K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 2 2025

tk ạ

11 tháng 2

Lễ hội Trung thu là một sinh hoạt văn hóa truyền thống quen thuộc của thiếu nhi Việt Nam, thường được tổ chức vào ngày rằm tháng tám âm lịch hằng năm. Đây là dịp để trẻ em vui chơi, phá cỗ và cảm nhận không khí sum họp gia đình.


Vào buổi tối Trung thu, khắp các con phố và sân trường đều rực rỡ ánh đèn lồng đủ màu sắc. Trẻ em cầm đèn ông sao, đèn kéo quân đi rước đèn trong tiếng trống lân rộn ràng. Hoạt động múa lân là phần hấp dẫn nhất, thu hút đông đảo người xem. Tiếng trống vang lên dồn dập, những chú lân nhảy múa linh hoạt mang đến niềm vui và tiếng cười cho mọi người.


Bên cạnh đó, mâm cỗ Trung thu thường có bánh nướng, bánh dẻo, hoa quả và nhiều loại kẹo. Sau khi ngắm trăng, mọi người cùng nhau phá cỗ trong không khí ấm áp, vui vẻ. Ở nhiều nơi còn tổ chức các trò chơi dân gian, thi làm đèn lồng hoặc kể chuyện về chị Hằng, chú Cuội.


Lễ hội Trung thu không chỉ là dịp vui chơi mà còn mang ý nghĩa gắn kết gia đình và gìn giữ nét đẹp truyền thống dân tộc. Đây là một sinh hoạt văn hóa giàu ý nghĩa, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người Việt Nam.

11 tháng 2

Sau đêm cuối cùng ở khu trọ cũ, ba chàng sinh viên Minh, Quân và Lâm tưởng rằng mọi chuyện đã khép lại. Nhưng chiếc hộp gỗ họ tìm thấy dưới sàn phòng vẫn nằm đó, khóa kín, như chờ một lời giải cuối cùng.


Câu chuyện bắt đầu khi trong dãy trọ liên tiếp xảy ra những vụ mất đồ bí ẩn. Không có dấu hiệu đột nhập, không ai nhìn thấy kẻ khả nghi. Chủ nhà trọ hoang mang, sinh viên xì xào nghi kị lẫn nhau. Minh, sinh viên ngành công nghệ thông tin, phát hiện hệ thống camera bị can thiệp đúng những khung giờ mất đồ. Quân, học luật, phân tích động cơ và nhận ra chỉ những phòng gần cầu thang thoát hiểm mới bị mất. Còn Lâm, vốn đam mê tiểu thuyết trinh thám, chú ý đến những vết trầy rất nhỏ trên tay vịn cầu thang.


Họ âm thầm theo dõi và phát hiện một điều lạ: bác bảo vệ già thường trực đêm hay mang theo một túi đồ cồng kềnh, nhưng khi ra về lại nhẹ tênh. Tuy nhiên, không bằng chứng nào đủ chắc chắn.


Chiếc hộp gỗ dưới sàn phòng họ là chìa khóa. Hóa ra, khi sửa đường ống nước, Minh vô tình thấy một khoảng rỗng giữa hai phòng. Bên trong là chiếc hộp chứa giấy tờ giả và chìa khóa dự phòng của toàn bộ dãy trọ. Lâm suy luận: chỉ người có quyền tiếp cận master key mới có thể vào phòng mà không để lại dấu vết.


Đêm đó, họ đặt một chiếc ví giả trong phòng, bí mật lắp camera mini riêng. Đúng hai giờ sáng, cửa khẽ mở. Bác bảo vệ bước vào, lục lọi rồi rời đi. Sáng hôm sau, ba người mang toàn bộ bằng chứng giao cho công an.


Hóa ra bác bảo vệ nợ nần do con trai cờ bạc. Ông lợi dụng sự tin tưởng để trộm đồ bán dần. Vụ việc khép lại, dãy trọ yên bình trở lại.


Ngày chuyển đi, Quân nói đùa: “Nếu không học đại học chắc bọn mình làm thám tử cũng được.” Minh chỉ cười, còn Lâm thì nhìn lại căn phòng lần cuối.


Không phải mọi bí ẩn đều nằm trong sách. Đôi khi, chỉ cần để ý một vết xước nhỏ, cả sự thật sẽ lộ diện.

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) làm rõ đặc trưng nhân vật hài kịch qua nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau.   Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây. PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy. ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) làm rõ đặc trưng nhân vật hài kịch qua nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau.

 

Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục

ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây.

PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi bít tất lụa bác gửi đến cho tôi chật quá, tôi khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã đứt mất hai mắt rồi.

PHÓ MAY – Rồi nó dãn ra thì lại rộng quá ấy chứ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì sẽ rộng thật. Lại đôi giày bác bảo đóng cho tôi làm tôi đau chân ghê gớm.

PHÓ MAY – Thưa ngài, đâu có.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đâu có là thế nào!

PHÓ MAY – Không, đôi giày không làm ngài đau đâu mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi, tôi bảo là nó làm tôi đau.

PHÓ MAY – Ngài cứ tưởng tượng ra thế.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!

PHÓ MAY – Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác. Tôi thách các thợ giỏi nhất mà làm nổi đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi! 

PHÓ MAY – Nào ngài có bảo là ngài muốn may xuôi hoa đâu!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại cần phải bảo may hoa xuôi ư?

PHÓ MAY – Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả. 

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Những người quý phái mặc áo ngược hoa ư?

PHÓ MAY – Thưa ngài, vâng.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ô! Thế thì bộ áo này may được đấy.

PHÓ MAY – Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Không, không.

PHÓ MAY – Xin ngài cứ việc bảo.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi đã bảo không mà. Bác may thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?

PHÓ MAY – Còn phải nói! Tôi đố hoạ sĩ nào lấy bút mà vẽ hầu ngài bộ áo vừa khít hơn được. Ở nhà tôi có một chú thợ phụ may quần cộc thì tài nhất thiên hạ; và một chủ khác là anh hùng của thời đại về may áo chẽn đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Bộ tóc giả và lông đính mũ có được chững chạc không?

PHÓ MAY – Chững chạc tuổi!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nhìn áo của bác phó may) – Ô kìa, bác phó! Vải này là thứ hàng tôi đưa bác may bộ lễ phục trước của tôi đây mà. Tôi nhận ra đúng nó rồi.

PHÓ MAY – Chẳng là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã gạn lại một áo để mặc.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải.

PHÓ MAY – Mời ngài mặc thử bộ lễ phục chứ ạ?

ÔNG GIUỐC-DANH – Ừ, đưa đây tôi.

PHÓ MAY – Khoan đã, không thể mặc như thế được. Thứ áo này phải mặc đúng thể thức, tôi có đem người đến để mặc hầu ngài theo nhịp điệu. Ớ này ! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ lễ phục này hầu ngài theo cách thức mặc cho các nhà quý phái. 

(Bốn chú thợ phụ ra, hai chú cởi tuột quần cộc của ông Giuốc-đanh mặc lúc tập kiếm vừa rồi, hai chú thì lột áo ngắn rồi họ mặc bộ lễ phục mới vào cho ông. Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục xong, đi đi lại lại giữa đám thợ, phô áo mới cho họ xem có được không. Cởi áo, mặc áo, chân bước, miệng nói, tất cả đều theo nhịp của dàn nhạc.)

THỢ PHỤ – Bẩm ông lớn, xin ông lớn ban cho anh em ít tiền uống rượu.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Anh gọi ta là gì?

THỢ PHỤ – Bẩm, ông lớn ạ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ông lớn ư? Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là "ông lớn". Đây, ta thưởng về tiếng "ông lớn" đây này!

THỢ PHỤ – Bẩm cụ lớn, anh em chúng tôi đội ơn cụ lớn lắm lắm.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – "Cụ lớn", ồ, ồ, cụ lớn! Chú mày thong thả tí đã. Cái tiếng "cụ lớn" đáng thưởng lắm. "Cụ lớn" không phải là một tiếng tầm thường đâu nhé. Này, cụ lớn thưởng cho các chú đây.

THỢ PHỤ – Dám bẩm đức ông, anh em chúng tôi sẽ đi uống rượu chúc sức khoẻ đức ông.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại "đức ông" nữa! Hà hà! Hà hà! Các chú hãy đợi tí, đừng đi vội. Ta là đức ông kia mà! (nói riêng) Của đáng tội, nếu nó tôn ta lên bậc tướng công, thì nó sẽ được cả túi tiền mất. Đây nữa này, thưởng cho chú về tiếng "đức ông" đấy nhé.

THỢ PHỤ – Dạ, bẩm đức ông, anh em chúng tôi xin bái tạ ơn người.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nói riêng) – Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả tiền cho nó thôi.

(Bốn người thợ phụ vui mừng nhảy múa.)

(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang, trong Tuyển tập kịch Mô-li-e, NXB Sân khấu, Hà Nội, 1994)

Tóm tắt: Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trích trong vở kịch 5 hồi Trưởng giả học làm sang (1670) và là lớp kịch kết thúc hồi II. Nhân vật trung tâm của vở kịch là ông Giuốc-đanh, tuổi ngoài bốn mươi, con một nhà buôn giàu có. Tuy dốt nát, quê kệch, nhưng ông muốn học đòi làm sang. Nhiều kẻ lợi dụng tính cách đó, săn đón, nịnh hót ông để moi tiền. Ông không tán thành tình yêu của con gái là Luy-xin với chàng Clê-ông chỉ vì chàng chẳng phải là quý tộc. Cuối cùng, nhờ mưu mẹo của Cô-vi-en, là đầy tớ của mình, Clê-ông cải trang làm hoàng tử Thổ Nhĩ Kì đến hỏi Luy-xin làm vợ và được ông Giuốc-đanh ưng thuận.

1
16 tháng 2 2025

Rd tey

11 tháng 2

Ở địa phương em có nhiều món ăn ngon, nhưng em thích nhất là bánh xèo và gỏi cuốn. Đây là những món ăn quen thuộc, dễ làm và mang đậm hương vị quê hương.


Bánh xèo được làm từ bột gạo pha với nước và một ít bột nghệ để tạo màu vàng đẹp mắt. Nhân bánh gồm tôm, thịt, giá đỗ và hành lá. Khi làm, người ta đổ bột vào chảo nóng có dầu, tráng mỏng, cho nhân vào rồi gập đôi lại. Bánh xèo ăn kèm rau sống và nước mắm chua ngọt. Khi cắn một miếng, em cảm nhận được vị giòn của vỏ bánh, vị ngọt của tôm thịt và hương thơm của rau.


Gỏi cuốn cũng là món em rất thích. Nguyên liệu gồm bánh tráng, bún, tôm, thịt luộc và rau sống. Chỉ cần nhúng mềm bánh tráng rồi cuốn các nguyên liệu lại thật chặt. Gỏi cuốn chấm với nước mắm hoặc tương đậu đều rất ngon.


Nhờ tìm hiểu và tập làm những món ăn này, em thấy yêu hơn ẩm thực quê hương và biết trân trọng công sức của người nấu.

11 tháng 2

Trong phần 3 truyện Lão Hạc, những hành động và tâm trạng tiêu biểu của lão Hạc thể hiện rõ sự đau khổ và lòng tự trọng của một người nông dân nghèo.


Về hành động, lão Hạc sang nhờ ông giáo giữ hộ tiền và mảnh vườn cho con trai, gửi tiền để lo ma chay cho mình, từ chối sự giúp đỡ của ông giáo và quyết định tìm đến cái chết bằng bả chó. Những hành động ấy cho thấy lão đã suy tính kĩ lưỡng, chuẩn bị chu đáo trước khi chết để không phiền lụy ai.


Về tâm trạng, lão Hạc day dứt, đau đớn, dằn vặt vì trót bán cậu Vàng, luôn sống trong ân hận và cô đơn. Lão buồn tủi, thương con, thương thân phận nghèo khổ của mình. Khi quyết định chết, lão vừa tuyệt vọng vừa giữ được lòng tự trọng, không muốn sống lay lắt hay làm điều xấu để tồn tại.


Qua đó, nhân vật lão Hạc hiện lên là người giàu tình thương, giàu lòng tự trọng và có nhân cách cao đẹp dù sống trong cảnh nghèo đói, bất hạnh.

16 tháng 2 2025

Câu chuyện ngụ ngôn: Con cáo và chùm nho

Một ngày nọ, có một con cáo đang lang thang trong rừng. Nó cảm thấy rất đói và đang tìm kiếm thứ gì đó để ăn.

Đi được một lúc, nó nhìn thấy một chùm nho chín mọng treo lủng lẳng trên cành cây cao. Những quả nho trông thật căng mọng và hấp dẫn. Con cáo nghĩ:
"Chắc hẳn những quả nho này ngọt lắm đây!"

Nó nhảy lên để hái chùm nho, nhưng chùm nho quá cao. Nó lùi lại, lấy đà rồi nhảy lên lần nữa, nhưng vẫn không với tới được.

Con cáo không bỏ cuộc ngay. Nó thử thêm vài lần nữa, nhưng dù cố gắng thế nào, nó vẫn không thể chạm đến chùm nho. Cuối cùng, con cáo thở dài, lắc đầu và tự nhủ:
"Chắc là nho còn xanh và chua lắm, không ăn cũng chẳng sao!"

Nói rồi, nó quay lưng bỏ đi, cố tỏ ra không quan tâm.

👉 Bài học: Khi không đạt được điều mình muốn, nhiều người thường tìm cách biện minh và chê bai thay vì thừa nhận rằng mình chưa đủ khả năng.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau: THẦN MƯA Thần Mưa là vị Thần hình rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau:

THẦN MƯA

Thần Mưa là vị Thần hình rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi. Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần Người ở hạ giới phải lên kiện Trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày.
Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình Thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành rồng hút nước phun mưa để giúp sức Thần Mưa. (…) Khi chiếu Trời ban xuống dưới Thuỷ phủ, vua Thuỷ Tề loan báo cho các giống dưới nước ganh đua nhau mà dự thi. Trời cắt một viên Ngự sử ra sát hạch. Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa rồng. Trong một tháng trời, bao nhiêu loài thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sóng. Có con cá rô nhảy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm. Có con tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa rồng, nhưng đến lượt thứ ba thì đuối sức ngã bổ xuống, lưng cong khoăm lại... Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước. Đến lượt cá chép vào thi thì bỗng gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng, lọt vào cửa Vũ Môn. Cá chép đỗ, vây, đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dạng bộ oai nghi, cá chép hóa rồng phun nước làm ra mưa. Bởi vậy, về sau người ta có câu ví rằng:
Gái ngoan lấy được chồng khôn,
Cầm như cá vượt Vũ Môn hóa rồng.

(Theo Hoàng Minh, Việt Dũng, Thu Nga, Thần thoại Việt Nam chọn lọcNxb Thanh Niên, 2019)

1
11 tháng 2

Văn bản Thần Mưa là một truyện thần thoại tiêu biểu của dân gian Việt Nam, nhằm lí giải hiện tượng mưa nắng và gửi gắm những ước mơ, quan niệm của con người xưa về tự nhiên và cuộc sống. Qua câu chuyện, tác giả dân gian đã thể hiện chủ đề ca ngợi sức mạnh của tài năng, ý chí vượt khó và khát vọng vươn lên để đạt tới thành công, đồng thời phản ánh nhận thức hồn nhiên của người xưa về thế giới tự nhiên.


Trước hết, văn bản giải thích nguồn gốc của mưa thông qua hình tượng Thần Mưa. Thần được miêu tả có hình rồng, bay xuống hút nước biển, nước sông rồi phun lên trời tạo thành mưa. Cách lí giải này thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa khi chưa có kiến thức khoa học về vòng tuần hoàn của nước. Đồng thời, câu chuyện còn lí giải hiện tượng hạn hán, lũ lụt bằng tính “hay quên” của Thần Mưa, qua đó cho thấy con người đã nhân hóa tự nhiên, gán cho thiên nhiên tính cách giống con người để dễ hiểu, dễ hình dung.


Đặc biệt, phần kể về cuộc thi vượt Vũ Môn để hóa rồng làm nổi bật chủ đề ca ngợi ý chí và tài năng. Nhiều loài thủy tộc tham gia nhưng đều thất bại vì chưa đủ sức vượt qua ba đợt sóng dữ. Chỉ có cá chép kiên cường, mạnh mẽ mới vượt qua thử thách và hóa rồng. Hình ảnh cá chép vượt Vũ Môn trở thành biểu tượng cho sự nỗ lực, kiên trì và khát vọng đổi đời. Qua đó, nhân dân gửi gắm niềm tin rằng ai có ý chí và tài năng thực sự sẽ đạt được thành công.


Về nghệ thuật, truyện mang đậm đặc trưng của thể loại thần thoại. Yếu tố tưởng tượng, kì ảo được sử dụng xuyên suốt như hình ảnh thần hình rồng, cuộc thi vượt sóng, cá chép hóa rồng. Biện pháp nhân hóa giúp các lực lượng tự nhiên trở nên sinh động, gần gũi. Cách kể chuyện ngắn gọn, rõ ràng, giàu hình ảnh tạo sức hấp dẫn cho người đọc. Đặc biệt, việc kết thúc bằng câu tục ngữ “cá vượt Vũ Môn hóa rồng” làm tăng tính khái quát và ý nghĩa giáo dục của câu chuyện.


Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, Thần Mưa không chỉ giải thích hiện tượng tự nhiên một cách hồn nhiên mà còn truyền tải bài học sâu sắc về ý chí vươn lên. Văn bản vì thế vừa giàu giá trị nhận thức, vừa mang ý nghĩa nhân văn và thẩm mĩ bền vững.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nhân vật "Thần Lửa A Nhi" trong văn bản sau:  THẦN LỬA A NHI Thần Lửa A Nhi là một trong những vị thần lớn nhất và lâu đời nhất của Ấn Độ. Thần rất cao lớn, da thịt đỏ au, có bảy cánh tay màu sắc như cầu vồng, lưỡi dài và lanh lẹ lạ thường.   Chính thần đã tung lên trời quả cầu lửa sưởi ấm chúng ta, nung chín cây, lúa, đỗ, ngày...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nhân vật "Thần Lửa A Nhi" trong văn bản sau: 

THẦN LỬA A NHI

Thần Lửa A Nhi là một trong những vị thần lớn nhất và lâu đời nhất của Ấn Độ. Thần rất cao lớn, da thịt đỏ au, có bảy cánh tay màu sắc như cầu vồng, lưỡi dài và lanh lẹ lạ thường.
  Chính thần đã tung lên trời quả cầu lửa sưởi ấm chúng ta, nung chín cây, lúa, đỗ, ngày ngày soi sáng cho chúng ta làm ăn. Chính thần thắp các vì sao lên, nếu không đêm tối sẽ sâu thẳm và rùng rợn biết bao. Thần có phép phân thân[1] nên thần ở khắp mọi nhà, vào bếp nấu thức ăn, đốt đèn rọi trang sách. Không có Thần ở trong nhà, con người sẽ đói, rét, sợ sệt, sống không khác gì loài cầm thú.
  Thần có tính nóng vội, lại phải ở khắp nơi, không coi xuể công việc, nên đôi lúc vô tình gây thiệt hại cho sinh linh[2] và hoa cỏ.
  Một hôm Thần Lửa A Nhi giúp người đốt cỏ dại ở ven rừng. Mải lo đi giúp nơi khác nữa, thần không về dập lửa kịp thời, nên lửa cháy vào rừng, lan rộng ra nhanh chóng, trong rừng có năm mẹ con chim Đầu Rìu. Mẹ chim kêu than: con mình chưa biết bay, phen này mẹ con chắc bị thiêu sống.
  Bỗng chim nghĩ được một kế cứu con:
  - Các con ơi, đằng kia có cái hang chuột. Các con hãy vào đấy, mẹ sẽ khỏa cát lên lấp tạm, khi lửa tắt mẹ sẽ đến đón các con.
  - Nhưng mẹ ơi - một con chim thưa - con chuột to lắm, nó sẽ ăn thịt chúng con mất.
  - Không đâu, bé yêu ạ. Con chuột ở cái hang này đã bị diều hâu bắt rồi, chính mẹ trông thấy.
  - Còn có những con chuột khác, mẹ ạ - một chim con nữa nói - Bị chuột ăn thì đau đơn và nhục nhã quá, mẹ ơi, thà chết thiêu còn hơn.
  - Bị thiêu nóng lắm, các con ạ. Chỉ có một cách là mẹ xòe hai cánh ra ấp các con dưới bụng, che lửa cho các con. Mẹ sẽ chết cháy còn các con may chăng sống sót.
  - Không, không mẹ ơi! Không đời nào! - Bốn chú chim con đồng thanh kêu lên. Rồi chú khôn nhất nói: “Nếu mẹ chết thì chúng con cũng sẽ chết đói, chết khát thôi. Và họ Đầu Rìu nhà ta sẽ tuyệt giống, tuyệt nòi. Mẹ còn trẻ lắm. Thoát nạn này, mẹ sinh một lũ em. Mẹ hãy bay đi, bay nhanh đi, lửa đến rồi. Chúng con van mẹ”.
  - Mẹ trốn một mình sao đành chứ?
  - Trốn đi, trốn đi mẹ ơi! - Bốn chú chim con lại đồng thanh kêu lớn - Bay nhanh đi, nếu không chúng con đâm đầu vào lửa cho mà xem.
  Mấy con chim con vỗ lạch bạch những đôi cánh chưa có lông rắp[3] xông vào lửa. Chim mẹ hoảng quá, đành phải bay đi.
  Bấy giờ bốn anh em chụm đầu vào nhau kêu cầu thần Lửa.
  - Thần Lửa A Nhi quảng đại[4] ôi! Chúng con hiện nay mất mẹ, lát nữa sẽ mất xác. Rồi mẹ chúng con sẽ vì xót xa mà chết héo chết khô. Chỉ có ngài là cứu được chúng con hỡi Thần A Nhi nhân hậu[5].
  Bỗng có tiếng vang vọng từ xa:
  - Các con đừng lo sợ. Tai họa sắp qua rồi. Và mẹ các con sẽ về với các con.
  Đó là tiếng của Thần Lửa. Thần đã trở về và kịp nghe tiếng kêu thảm thiết của mấy chú chim con. Thần dập tắt ngay ngọn lửa hung dữ, liền đó chim đầu rìu mẹ cũng bay về.
  Cảm tạ Thần A Nhi nhân hậu, năm mẹ con nhuộm đỏ chùm lông mũ của mình, ngụ ý thờ Thần Lửa trên đầu.

(Theo Thần thoại Ấn Độ

Chú thích:

[1] Phép phân thân: theo sự tin tưởng của người xưa, đây là phép lạ, có thể phân chia thân mình ra để cùng một lúc có mặt và hoạt động ở nhiều nơi khác nhau.
[2] Sinh linh (từ cũ): nhân dân, dân chúng.
[3] Rắp: sắp sửa, ở đây ý chỉ lông măng.
[4] Quảng đại: rộng lớn, chỉ đức tính rộng rãi, độ lương.
[5] Nhân hậu: có lòng thương người (nhân) và ăn ở tốt, rộng rãi với mọi người (hậu).

1
11 tháng 2

Trong văn bản Thần Lửa A Nhi, nhân vật Thần Lửa được xây dựng với vẻ đẹp vừa kì vĩ vừa gần gũi, thể hiện quan niệm của người xưa về sức mạnh và ý nghĩa của lửa trong đời sống. Trước hết, A Nhi hiện lên với hình dáng phi thường, cao lớn, da đỏ au, có bảy cánh tay nhiều màu sắc. Những chi tiết ấy làm nổi bật quyền năng và vị thế của một vị thần lớn, lâu đời trong thần thoại Ấn Độ. Thần chính là nguồn sáng, nguồn nhiệt, đem lại sự sống cho con người, sưởi ấm, nấu chín thức ăn, thắp sáng đêm tối. Nhờ có Thần Lửa, con người thoát khỏi cảnh đói rét, u tối và tiến gần hơn đến đời sống văn minh.


Tuy nhiên, nhân vật không chỉ được khắc họa ở phương diện quyền năng mà còn mang nét tính cách rất “người”. Thần nóng vội, đôi khi vô tình gây thiệt hại cho muôn loài. Chi tiết này khiến nhân vật trở nên chân thực, không hoàn toàn hoàn hảo. Quan trọng hơn, khi nghe tiếng kêu cầu của bốn chú chim con, Thần đã kịp thời trở lại dập tắt ngọn lửa. Hành động ấy thể hiện lòng nhân hậu, quảng đại và ý thức trách nhiệm.


Qua hình tượng Thần Lửa A Nhi, tác giả dân gian đã gửi gắm sự tôn kính đối với lửa, đồng thời khẳng định khát vọng về một sức mạnh vừa to lớn vừa giàu tình thương, luôn bảo vệ và che chở cho sự sống.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và hình tượng nhân vật "bé Em" trong truyện ngắn sau: ÁO TẾT Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho: - Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi. Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó. Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con...
Đọc tiếp

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và hình tượng nhân vật "bé Em" trong truyện ngắn sau:

ÁO TẾT

Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó. 

(Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học)

1
11 tháng 2

Trong truyện ngắn Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng một câu chuyện giản dị mà giàu ý nghĩa nhân văn về tình bạn tuổi thơ và sự trưởng thành trong nhận thức của trẻ nhỏ. Qua hình tượng nhân vật bé Em, tác giả làm nổi bật chủ đề ca ngợi tình bạn chân thành, sự biết nghĩ cho người khác và vẻ đẹp của lòng sẻ chia.


Trước hết, bé Em hiện lên với những nét hồn nhiên rất đúng với tâm lí trẻ con. Khi được má mua cho áo đầm hồng mới, bé háo hức tưởng tượng cảnh mình “đẹp như tiên”, muốn khoe với bạn để “tụi bạn lé con mắt”. Sự thích thú, muốn được chú ý ấy là tâm lí tự nhiên của một đứa trẻ trong dịp Tết. Lúc hỏi Bích về đồ mới, bé còn có chút vô tư, thậm chí hơi tự hào khi nói mình có bốn bộ đồ. Những chi tiết ấy khiến nhân vật trở nên chân thật, gần gũi.


Tuy nhiên, điểm đáng quý ở bé Em là sự nhạy cảm và biết nghĩ cho bạn. Khi nghe Bích chỉ có một bộ đồ mới và phải nhường cho các em nhỏ, bé Em “mất hứng hẳn”, “lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không”. Sự giằng co trong tâm trạng cho thấy bé đã nhận ra hoàn cảnh khó khăn của bạn. Đặc biệt, đến mùng hai, bé không mặc chiếc đầm hồng nổi bật mà chọn bộ đồ giản dị, “hai đứa mặc đồ hơi giống nhau”. Hành động ấy thể hiện sự tinh tế: bé sợ nếu mình diện áo đẹp quá, bạn sẽ buồn. Bé nghĩ “đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được”, một suy nghĩ tuy mộc mạc nhưng chứa đựng sự công bằng và tôn trọng tình bạn.


Qua nhân vật bé Em, tác giả khẳng định chủ đề: tình bạn chân thành quan trọng hơn vật chất hay sự hơn thua. Hạnh phúc không nằm ở việc khoe khoang áo đẹp mà ở sự đồng cảm và chia sẻ. Bé Em từ chỗ háo hức, có chút khoe khoang đã trưởng thành hơn trong suy nghĩ, biết đặt cảm xúc của bạn lên trên niềm vui riêng.


Về nghệ thuật, truyện được kể bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất đời thường. Tác giả xây dựng nhân vật qua đối thoại tự nhiên, ngôn ngữ Nam Bộ mộc mạc tạo cảm giác chân thật. Diễn biến tâm lí bé Em được miêu tả tinh tế qua những chi tiết nhỏ như ánh mắt, sự “lựng khựng”, suy nghĩ thầm kín. Chính những chi tiết giản dị ấy làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.


Như vậy, bé Em là hình tượng đẹp của tình bạn tuổi thơ: hồn nhiên mà giàu lòng thương. Qua nhân vật này, truyện Áo Tết gửi gắm thông điệp ấm áp về sự sẻ chia và trân trọng bạn bè, khiến người đọc cảm động và suy ngẫm.