K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản sau:     Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Ðói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Ðầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

    Hộ vốn nghèo. Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Ðói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Ðầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Ðối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời... Thế rồi, khi đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hắn hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi đau khổ của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách. Những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lý, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn. Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn... Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương! Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có... Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư?

(Theo Nam Cao, Đời thừa)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. Trong đoạn trích, sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo nên những tác phẩm như thế nào?

Câu 3. Tìm và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán.”

Câu 4. Nhân vật Hộ trong đoạn trích là người thế nào?

Câu 5. Em có đồng ý với ý kiến “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có...” không? Vì sao?

4
29 tháng 4

Câu 1 truyện được kể theo ngôi thứ ba người kể giấu mình và gọi nhân vật là hắn hộ câu 2 trong đoạn trích sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo nên những tác phẩm vô vị nhạt nhẽo gợi lên những tình cảm rất nông rất nhẹ diễn vài ý tưởng rất thông thường văn bản bằng phẳng dễ dãi không có gì mới lạ câu 3 biện pháp tu từ được sử dụng là liệt kê đọc ngẫm nghĩ tìm tòi nhận xét suy tưởng tác dụng tăng sự hình gợi cảm với sự diễn đạt nhấn mạnh quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc say mê và không ngừng nghỉ của hộ và từ đó cho thấy sự trăn trở khát vọng sáng tạo của nhân vật chính Câu 4 nhân vật Hộ là người trí thức nghèo có tài năng và khát vọng anh yêu nghề viết coi Nghệ thuật là lẽ sống và luôn mong sáng tạo tác phẩm của giá trị Đồng thời hộ cũng là người giàu trách nhiệm với gia đình nhưng không bị gánh nặng cơm áo làm cho day dứt đau khổ đây là bi kịch của người trí thức trong xã hội cũ Câu 5 Em đồng ý với ý kiến trên văn chương chân chính là cần sự đào tạo sâu suy nghĩ tìm tòi cái mới và sáng tạo để đem đến giá trị cho người đọc nếu chỉ lặp lại cái cũ viết hồi hộp thì tác phẩm sẽ nhanh chóng bị lãng quên những tác phẩm lớn thường là kết quả của lao động nghệ thuật nghiêm túc và tiếng nói riêng của nhà văn vì vậy người cầm bút muốn được đón nhận phải không ngừng sáng tạo và khám phá

Câu 1

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

Câu 2.
Sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo ra những tác phẩm hời hợt, nhạt nhẽo, thiếu giá trị, không có chiều sâu, dễ bị quên lãng.

Câu 3.
Biện pháp tu từ: Liệt kê (“đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng”).
Tác dụng: Nhấn mạnh sự say mê, lao động trí tuệ bền bỉ, thái độ nghiêm túc của Hộ đối với văn chương.

Câu 4.
Nhân vật Hộ là người có lí tưởng nghệ thuật cao đẹp, yêu nghề, nghiêm túc trong sáng tạo, luôn khao khát viết được tác phẩm có giá trị.

Câu 5.
Đồng ý. Vì văn chương đòi hỏi sự sáng tạo, tìm tòi và đào sâu thì mới tạo ra tác phẩm có giá trị, có dấu ấn riêng. Nếu chỉ viết hời hợt, bắt chước thì tác phẩm sẽ không có sức sống và không được ghi nhận.


(4 điểm) Đọc văn bản sau:      (Lược phần đầu: Dì Diệu và chú Đức lấy nhau nhiều năm nhưng không có con vì việc cắt khối u buồng trứng đã khiến dì không thể tự sinh con. Dì bàn với chú Đức tìm người mang thai hộ. Chị Lành gánh nước thuê vì hoàn cảnh ngặt nghèo nên nhận lời giúp chú dì.)      Và khi tháng Ba đi qua, đứa bé bắt đầu báo hiệu sự sống. Chị Lành khoe:      -...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

     (Lược phần đầu: Dì Diệu và chú Đức lấy nhau nhiều năm nhưng không có con vì việc cắt khối u buồng trứng đã khiến dì không thể tự sinh con. Dì bàn với chú Đức tìm người mang thai hộ. Chị Lành gánh nước thuê vì hoàn cảnh ngặt nghèo nên nhận lời giúp chú dì.)

     Và khi tháng Ba đi qua, đứa bé bắt đầu báo hiệu sự sống. Chị Lành khoe:

     - Nó đạp rồi, chị Diệu, nó đạp đây nè…

     Dì Diệu cười, rồi làm như một cơn gió từ đâu xộc tới, tim dì riết lại một nỗi đau. Dì thèm biết bao nhiêu cái cảm giác che chở một sinh linh sống trong mình, để được thèm tới cùng món ngọt, món chua, để có thể cảm nhận từ trái tim chứ không phải bằng bàn tay đôi bàn chân bé bỏng quẩy đạp trong bụng mình thon thót. Đó là những thứ cảm giác thiêng liêng không vay mượn, thuê mướn được: cảm giác làm mẹ. Dì bắt đầu lo lắng, mình đã làm một việc đúng không.

     Chỉ còn một tháng hai mươi ngày nữa, đứa bé sẽ ra đời. Dì Diệu tính từng ngày, từng bữa. Chị Lành tính từng ngày từng bữa. Người trông cho mau, người trông đừng bao giờ đến. Dì Diệu cố quên cái vẻ mặt buồn bã, van nài của chị Lành. Chị biết, khi đứa bé ngoe ngoe cất tiếng khóc chào đời, là chị với nó sẽ phải chia lìa... Chị thấy thương mình, thương con và thương dì Diệu.

(Trích Làm mẹ, Tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ)

Chú thích:

- Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau, là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Giọng văn đậm chất Nam Bộ, kể về những cuộc đời éo le. Cái chất miền quê sông nước ngấm vào tác phẩm, thấm đẫm tình của làng, tình của đất, của những con người chân chất hồn hậu.

- Tác phẩm Làm mẹ viết về nỗi bất hạnh của dì Diệu khi bị mất đi thiên chức làm mẹ. Qua đây nhà văn bộc lộ sự thấu cảm với tình mẫu tử của những người mẹ như dì Diệu, chị Lành.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2. Hình tượng trung tâm của văn bản là gì?

Câu 3. Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu văn sau và nêu tác dụng của nó.

Chị thấy thương mình, thương con và thương dì Diệu.

Câu 4. Em có cảm nhận gì về nhân vật dì Diệu?

Câu 5. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 3 - 5 câu) nói về một bài học sâu sắc mà em rút ra được sau khi đọc văn bản.

7
29 tháng 4

Câu 1 văn bản trên được kể theo ngôi kể thứ ba người kể giấu mình gọi tên nhân vật là gì Diệu chị Lành chú Đức câu 2 hình tượng trung tâm của văn bản là nhân vật dì Diệu người phụ nữ khao khát được làm mẹ nhưng gặp nhiều bất hạnh câu ba biện pháp tu từ trong câu văn chị thấy thương mình thương con và thương dì Diệu là biện pháp tu từ điệp từ thương tác dụng tăng sự hình gợi cảm cho sự diễn đạt nhấn mạnh tình cảm thương cảm sâu sắc của chị Lành dành cho bản thân cho đứa con và cho dì Diệu làm cho câu Văn Giàu cảm xúc thể hiện tình người ấm áp Câu 4 Em cảm nhận gì Diệu là người phụ nữ bất hạnh nhưng khao khát tình yêu thương gì luôn khao khát được làm mẹ yêu trẻ con và mong có một mái ấm trọn vẹn gì cũng là người nhân hậu biết cách suy nghĩ cho người khác nhưng trong lòng luôn đau đớn nỗi buồn riêng đây là nhân vật đáng thương và đáng được trân trọng Câu 5 qua văn bản trên em nhận ra tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và vô cùng cao quý mỗi người cần biết yêu thương trân trọng mẹ và gia đình của mình đồng thời chúng ta cũng cần Cảm thông với những số phận bất hạnh trong cuộc sống sống nhân ái biết chia sẻ sẽ làm cuộc sống tốt đẹp hơn

29 tháng 4

C1. Ngôi kể thứ ba 

C2.dì diệu

(4 điểm) Đọc văn bản sau:        Nghe lời khuyên nhủ thong dong, Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang(1).        Rạng ra gửi đến xuân đường(2), Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia(3).        Tiễn đưa một chén quan hà(4), Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình(5).        Sông Tần(6) một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan(7).        Cầm tay dài ngắn thở than, Chia phôi...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

       Nghe lời khuyên nhủ thong dong,
Đành lòng Sinh mới quyết lòng hồi trang(1).
       Rạng ra gửi đến xuân đường(2),
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia(3).
       Tiễn đưa một chén quan hà(4),
Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình(5).
       Sông Tần(6) một dải xanh xanh,
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan(7).
       Cầm tay dài ngắn thở than,
Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời.
       Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
       Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng(8)!
       Đôi ta chút nghĩa đèo bòng(9),
Đến nhà, trước liệu nói sòng(10) cho minh.
       Dù khi sóng gió bất bình,
Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
       Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
Lại mang những việc tày trời đến sau.
       Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy!
       Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng xin đợi bữa này năm sau!"
       Người lên ngựa, kẻ chia bào(11),
Rừng phong(12), thu đã nhuốm màu quan san(13).
       Dặm hồng(14) bụi cuốn chinh an(15),
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
       Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
       Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

          (Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, trang 120 - 122)

Vị trí đoạn trích: Sau khi thành thân, Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về gặp Hoạn Thư - vợ cả, để trình bày về việc chàng đã cưới vợ lẽ. Đoạn trích trên tái hiện khung cảnh tiễn biệt giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều.

Chú thích:

(1) Hồi trang: Về quê.

(2) Xuân đường: Người cha.

(3) Ninh gia: Về thăm nhà.

(4) Chén quan hà: Chén rượu tiễn biệt.

(5) Xuân đình: Nơi sum họp, vui vẻ. Cao đình: Nơi từ biệt nhau (xuất phát từ câu thơ cổ: Cao đình tương biệt xứ, nghĩa là chỗ từ biệt nhau ở cao đình).

(6) Sông Tần: Sông ở đất Tần Xuyên, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc.

(7) Dương Quan: Tên một cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm Tây, tây bắc Trung Quốc.

(8) Dễ lòa ... khó lòng: Việc Thúc Sinh lấy Thúy Kiều làm vợ lẽ không thể nào giấu kín được.

(9) Đèo bòng: Vương vít tình duyên.

(10) Nói sòng: Nói thẳng, không quanh co, giấu giếm.

(11) Chia bào: Thường khi li biệt người ta hay nắm lấy áo nhau, thể hiện tình cảm quyến luyến.

(12) Phong: Một loại cây, đến mùa thu thì sắc lá hóa đỏ.

(13) Quan san: Quan ải, núi non, thường chỉ sự xa xôi, cách trở.

(14) Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng.

(15) Chinh an: Việc đi đường xa.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Văn bản thuộc thể loại nào?

Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Câu 4. Cảm hứng chủ đạo trong văn bản là gì? Từ đó, em hãy đề xuất một nhan đề cho văn bản này.

Câu 5. Thúy Kiều đã dặn dò với Thúc Sinh những gì? Những lời dặn dò đó cho thấy Thúy Kiều là người phụ nữ như thế nào?

1
(4 điểm) Đọc văn bản sau:         Lầu xanh mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.         Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.         Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.         Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa.         Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

        Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.
        Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm.
        Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.
        Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
        Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
        Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
        Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
        Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu.
        Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
        Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
        Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1991)

Vị trí đoạn trích: Khi Mã Giám Sinh đưa Kiều đến nhà chứa của Tú Bà, Kiều đã quyết liệt chống lại âm mưu biến nàng thành kĩ nữ, nhưng cuối cùng nàng đã rơi vào bẫy của Tú Bà và buộc phải ra tiếp khách. Đoạn trích trên diễn tả tình cảnh trớ trêu mà Kiều đã gặp phải và nỗi niềm thương thân xót phận của Kiều.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra phép đối được sử dụng trong hai dòng thơ sau:

Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh.

Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp trong dòng thơ "Giật mình, mình lại thương mình xót xa".

Câu 4. Nêu cách hiểu của em về hai dòng thơ sau.

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

Câu 5. Tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích có ý nghĩa mới mẻ như thế nào đối với văn học trung đại?

0
(4 điểm) Đọc văn bản sau:         Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.         Rằng: “Sao trong tiết thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”         Vương Quan mới dẫn gần xa: “Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).         Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.         Phận hồng nhan có mong manh(2), Nửa chừng xuân, thoắt...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản sau:

        Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
        Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
        Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
        Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
        Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
        Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
        Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.
        Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
        Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
        Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
        Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.
        Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
        Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):
        "Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."

                              (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Chú thích:

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:

Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào?

0
13 tháng 2 2025

Olm chào em. Để đổi mật khẩu, em làm theo hướng dẫn dưới đây em nhé.

Bước 1: Đăng nhập tài khoảng bằng máy tính.

Bước 2: Chỉ vào tên hiển thị góc phải phía trên màn hình máy tính.

Bước 3: Chọn mục thông tin

Bước 4: Chọn mục mật khẩu chỗ có biểu tượng quyển sổ và cái bút.

Bước 5: Nhập mật khẩu cũ

Bước 6: Nhập mật khẩu mới

Trên đây là quy trình đổi mật khẩu trên Olm, em nhé.

Cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm.


11 tháng 2

Đoạn văn có tính mạch lạc chặt chẽ cả về nội dung và hình thức.

Trước hết, các câu được sắp xếp theo trình tự thời gian rõ ràng: sáu giờ, rồi tới bảy giờ. Sự phát triển của cảnh vật từ “trời hửng sáng” đến “trời gần sáng rõ” tạo nên sự liên kết logic, tự nhiên. Các chi tiết như ánh sáng bình minh, ánh điện của con cá thiết kình phụt tắt, sương mù dày đặc đều xoay quanh một sự việc chung là chờ đợi trời sáng để quan sát.

Về liên kết, các câu có sự nối tiếp bằng quan hệ từ và từ ngữ chuyển tiếp như “cùng với”, “tới”, “nhưng”, giúp mạch ý không bị đứt đoạn. Câu cuối bộc lộ cảm xúc “thất vọng và giận dữ” là kết quả hợp lí của những diễn biến trước đó, làm cho đoạn văn có sự thống nhất giữa miêu tả và biểu cảm.

Như vậy, đoạn văn mạch lạc nhờ trình tự thời gian rõ ràng, nội dung tập trung vào một sự việc và các câu có sự liên kết logic, chặt chẽ.

12 tháng 2 2025

tk

Đợi mãi không thấy cá vàng bơi lên, ông lão chèo thuyền ngược trở về. Sóng gió bão bùng đã qua đi. Biển xanh trở lại hiền hoà. Ông lão chèo thuyền mà lòng chất chứa bao nỗi ưu tư. Không biết có nên trở lại ngôi nhà ấy nữa không? Nó giờ đây đâu còn là ngôi nhà của mình nữa.

Và người ở trong ngôi nhà ấy cũng đâu phải là người vợ đói khổ năm xưa của mình. Nhưng không biết quỷ thần xui khiến thế nào mà đôi chân lão vẫn đưa lão về mảnh đất ngày xưa.

Nhưng, chuyện gì đang xảy ra thế này? Tất cả đã biến đi đâu? Tại sao không còn ai nữa? Mụ vợ của ta đâu? Trước mắt ông lão không phải là một cung điện nguy nga có Long Vương đang ngự giữa hàng trăm lính canh như lão nghĩ. Kì lạ thay! Trước mặt ông là khung cảnh cũ. Mái lều lụp xụp, rách nát và siêu vẹo đứng bên cạnh chiếc máng lợn đã sứt mẻ cả hai đầu. Xa xa ngoài kia vẫn còn cây sào nơi lão vắt chiếc lưới đã vá chằng vá đụp. Chưa hiểu chuyện gì, lão gọi to:

- Bẩm Long Vương! Lão già khốn khổ đã trở về!

- Không thấy có tiếng trả lời, lão lại tiếp:

- Thưa nữ hoàng!

-…

- Thưa nhất phẩm phu nhân!

- Bà lão ơi! Tôi đã trở về rồi!

Vẫn không có tiếng trả lời. Lão già vội bước vào trong. Không thấy có ai. Nhìn quanh lão thấy trên bàn có một mảnh giấy với những nét chữ nguệch ngoạc được viết vội vàng. Lão mang ra soi dưới nắng và bắt đầu đánh vần từng nét chữ:

“Ông lão ơi! Tôi có lỗi với ông nhiều lắm! Không ngờ bao năm sống khổ sở với nhau tôi còn chịu được mà giờ đây tôi lại thế này! Lòng tham của tôi quá lớn đến biển sâu cĩng phải kinh hoàng. Tôi không còn mặt mũi nào nhìn ông nữa. Chào ông! tôi đi!”

Tờ giấy trên tay ông lão từ từ rơi xuống. Nơi góc mắt lão hình như ươn ướt. Lão ngồi thụp xuống, đôi mắt xa xăm nhìn sâu vào biển cả. Đầu lão tê dại, miên man. Lão ngồi đó suốt một ngày đêm. Nhưng rồi lão bật dậy, quay mũi thuyền lão lạira khơi.

- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi! Đời này ta không dám quên ơn cá. Mụ vợ nhà ta đã biết lỗi rồi. Ta xin cá hãy đưa mụ trở về với ta. Ta hứa từ nay sẽ không bao giờ làm phiền cá nữa. Cá vàng nhìn lão rồi lặng lẽ lặn xuống biển sâu. Lão buồn bã, thất vọng trở về. Nhưng vừa đặt chân lên bờ cát, thì…

Ai đang đứng trước mặt lão thế này? Vẫn bộ quần áo rách tươm, đầu không quấn khăn chân đi đất. Khuôn mặt nhăn nhúm, gầy sọp đi. Dù tóc đã bạc hơn, lão vẫn nhận ra, đó chính là vợ lão. Vợ chồng gặp nhau trong lặng im và nước mắt. rồi họ cùng đi về căn lều rách nát nhưng đã gắn bó với họ suốt mấy chục năm qua. Và ngoài kia gió đại dương thổi vào mát rượi và biển xanh vỗ sóng êm đềm.

11 tháng 2

Sự khác biệt trong phương pháp đọc hiểu thơ trung đại và thơ dân gian thể hiện ở cách tiếp cận nội dung và hình thức nghệ thuật.

Đối với thơ dân gian, khi đọc hiểu cần chú ý đến hoàn cảnh sinh hoạt cộng đồng, đời sống lao động và tâm tư tình cảm bình dị của nhân dân. Ngôn ngữ thường mộc mạc, hình ảnh gần gũi, giàu tính truyền miệng nên cần cảm nhận bằng sự liên hệ thực tế và chú ý đến yếu tố biểu cảm trực tiếp, hình ảnh quen thuộc như con cò, bến nước, cây đa.

Còn với thơ trung đại, cần đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử xã hội và hệ tư tưởng phong kiến. Thơ trung đại thường sử dụng nhiều điển tích, điển cố, từ Hán Việt và bút pháp ước lệ tượng trưng, vì vậy khi đọc cần tìm hiểu nghĩa của từ cổ, ý nghĩa biểu tượng và quan niệm thẩm mĩ thời đại. Ngoài ra, cần chú ý đến niêm luật, thể thơ và cấu trúc chặt chẽ.

Tóm lại, thơ dân gian thiên về cảm nhận trực tiếp, gần gũi đời sống, còn thơ trung đại đòi hỏi sự tìm hiểu bối cảnh lịch sử, điển tích và đặc trưng thi pháp để hiểu sâu nội dung và giá trị nghệ thuật.

11 tháng 2

Sự khác biệt trong phương pháp đọc hiểu thơ trung đại và thơ dân gian thể hiện ở cách tiếp cận nội dung và hình thức nghệ thuật.

Đối với thơ dân gian, khi đọc hiểu cần chú ý đến hoàn cảnh sinh hoạt cộng đồng, đời sống lao động và tâm tư tình cảm bình dị của nhân dân. Ngôn ngữ thường mộc mạc, hình ảnh gần gũi, giàu tính truyền miệng nên cần cảm nhận bằng sự liên hệ thực tế và chú ý đến yếu tố biểu cảm trực tiếp, hình ảnh quen thuộc như con cò, bến nước, cây đa.

Còn với thơ trung đại, cần đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử xã hội và hệ tư tưởng phong kiến. Thơ trung đại thường sử dụng nhiều điển tích, điển cố, từ Hán Việt và bút pháp ước lệ tượng trưng, vì vậy khi đọc cần tìm hiểu nghĩa của từ cổ, ý nghĩa biểu tượng và quan niệm thẩm mĩ thời đại. Ngoài ra, cần chú ý đến niêm luật, thể thơ và cấu trúc chặt chẽ.

Tóm lại, thơ dân gian thiên về cảm nhận trực tiếp, gần gũi đời sống, còn thơ trung đại đòi hỏi sự tìm hiểu bối cảnh lịch sử, điển tích và đặc trưng thi pháp để hiểu sâu nội dung và giá trị nghệ thuật.

11 tháng 2

Tôi là con trai của mẹ. Câu chuyện xảy ra vào một buổi chiều khiến tôi nhớ mãi và cũng ân hận mãi.

Hôm ấy, sau giờ học tôi mải chơi đá bóng với bạn nên về nhà rất muộn. Vừa bước vào sân, tôi đã nghe tiếng mẹ gọi dọn cơm. Vì vội vàng và còn bực vì bị thua trận bóng, tôi làm rơi chiếc bát xuống nền gạch. Chiếc bát sứ mẹ vẫn dùng hằng ngày vỡ tan thành nhiều mảnh.

Tôi sợ hãi, đứng lặng người. Chiếc bát ấy là kỉ vật bà ngoại để lại cho mẹ. Mẹ chạy ra, nhìn những mảnh vỡ rồi nhìn tôi. Tôi nghĩ chắc mẹ sẽ mắng tôi thật nặng. Nhưng mẹ chỉ thở dài, nhẹ nhàng bảo tôi nhặt mảnh vỡ kẻo đứt tay.

Thấy mẹ không trách mắng, tôi càng thấy ân hận. Tôi lí nhí xin lỗi và hứa sẽ cẩn thận hơn. Mẹ xoa đầu tôi, nói rằng chiếc bát có thể vỡ nhưng tình cảm thì không được phép rạn nứt. Điều quan trọng là biết nhận lỗi và sửa sai.

Từ hôm đó, tôi hiểu rằng sự nóng nảy, bất cẩn của mình có thể làm tổn thương những điều quý giá. Chiếc bát vỡ đã dạy tôi bài học về trách nhiệm và lòng biết ơn, bài học mà tôi sẽ luôn ghi nhớ suốt đời.