứng cụ thể và cách phân tích hợp lí. Trước hết, người viết bám sát tác phẩm, trích dẫn nhiều chi tiết tiêu biểu như khung cảnh rừng xuân tươi đẹp, tiếng kêu thảm thiết của đàn khỉ, tâm trạng sợ hãi và day dứt của ông Diểu. Những dẫn chứng ấy giúp làm nổi bật quá trình thức tỉnh và hướng thiện của nhân vật. Bên cạnh đó, bài viết triển khai luận điểm theo trình tự logic, từ vẻ đẹp thiên nhiên, đến vẻ đẹp của sự hướng thiện, rồi kết thúc ở sự hài hòa giữa con người và tự nhiên. Cách phân tích không chỉ dừng ở việc kể lại nội dung mà còn làm rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh lối đi khác hay hoa tử huyền. Giọng văn giàu cảm xúc, kết hợp với lập luận chặt chẽ, khiến người đọc nhận ra thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu thiên nhiên và sự thức tỉnh lương tri. Nhờ vậy, văn bản tạo được sức thuyết phục cả về lí trí lẫn cảm xúc.

11 tháng 2

Hai đoạn trích đều viết về tình cảm tuổi trẻ trong không gian làng quê nhưng có sắc thái riêng. Ở đoạn thơ của Hàn Mặc Tử, cảm xúc được bộc lộ trực tiếp, mạnh mẽ và đầy say mê. Nhà thơ tập trung khắc họa vẻ đẹp thiếu nữ qua làn môi, ánh mắt, cử chỉ làm duyên, từ đó thể hiện sự rung động nồng nhiệt, có phần táo bạo của cái tôi trữ tình. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc tươi tắn, giọng điệu sôi nổi tạo nên một bức tranh xuân trẻ trung, căng tràn sức sống. Trong khi đó, đoạn thơ của Nguyễn Bính lại thiên về nỗi niềm thầm lặng. Tình cảm được đặt trong không gian gần gũi với giậu mồng tơi, mái hiên, con bướm trắng, gợi vẻ mộc mạc, dân dã. Cái tôi trữ tình kín đáo, e dè, chỉ dám gửi gắm ước mong qua giấc mơ và hình ảnh ẩn dụ. Nếu Hàn Mặc Tử nghiêng về sự đắm say trực diện thì Nguyễn Bính nhấn mạnh nỗi buồn và khát khao thầm kín. Cả hai đều góp phần làm phong phú vẻ đẹp của thơ tình làng quê Việt Nam.