K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

11 tháng 2

Hội Gióng diễn ra chủ yếu ở làng Phù Đổng huyện Gia Lâm Hà Nội và ở Sóc Sơn Hà Nội.

Làng Phù Đổng là nơi Thánh Gióng sinh ra và lớn lên, địa điểm này gợi nhớ chi tiết cậu bé lên ba vẫn chưa biết nói cười, đến khi nghe sứ giả tìm người đánh giặc thì cất tiếng nói đầu tiên xin đi cứu nước, nhắc đến hình ảnh Gióng vươn vai thành tráng sĩ, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận.

Sóc Sơn là nơi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân rồi cưỡi ngựa bay về trời, địa điểm này gợi nhớ chi tiết Gióng nhổ tre làm vũ khí khi roi sắt gãy và sau khi chiến thắng đã cởi giáp sắt để lại rồi bay lên trời.

11 tháng 2

Tây Tiến của Quang Dũng là một trong những bài thơ tiêu biểu viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện sâu sắc vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính, đồng thời khắc họa bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội mà thơ mộng. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật chủ đề ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu và vẻ đẹp lãng mạn của thế hệ thanh niên thời kháng chiến.


Trước hết, bài thơ khắc họa hình tượng người lính Tây Tiến trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ. Những chặng đường hành quân hiện lên với “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”, “heo hút cồn mây súng ngửi trời”, gợi sự hiểm trở, cheo leo của núi rừng Tây Bắc. Thiên nhiên không chỉ hùng vĩ mà còn khắc nghiệt, thử thách ý chí con người. Trong hoàn cảnh ấy, người lính hiện lên với những hi sinh thầm lặng: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Cách nói giảm, nói tránh khiến cái chết trở nên nhẹ nhàng, thanh thản, làm nổi bật tinh thần coi thường gian khổ, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.


Bên cạnh vẻ đẹp bi tráng, người lính Tây Tiến còn mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa. Họ phần lớn là những thanh niên trí thức Hà Nội, nên giữa gian khổ vẫn giữ tâm hồn mơ mộng: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Hình ảnh ấy cho thấy nỗi nhớ quê hương và tình yêu cuộc sống vẫn cháy bỏng trong lòng họ. Đặc biệt, chân dung người lính “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” vừa hiện thực vừa mang vẻ đẹp kiêu hùng. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã khẳng định lí tưởng cao đẹp và tinh thần xả thân vì đất nước của thế hệ trẻ.


Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, nhiều từ ngữ tạo hình mạnh mẽ, táo bạo. Thể thơ bảy chữ với nhịp điệu linh hoạt, khi dồn dập, khi lắng đọng, góp phần thể hiện rõ cung bậc cảm xúc. Bút pháp tương phản giữa dữ dội và thơ mộng, giữa bi thương và hào hùng tạo nên sắc thái bi tráng đặc sắc. Ngôn ngữ giàu tính nhạc, nhiều từ Hán Việt trang trọng như “biên cương”, “viễn xứ”, “áo bào” góp phần nâng tầm hình tượng người lính.


Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, Tây Tiến tạo nên hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc. Người đọc không chỉ cảm nhận được nỗi gian khổ, hi sinh mà còn xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn và lí tưởng cao cả của người lính. Bài thơ vì thế trở thành khúc tráng ca về một thời kháng chiến oanh liệt, để lại ấn tượng bền vững trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc.

11 tháng 2

Câu hỏi ở dòng 47 trong bài thơ Lượm mang ý nghĩa bộc lộ nỗi đau xót, bàng hoàng và không muốn tin vào sự hi sinh của Lượm. Đó là câu hỏi tu từ, không nhằm tìm câu trả lời mà thể hiện cảm xúc nghẹn ngào của tác giả trước sự ra đi đột ngột của một em bé hồn nhiên, dũng cảm. Qua câu hỏi ấy, người đọc cảm nhận được tình cảm yêu thương, trân trọng và niềm tiếc thương sâu sắc dành cho Lượm, đồng thời làm nổi bật sự hi sinh cao đẹp của em trong kháng chiến.

14 tháng 2 2025

jack 97

18 tháng 2 2025

Để xác định người kể chuyện trong một văn bản thơ, bạn có thể chú ý đến một số yếu tố sau:

  1. Ngôi kể:
    • Thường thì người kể chuyện trong một bài thơ sẽ được xác định qua ngôi kể. Ví dụ, nếu bài thơ sử dụng ngôi "tôi" hoặc "mình", rất có thể người kể chuyện chính là tác giả hoặc một nhân vật trong thơ.
    • Nếu bài thơ sử dụng ngôi "ta", "chúng ta", hoặc "họ", thì người kể chuyện có thể là một nhân vật ẩn danh, hoặc người kể không phải là tác giả mà là một người thứ ba.
  2. Tính chủ thể:
    • Trong nhiều bài thơ, người kể chuyện thường thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, và quan điểm cá nhân rất rõ rệt. Từ đó, bạn có thể nhận ra "tôi" trong bài thơ là người đang thể hiện những trải nghiệm, cảm nhận riêng của mình.
  3. Đặc điểm giọng nói:
    • Người kể chuyện trong thơ có thể mang một giọng nói đặc trưng: có thể là một người từ quá khứ, một nhân vật hư cấu, hoặc chính tác giả. Ví dụ, trong thơ của các nhà thơ cổ điển như Nguyễn Du hay Xuân Diệu, bạn sẽ thấy giọng kể rất cụ thể, thể hiện cảm xúc và quan điểm riêng biệt của người nói.
  4. Ngữ cảnh bài thơ:
    • Đôi khi người kể chuyện không rõ ràng ngay từ đầu, nhưng qua ngữ cảnh và nội dung bài thơ, bạn có thể suy đoán người kể chuyện là ai. Ví dụ, nếu bài thơ nói về một cảnh vật thiên nhiên, người kể có thể là một nhân vật ẩn danh hoặc chính tác giả đang quan sát và thể hiện suy nghĩ của mình.
  5. Đặc điểm của đối thoại hoặc monologue:
    • Nếu trong bài thơ có sự xuất hiện của các câu đối thoại, hoặc một lời tự sự mà người kể trực tiếp nói ra những suy nghĩ của mình, thì nhân vật hoặc người kể chuyện sẽ dễ dàng nhận diện qua ngữ cảnh đó.

Tóm lại, để biết người kể chuyện trong một bài thơ, bạn cần phân tích ngôi kể, giọng điệu, đặc điểm của nhân vật (nếu có), và ngữ cảnh xung quanh bài thơ. Điều này sẽ giúp bạn hình dung rõ ràng hơn về người kể chuyện, dù đôi khi họ có thể chỉ là một "cái tôi" ẩn hiện qua cảm xúc và trải nghiệm.

15 tháng 6 2025

Giúp mình bài toán sau


Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau: Đoạn trích 1:    (Lược dẫn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)    Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước,...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau:

Đoạn trích 1:

   (Lược dẫn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)

   Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

   Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

  - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

   Rồi bà kể thêm:

 - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

  Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

  (Lược dẫn: Dung ăn trộm tiền của mẹ chồng để trốn về nhà nhưng bị mẹ đẻ đay nghiến. Sáng hôm sau, mẹ chồng xuống tìm nàng.)

   Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

   Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. [...] Nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

   Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

   […] Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

   - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

   Dung buồn bã trả lời:

   -  Con xin về.

(Trích Hai lần chết, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008)

Đoạn trích 2:

    (Lược dẫn: Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì chết đã lâu. Dù công việc buôn bán thuận lợi nhưng vì phải nuôi hai đứa con nheo nhóc cùng với đống nợ chồng chất nên bà để dì Hảo đi ở. Mới đầu về nhà mẹ nuôi, dì Hảo khóc ghê lắm nhưng rồi cũng quen dần và trở thành một người con gái rất ngoan đạo. Đến khi lấy chồng, dì dành cho chồng tất cả tình yêu thương nhưng chồng dì lại là một kẻ cờ bạc, rượu chè, vũ phu, không yêu dì.)

    Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng cháu giống. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy; dì làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa con.

   Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi không là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.

    Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu, hắn chửi số kiếp hắn, và sau cùng thì chửi vợ. Ô! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu rồi tình cờ có một bữa rượu say.

   Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc.

   Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ đi bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc còn hăm hai. Cái cơ nghiệp người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương.

    Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.

(Trích Dì Hảo, Tuyển tập truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao, NXB Văn học, 2017)

5
4 tháng 6

Văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đã hướng ngòi bút vào cuộc sống cơ cực của những người lao động nghèo, đặc biệt là số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Đoạn trích trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam và đoạn trích Dì Hảo của Nam Cao đều thể hiện nỗi đau, bi kịch của những người phụ nữ bất hạnh. Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có cách khám phá và thể hiện riêng, góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Trước hết, hai đoạn trích đều phản ánh số phận đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ xã hội cũ. Dung trong Hai lần chết bị mẹ bán làm vợ để đổi lấy vài trăm đồng bạc. Về nhà chồng, nàng phải lao động cực nhọc, thường xuyên bị mẹ chồng hành hạ, sỉ nhục. Không tìm thấy sự yêu thương từ gia đình ruột thịt lẫn gia đình chồng, Dung rơi vào tuyệt vọng đến mức tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Tương tự, dì Hảo trong truyện của Nam Cao cũng là người phụ nữ giàu đức hi sinh. Dì hết lòng yêu thương và chăm lo cho chồng nhưng lại gặp phải người chồng rượu chè, lười biếng, vũ phu. Khi gia đình lâm vào cảnh nghèo đói, dì phải gánh chịu cả nỗi đau vật chất lẫn tinh thần. Qua đó, cả hai nhà văn đều bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh.

Bên cạnh điểm tương đồng, hai đoạn trích còn có những nét khác biệt đáng chú ý. Trong Hai lần chết, Thạch Lam tập trung khắc họa bi kịch tinh thần của Dung. Những lời cay nghiệt của mẹ chồng, sự thờ ơ của cha mẹ ruột cùng cuộc sống bế tắc đã đẩy nhân vật đến trạng thái tuyệt vọng. Ngòi bút của Thạch Lam giàu chất trữ tình, nhẹ nhàng nhưng thấm thía, đi sâu vào những rung động tinh tế trong tâm hồn nhân vật. Hình ảnh Dung muốn tìm đến cái chết cho thấy sự bế tắc của con người khi không còn chỗ dựa nào trong cuộc sống.

Trong khi đó, Nam Cao lại chú trọng phản ánh hiện thực khắc nghiệt và phân tích tâm lí nhân vật một cách sắc sảo. Dì Hảo không chỉ chịu đau khổ vì người chồng tàn nhẫn mà còn vì hoàn cảnh nghèo đói đè nặng. Điều đáng quý là dù bị tổn thương, dì vẫn giàu lòng vị tha, không oán trách chồng hay người thân. Qua những giọt nước mắt của dì Hảo, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội bất công mà còn khám phá vẻ đẹp nhân hậu, đức hi sinh của người phụ nữ lao động.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn. Thạch Lam thiên về miêu tả thế giới nội tâm bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu cảm xúc. Nam Cao lại nổi bật với khả năng phân tích tâm lí sắc bén và tinh thần hiện thực sâu sắc. Dù khác nhau về cách thể hiện, cả hai đều gặp nhau ở tấm lòng nhân đạo, sự trân trọng và yêu thương đối với con người.

Tóm lại, hai đoạn trích trong Hai lần chết và Dì Hảo đều phản ánh chân thực nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội cũ, đồng thời thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Qua đó, người đọc thêm cảm thông với những số phận bất hạnh và càng trân trọng những quyền sống, quyền được yêu thương của con người trong cuộc sống hôm nay.

Văn học hiện thực 1930-1945 đã để lại những trang viết đau xót về số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ . Trong dòng chảy đó , hai đoạn trích từ tác phẩm " Hai lần chết " của thạch lam và " dì hảo "của nam cao và những bức tranh chân thực về nỗi khổ cực bế tắc của người phụ nữ trong xã hội cũ . dù có những nét tương đồng trong xã hội nhân đạo mỗi đoạn trích lại mang dấu ấn phong cách riêng biệt của từng tác giả

Trước hết , hai đoann trích gặp gỡ nhau phơi bày bị kịch cay đắng của người phụ nữ khi bị tước đoạt quyền sống và quyền hạnh phúc . ở đoạn trích một nhân vật dung là nạn nhân

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật vua Lia trong đoạn trích sau. Hồi I (Một lễ đường trong cung điện vua Lia.) LIA – Bây giờ ta muốn nói ra những điều bấy nay ta giữ kín. Truyền lấy bản đồ! Đây, ta đã chia đất nước làm ba phần. Ta quyết định cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan cùng công việc nước, đem gánh nặng đặt lên sức vóc trẻ...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật vua Lia trong đoạn trích sau.

Hồi I

(Một lễ đường trong cung điện vua Lia.)

LIA – Bây giờ ta muốn nói ra những điều bấy nay ta giữ kín. Truyền lấy bản đồ! Đây, ta đã chia đất nước làm ba phần. Ta quyết định cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan cùng công việc nước, đem gánh nặng đặt lên sức vóc trẻ trung hơn, để cho ta được thênh thang bước vào cõi thọ. Hiền tế của ta, Cor-nơ-uôn, và con ta nữa, hỡi An-ba-ni mà lòng ta thương chẳng kém, giờ đây ta tuyên bố rõ ràng về từng phần đất đai chia cho mỗi nàng công chúa của ta để tránh về sau mọi điều xích mích. Hai vương công nước Pháp và xứ Bơ-găn-đi, hai vị giai tế cao sang cùng rắp ranh công chúa út của ta, hai người qua chơi đây ướm hỏi cũng đã khá lâu, ta nên trả lời dứt khoát. Vậy, ta hỏi các con gái của ta, ngày nay ta đã từ thoái mọi phần: quyền lợi, đất đai, cũng như quan tâm việc nước; vậy thì trong các con, kẻ yêu ta nhất là ai, để cho ân trạch của ta biết mưa đổ xuống tấm lòng nào là nơi xứng đáng nhất. Gô-rơ-nin, công chúa đầu lòng của ta, cho con nói trước.

GÔ-RƠ-NIN – Thưa phụ vương, lòng con yêu phụ vương thực không lời nào tả xiết, con yêu phụ vương thiết tha hơn cả yêu ánh sáng, yêu vũ trụ, yêu tự do, yêu trên hết mọi vật quý giá nhất đời; yêu như yêu sự sống đầy duyên, đầy sức, đầy nhan sắc, đầy vinh quang; yêu như chưa có con yêu cha nào bằng, yêu như chưa có cha nào được con yêu đến thế; yêu tới mức không còn hơi sức nữa và yêu tới độ lời lẽ hóa nghèo nàn; con yêu cha thực vượt xa mọi bờ bến.

COR-ĐÊ-LI-A (nói riêng) – Cor-đê-li-a thì sao đây? Yêu mà im tiếng!

LIA – Cả cõi đất này, từ đây đến đấy, với bao nhiêu rừng cây bóng cả và đồng ruộng phì nhiêu, với bao nhiêu sông cá đầy nguồn cùng bãi bờ bát ngát, ta cho con làm nữ chủ. Đó là sở hữu của con và An-ba-ni, truyền cho con cháu đời đời. Nào, đến thứ nữ của ta thì nói sao? Rê-gan, con rất yêu quý của ta, vợ của Cor-nơ-uôn, con nói đi.

RÊ-GAN – Con với chị con đều đúc nên cùng một chất và so với chị, con biết mình con nào có kém chị? Nghe trong trái tim chân thật của con, con thấy lời chị con vừa thốt ra chính là tiếng của lòng con yêu kính đó; có điều lời ấy còn xa mới đạt tới độ nồng nàn. Con nói thực, con thù ghét mọi sinh thú ở đời, duy nhất chỉ thấy được hạnh phúc trong tấm tình con yêu đấng phụ vương rất tôn kính.

COR-ĐÊ-LI-A (nói riêng) – Hẩm hiu thay cho Cor-đê-li-a này! Không! Đâu đến nỗi vậy? Tình ta dào dạt còn phong phú hơn lời lẽ ta nhiều.

LIA – Thuộc về con và dòng dõi của con hưởng thụ đời đời là cả một phần ba phong tục đất nước đẹp tươi này, cũng rộng lớn, cũng hữu tình chẳng kém chi phần dành cho Gô-rơ-nin. Còn bây giờ, nào hòn ngọc báu rất nâng niu tuy út ít của ta, trang thục nữ thanh tân mà cả vườn nho nước Pháp và cả đồng cỏ sữa Bơc-gơ-đin đang cùng ganh nhau để chiếm được trái tim: con nói sao đây để đáng được hưởng phần ba đất nước còn trù phú hơn cả phần của hai chị con? Con nói đi.

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, con chẳng có gì đáng nói.

LIA – Chẳng có gì?

COR-ĐÊ-LI-A – Con chẳng có gì.

LIA – Chẳng có gì thì chẳng được gì hết. Nói đi nào!

COR-ĐÊ-LI-A – Tội thay cho con! Trái tim con, con không sao nâng nó lên đầu lưỡi được. Con yêu cha đúng theo đạo nghĩa kẻ làm con. Vậy đó thôi, không hơn không kém.

LIA – Thế nào, thế nào? Cor-đê-li-a? Con nên lựa lại lời mà nói, kẻo nữa con sẽ phải thiệt thòi nhiều!

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương của con, phụ vương đã sinh ra con, nuôi nấng con, thương yêu con; nghĩa nặng đó con xin đền đáp lại sao cho phải đạo; con vâng lời cha, yêu quý cha và hơn nữa, làm rõ ràng công đức phụ vương. Hai chị con nói là yêu cha đến trọn hết cả tấm tình yêu; nếu thực thế thì sao hai chị lại lấy chồng? Một ngày kia mà con lấy chồng thì vị phu tướng nào đưa tay ra đón lấy tâm nguyện của con cũng sẽ đón theo về phân nửa tấm tình con, phân nửa công phụng dưỡng với phân nửa bổn phận của con. Chắc chắn là con phải đừng lấy chồng như hai chị con mới có thể toàn tâm toàn ý dâng trọn tình con cho cha con được.

LIA – Cô nói đúng theo lòng cô đấy chứ?

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, vâng.

LIA – Ít tuổi thế mà đã vô tình đến thế sao?

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa phụ vương, ít tuổi thế nhưng mà chân thực.

LIA – Được lắm. Đem cái chân thực ấy đi mà làm của hồi môn. Vì rằng, thề với ánh sáng thần thiêng mặt trời, thề với bầu bí mật của Hê-cat và của trời đêm, thề với các tinh cầu có quyền năng cho ta được sống hay phải chết; tại đây, ta gạt bỏ hẳn mọi ân tình phụ tử, mọi quan hệ huyết mạch tông môn và từ đây ta coi mi vĩnh viễn là người dưng: đối với ta không vương, không bận. Đối với cái giống man rợ phải ăn thịt con mới đủ thỏa cơn thèm lòng ta gớm ghét như thế nào thì đối với mi, lòng ta cũng thế, hỡi kẻ trước đây đã từng là con gái của ta.

(Lược một đoạn: Vua Lia cho mời hai người cầu hôn công chúa út vào để bàn chuyện hôn sự. Trước mặt hai người cầu hôn, vua Lia vẫn nhất quyết không chia cho công chúa út chút của hồi môn nào, khiến cho công tước Bơ-găn-đi từ bỏ mối hôn sự.)

LIA – Vậy, ngài thôi nó là phải; vì nhân danh thứ quyền phép đã dựng nên ta, ta đã nói rõ cả với ngài về tài sản của nó rồi đấy! (Với vua nước Pháp) – Còn đối với vị anh quân đây, thì nếu ta lại đem gả cho Ngài kẻ mà ta gớm ghét, tức là làm tổn hại lớn cho tình hữu hảo của chúng ta; lòng ta sao nỡ? Vậy ta mong ngài chuyển hướng cầu duyên về một nơi xứng đáng hơn, chớ như kẻ khốn nạn kia thì tạo vật thiên nhiên cũng phải hổ ngươi vì có nó.

VUA PHÁP – Thực là chuyện kỳ dị! Có lẽ nào mà một người mà chỉ mới vừa đây thôi vẫn còn là châu báu nhất, nhà vua mở miệng là ban khen, coi là hương hoa tuổi thọ của Người, không ai tốt nết hơn, không ai đáng quý hơn, – vậy mà chỉ trong thoáng chốc lại phạm những tội gớm ghê, đến mất sạch sành sanh bao nhiêu từng ân huệ. Đến nỗi này thì: hoặc là tội lỗi nàng phải hết sức dị thường, bạo thiên nghịch địa; hoặc là lòng yêu thương của nhà vua nay đã hóa ra lẫn cẫn mất rồi! Nhưng muốn tin được là nàng có tội, họa chăng phải có một thứ tín điều mà nếu không có phép quỷ thần thì lý trí tôi không đời nào chịu chấp nhận.

COR-ĐÊ-LI-A – Tuy rằng lỗi của con là không biết khôn ngoan ngọt ngào đầu lưỡi, chỉ muốn làm hay hơn là nói giỏi, con cũng xin phụ vương truyền phán cho thiên hạ hay rằng, con mất ân sủng của phụ vương không phải vì bất cứ một hành vi nhơ nhuốc nào hoặc một bước lầm đường vô hạnh nào, mà chỉ vì con không có được ánh mắt tha thiết khẩn cầu, không có được thứ miệng đong đưa mà con vui lòng chịu thiếu, mặc dầu sự thiếu thốn đó đã khiến con mất luôn cả lòng từ ái của phụ vương.

LIA – Thà mày đừng sinh ra đời còn hơn là sinh ra lại làm thất ý ta như thế.

VUA PHÁP – Chỉ là thế thôi sao? Chỉ là chuyện một bản tính chậm lời, khéo làm mà vụng nói? Bơ-găn-đi tướng công, ngài trả lời cho nàng sao đây? Tình mà còn suy tính vấn vương thì còn tình đâu nữa? Ngài có yêu thương nàng? Bản thân nàng là một kho châu ngọc đó.

BƠ-GĂN-ĐI – Muôn tâu hoàng thượng, người cứ chỉ ban cho nguyên cái phần người đã hứa là tôi xin bái lĩnh Cor-đê-li-a về làm nữ công tước Bơ-găn-đi.

LIA – Ta không cho chi hết, ta đã thề là ta nhất quyết.

BƠ-GĂN-ĐI – Tôi đành lấy làm tiếc vậy thôi: vì nàng làm mất lòng cha, nên phải thiệt mất người chồng.

COR-ĐÊ-LI-A – Xin ngài Bơ-găn-đi yên tâm. Ngài tính lấy tài sản tôi làm đối tượng tình yêu, thì tôi không thể nào làm vợ ngài được.

VUA PHÁP – Nàng Cor-đê-li-a kiều diễm! Nàng giàu có biết bao khi chỉ có đôi bàn tay trắng, nàng càng thêm quý giá vì bị bỏ rơi, càng thêm đáng yêu bởi bị người khinh miệt. Nàng, cùng với đức hạnh của nàng, ta xin chiếm lĩnh. Ta đoạt cho ta được lắm chứ, cái phần mà thiên hạ rẫy ruồng gạt đi. Hỡi thiên địa thần minh! Lạ lùng thay, đối trước những lòng rẻ rúng giá băng kia, tình của ta trên muôn kính ngàn yêu thêm bừng cháy. Nàng công chúa không của hồi môn này, thưa hoàng thượng, tay không về với kẻ gặp phước may này, sẽ là hoàng hậu của tôi, của thần dân tôi, của cả nước Pháp thân yêu và tươi đẹp. Không một vị công tước nào của xứ Bơ-găn-đi ẩm ướt chuộc lại được nơi tôi người con gái bị hạ giá mà quý giá vô ngần này! Tạm biệt họ hàng đi, em Cor-đê-li-a! Mặc dầu người ta không tình không nghĩa. Thôi đành nơi này em mất hết nhưng chốn khác em lại được nhiều.

LIA – Thì đấy, nhà vua nước Pháp cứ việc đem nó về! Ngữ này, ta không còn chấp nhận là con gái của ta, cũng chẳng còn bao giờ ta thèm nhìn mặt nữa. Thôi đi đi! Đừng hòng ta thương, ta ân xá, hay ta ban một chút ơn lành! Nào mời, ngài công tước xứ Bơ-găn-đi.

(Lia, Bơ-găn-đi, Cor-nơ-uôn, An-ba-ni, Glô-xtơ và bọn tùy tùng vào.)

VUA PHÁP – Nàng từ biệt hai chị đi.

COR-ĐÊ-LI-A – Thưa hai chị, ngọc báu của cha, Cor-đê-li-a không khỏi rơi châu khi từ biệt hai chị. Em biết lòng hai chị lắm, và nết của hai chị; vì tình ruột thịt, em không tiện gọi thẳng tên nó ra. Xin hai chị cư xử tốt với cha. Em phó thác cha cho những tấm lòng kia đã thốt nên lời tâm nguyện. Thương thay! Giá em vẫn được lòng thương của Người, thì em ưng thấy Người trong tay phụng dưỡng khác tốt hơn. Thôi, vĩnh biệt hai chị.

RÊ-GAN – Cô không phải dạy chúng tôi cách ăn ở.

GÔ-RƠ-NIN – Cô cứ gắng mà chiều đức phu quân của cô cho khéo, người ta đã cứu vớt cô khỏi chỗ khốn cùng. Cô chi li cả với điều vâng thuận ý cha; cho cô đáng đời, cô muốn tay trắng thì được tay trắng rồi đó.

COR-ĐÊ-LI-A – Thời gian rồi sẽ phơi bày ra những nhân tâm lẩn núp sau khôn khéo. Ai che giấu lỗi, thế nào cũng phải hối về sau. Mong cho các chị mọi điều thịnh vượng.

VUA PHÁP – Ta ra thôi, nàng Cor-đê-li-a mỹ lệ.

(Vua Pháp và Cor-đê-li-a vào.)

GÔ-RƠ-NIN – Em này, chị có nhiều điều rất cần bàn với em, quan hệ đến cả hai chị em ta! Chị chắc tối nay cha chúng ta lên đường.

RÊ-GAN – Đúng rồi, cha đi với chị đấy. Tháng sau thì đến lượt cha sang em.

GÔ-RƠ-NIN – Em xem, tuổi già tính nết cha đổi thay như thế đấy. Những điều trông thấy vừa đây không phải là chuyện nhỏ. Ông cụ vẫn yêu con Cor-đê-li-a hơn cả, vậy mà, đùng một cái, ruồng bỏ nó, đủ biết ông cụ thiếu suy nghĩ biết chừng nào?

RÊ-GAN – Bệnh não tuổi già! Với lại thực ra ông cụ cũng chẳng bao giờ biết giữ mình một tý gọi là có.

GÔ-RƠ-NIN – Thời ông cụ tỉnh táo phương cương nhất, cũng đã thường sinh ra cơn trận đùng đùng. Bây giờ, già rồi, bọn mình coi chừng không những rồi phải chịu đựng cái cố tật đã kinh niên mà còn phải tính đến cả những lúc dở chứng thất thường của cái tuổi khật khừ đâm cắm cảu.

RÊ-GAN – Thế nào rồi chúng mình chẳng bị ông cụ thình lình giáng cho những vố đáo để, như việc phóng trục lão Ken vừa rồi?

GÔ-RƠ-NIN – Lúc này ông cụ đang dở cuộc tiễn biệt nhà vua Pháp. Chị em ta hội ý với nhau ngay đi. Nếu cứ với tình trạng thế kia mà ông cụ vẫn nắm vững uy quyền thì chuyện tự ý thoái vị mới đây đối với chúng ta có thể trở thành một mối hậu họa.

RÊ-GAN – Chúng ta sẽ nghĩ kỹ vấn đề này.

GÔ-RƠ-NIN – Phải tính cách nào, càng sớm càng tốt.

(Trích Vua Lia, Uy-li-am Sếch-xpia)

Tóm tắt: Vua Lia là vở bi kịch năm hồi của Sếch-xpia. Nội dung vở kịch như sau:

     Vua Lia nước Anh đã già, có ba cô con gái là Gô-rơ-nin, Rê-gan và Cor-đê-ni-a. Nhà vua định chia vương quốc cho các con gái làm của hồi môn, rút lui khỏi công việc triều chính. Ông hỏi các con xem ai yêu mình nhất để quyết định việc phân chia. Sau khi quyết định việc phân chia xong xuôi, vua Lia lần lượt đến ở với hai công chúa. Nhưng không được bao lâu, họ trở mặt, thậm chí là can tâm đẩy ông ra khỏi nhà trong một đêm giông bão. Quá sốc trước sự bội phản của hai cô con gái, vua Lia đã hóa điên. 

     Bá tước Glô-xtơ có hai người con trai là Eđ-ga (con chính thức) và Eđ-mơn (con ngoài giá thú). Bá tước bị Eđ-mơn lừa gạt, hiểu nhầm rằng Eđ-ga phản bội để chiếm hết gia tài của mình. Ông cho người truy lùng Eđ-ga khắp nơi khiến chàng phải cải trang, chạy trốn. Trong khi đó, Eđ-mơn phản bội bá tước, khiến ông bị Cor-nê-uôn móc mắt. 

      Quân Pháp kéo đến trả thù cho vua Lia nhưng bại trận. Vua Lia và Cor-đê-li-a bị bắt. Eđ-mơn bí mật cho người đến sát hại hai cha con họ. Trong khi đó, Gô-rơ-nin, Rê-gan cùng muốn tằng tịu với Eđ-mơn. Gô-rơ-nin viết thư bày cho Eđ-mơn chồng cô là An-ba-ni để mình được tự do. Bức thư bị Eđ-ga bắt được và chuyển cho An-ba-ni. Eđ-mơn bị Eđ-ga trừng trị. Trước khi chết, Eđ-mơn kêu mọi người đi cứu vua Lia và Cor-đê-li-a, nhưng không kịp. Cor-đê-li-a bị tên lính thắt cổ chết. Nhà vua giết tên lính, ôm xác con gái, quá đau đớn, ông cũng từ giã cõi đời trong tiếng kèn lâm khốc. 

1
11 tháng 2

Trong đoạn trích hồi I của vở bi kịch Vua Lia, Sếch xpia đã xây dựng hình tượng vua Lia như một nhân vật vừa quyền uy, tự tin tuyệt đối vào bản thân, vừa mù quáng, nông nổi và đầy bi kịch. Qua cách ứng xử của ông với ba người con gái, đặc biệt là Cor đê li a, tác giả làm nổi bật sai lầm nghiêm trọng của một vị vua chuyên quyền, đồng thời đặt nền móng cho thảm kịch về sau.


Trước hết, vua Lia hiện lên là một ông vua đã già nhưng vẫn mang nặng tư duy độc đoán. Ông quyết định chia đất nước làm ba phần và tuyên bố thoái vị không phải vì lợi ích quốc gia mà chủ yếu để “cất khỏi tuổi già này bao nỗi lo toan”, hưởng thọ an nhàn. Đáng chú ý hơn, việc phân chia giang sơn lại dựa trên một tiêu chí cảm tính: ai yêu ông nhất sẽ được hưởng nhiều nhất. Điều đó cho thấy ông đặt tình cảm chủ quan và lòng tự ái lên trên lí trí và trách nhiệm chính trị. Ông muốn được tâng bốc, muốn nghe những lời ngọt ngào để thỏa mãn cái tôi của mình. Khi Gô rơ nin và Rê gan dùng những lời lẽ khoa trương, giả dối để ca ngợi tình yêu dành cho cha, ông lập tức tin tưởng và ban cho họ phần đất rộng lớn.


Ngược lại, trước sự chân thực của Cor đê li a, vua Lia lại nổi giận. Ông không chấp nhận tình yêu “đúng theo đạo nghĩa kẻ làm con”, bởi nó không đáp ứng mong muốn được tôn vinh quá mức của mình. Từ một người cha từng yêu thương con út, ông sẵn sàng đoạn tuyệt “mọi ân tình phụ tử” chỉ vì bị tổn thương lòng tự ái. Hành động ấy thể hiện sự nóng nảy, cực đoan và thiếu suy xét. Ở đây, Sếch xpia đã khắc họa một bi kịch nhận thức: vua Lia không phân biệt được thật giả, không nhìn ra giá trị của sự chân thành, để rồi tự tay đẩy mình vào cô độc.


Tuy nhiên, hình tượng vua Lia không chỉ đơn thuần là một ông vua độc đoán mà còn là một con người đáng thương. Đằng sau cơn thịnh nộ là nỗi bất an của tuổi già, là khát khao được yêu thương và khẳng định giá trị bản thân. Chính vì quá cần tình yêu, ông lại trở nên mù quáng trước lời nịnh hót. Sai lầm của ông vừa mang tính cá nhân vừa phản ánh bi kịch của quyền lực khi tách rời lí trí và đạo đức.


Về nghệ thuật, Sếch xpia đã xây dựng nhân vật bằng hình thức đối thoại kịch giàu kịch tính. Lời thoại của vua Lia mang giọng điệu trang trọng, đanh thép, nhiều lời thề nguyền, thể hiện quyền uy và tính cách nóng nảy. Thủ pháp tương phản giữa lời lẽ hoa mĩ giả tạo của hai cô chị và sự chân thực giản dị của Cor đê li a càng làm nổi bật sự lầm lẫn của nhà vua. Xung đột kịch được đẩy lên cao ngay từ hồi đầu, tạo hiệu quả thẩm mĩ mạnh mẽ và báo hiệu một chuỗi bi kịch tiếp theo.


Như vậy, trong đoạn trích, vua Lia hiện lên là một nhân vật bi kịch điển hình: quyền lực nhưng thiếu sáng suốt, khao khát yêu thương nhưng lại tự tay đánh mất tình yêu chân thành. Hình tượng ấy không chỉ mở đầu cho thảm kịch gia đình và quốc gia mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về sự tỉnh táo, khiêm nhường và giá trị của chân thật trong đời sống con người.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích sau. Lớp VII: Đan Thiềm - Vũ Như Tô ĐAN THIỀM - Trời xui khiến tôi gặp ông ở chốn này. Thực là duyên kỳ ngộ. VŨ NHƯ TÔ - Tôi là một kẻ quê mùa, không biết những nhời mỉa mai bóng gió. ĐAN THIỀM - Đây là thực tình. Ông đừng nghi kỵ. Chính tôi đang muốn gặp ông để nói...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá hình tượng nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích sau.

Lớp VII: Đan Thiềm - Vũ Như Tô

ĐAN THIỀM - Trời xui khiến tôi gặp ông ở chốn này. Thực là duyên kỳ ngộ.

VŨ NHƯ TÔ - Tôi là một kẻ quê mùa, không biết những nhời mỉa mai bóng gió.

ĐAN THIỀM - Đây là thực tình. Ông đừng nghi kỵ. Chính tôi đang muốn gặp ông để nói chuyện.

VŨ NHƯ TÔ - Hỏi chuyện tôi! Để làm gì? Các người không thể nào hiểu được chuyện tôi, các người nông nổi...

ĐAN THIỀM - Ông mới gặp tôi, lấy cớ gì mà bảo tôi nông nổi?

VŨ NHƯ TÔ - Người ăn chơi thì đều nông nổi.

ĐAN THIỀM - Sao ông bảo tôi là người ăn chơi?

VŨ NHƯ TÔ - Cung nữ đều là tuồng ăn chơi. Huống chi trông quầng mắt thâm kia, tôi đoán chắc là người trong túy hương mộng cảnh.

ĐAN THIỀM - Ông nhầm lắm. Đôi mắt thâm quầng này là do những lúc thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người ghét.

VŨ NHƯ TÔ - Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM - Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ - Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM - Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tụy quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ - Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM - Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ - Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM - Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ - Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM - Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ - Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

ĐAN THIỀM - Chính vì thế mà ông càng đáng trọng.

VŨ NHƯ TÔ - Trọng để làm gì? Tìm danh vọng chúng tôi đã chẳng chọn nghề này. Đời lẩn lút...

ĐAN THIỀM - Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ - Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM - Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ - Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM - Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được.

VŨ NHƯ TÔ - Sao vậy?

ĐAN THIỀM - Không được. Vì đức Hồng Thuận sẽ bắt ông chịu cực hình và còn đem chu di chín họ nhà ông. Ông đã tu được bao nhiêu công quả mà phạm vào tội đại ác ấy?

VŨ NHƯ TÔ - Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM - Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ - Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM - Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ - Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM - Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố.

VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài?

ĐAN THIỀM - Phải.

VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM - Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một tòa đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ - Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Chú thích: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517, dưới triều Lê Tương Dực. Tác phẩm kể về Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây Cửu Trùng Đài, bất chấp Lê Tương Dực dọa giết. Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của vua, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn để trổ hết tài năng của bản thân mà xây cho đất nước một công trình vĩ đại. Thế nhưng, công cuộc xây dựng gần đến khi hoàn thiện, mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị tăng cao. Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài cũng bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy. 

 

1
11 tháng 2

Trong đoạn trích lớp VII vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa hình tượng Vũ Như Tô như một nghệ sĩ tài hoa, giàu khát vọng sáng tạo nhưng đồng thời mang trong mình bi kịch sâu sắc giữa lí tưởng nghệ thuật và hiện thực xã hội. Qua cuộc đối thoại với Đan Thiềm, nhân vật hiện lên với vẻ đẹp của tài năng, nhân cách và cả những giới hạn đầy mâu thuẫn.


Trước hết, Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, ý thức sâu sắc về giá trị tài năng của mình và nỗi đau của người có tài trong một chế độ mục nát. Chàng kể lại cảnh những người thợ giỏi bị “đóng cũi giải kinh”, bị giam cầm, bị đối xử tàn nhẫn chỉ vì dám sáng tạo. Bản thân chàng cũng từng chịu cảnh gông cùm, mẹ chết trước mắt, gia đình tan nát. Những chi tiết ấy làm nổi bật một hiện thực tàn bạo, đồng thời cho thấy Vũ Như Tô là người có lòng tự trọng và khí phách. Chàng từng thề “đành chết chứ không chịu làm gì” cho hôn quân, thể hiện thái độ kiên quyết không đem tài năng phục vụ cái xấu.


Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ là một người thợ tài giỏi mà còn là một nghệ sĩ mang khát vọng lớn lao. Chàng đau đớn vì “nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù”, vì đất nước không có nổi một công trình xứng tầm. Nỗi khổ tâm lớn nhất của chàng là “biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được”. Tài năng đối với chàng vừa là ân huệ vừa là gánh nặng. Chính khát vọng sáng tạo một công trình vĩ đại cho dân tộc đã khiến chàng rung động trước lời thuyết phục của Đan Thiềm. Khi nghe bà nói về việc “mượn tay vua” để thực hiện mộng lớn, Vũ Như Tô như được khai sáng, từ chỗ phản kháng quyết liệt chuyển sang chấp nhận xây Cửu Trùng Đài.


Ở đây, bi kịch của Vũ Như Tô bắt đầu bộc lộ rõ. Chàng tin rằng có thể tách nghệ thuật ra khỏi mục đích chính trị, tin rằng công trình sẽ “còn lại về muôn đời” bất chấp người xây dựng là hôn quân. Đó là lí tưởng thuần túy, trong sáng nhưng thiếu sự gắn bó với đời sống nhân dân đang lầm than. Chàng nghĩ đến vinh quang của đất nước, của hậu thế, nhưng chưa nhìn thấy nỗi khổ của dân chúng phải đổ mồ hôi, xương máu để xây đài. Vì vậy, Vũ Như Tô vừa đáng trọng vừa đáng thương: đáng trọng vì tài năng và khát vọng lớn, đáng thương vì ảo tưởng nghệ thuật thuần túy trong một xã hội rối ren.


Về nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng xây dựng nhân vật chủ yếu qua đối thoại kịch sắc sảo, giàu tính tranh luận. Lời nói của Vũ Như Tô khi thì gay gắt, khi đầy đau đớn, khi lại bừng sáng hi vọng, thể hiện rõ diễn biến tâm lí phức tạp. Xung đột giữa lí tưởng nghệ thuật và hiện thực tàn khốc được đặt ra gay gắt, tạo nên chiều sâu tư tưởng và sức ám ảnh thẩm mĩ.


Như vậy, Vũ Như Tô là hình tượng bi kịch tiêu biểu: một nghệ sĩ thiên tài khao khát cống hiến cho cái đẹp nhưng rơi vào vòng xoáy quyền lực và lịch sử. Qua nhân vật này, tác giả đặt ra vấn đề lớn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa tài năng cá nhân và lợi ích nhân dân, để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc cho người đọc.