II. PHẦN VIẾT (4 ĐIỂM)
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích trong truyện ngắn “Trở về” của Thạch Lam.
[Lược một đoạn: Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính tên Tâm, được người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi dạy nên người. Tuy nhiên, khi được ra thành phố học tập và làm việc, trong suốt sáu năm, anh chỉ gửi tiền hàng tháng về cho mẹ, không báo tin mình đã lấy vợ và tuyệt nhiên không một lời hỏi thăm, không để tâm đến những bức thư mẹ gửi từ quê ra. Khi bất đắc dĩ có việc phải về nhà, anh mới có dịp gặp lại mẹ…].
Khi vào đến sân nhà, Tâm thấy bốn bề yên lặng, không có bóng người. Cái nhà cũ vẫn như trước, không thay đổi, chỉ có sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn. Tâm bước qua sân rồi đẩy cái liếp bước vào. Vẫn cái gian nhà mà chàng đã sống từ thuở nhỏ. Tâm cất tiếng gọi. Chàng nghe thấy tiếng guốc đi, vẫn cái tiếng guốc ấy, thong thả và chậm hơn trước, rồi mẹ Tâm bước vào. Bà cụ đã già đi nhiều, nhưng vẫn mặc cái bộ áo cũ kỹ như mấy năm về trước. Khi nhận ra con, bà cụ ứa nước mắt:
– Con đã về đấy ư?
– Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ? – Câu nói như khó khăn mới ra khỏi miệng được.
– Bà ở đây một mình thôi à?
Bà cụ cảm động đến nỗi không nói được. Một lát bà mới ấp úng:
– Vẫn có con Trinh nó ở đây với tôi.
– Cô Trinh nào? Có phải cô Trinh con bác Cả không?
Tâm nhớ mang máng cái cô con gái bé nhỏ ngày trước vẫn hay chơi với chàng.
– Tôi tưởng cô ta đi lấy chồng rồi.
Bà cụ ngồi xuống chiếc phản gỗ, đáp:
– Đã lấy ai đâu. Con bé dở hơi chết đi ấy mà. Cũng đã có mấy đám hỏi, mà nó không chịu lấy.
Bà cụ yên lặng một lát.
– Thỉnh thoảng nó vẫn nhắc đến cậu đấy.
Tâm nhún vai, không trả lời. Tuy ngoài trời nắng, mà Tâm thấy bên trong cái ẩm thấp hình như ở khắp tường lan xuống, thấm vào người. Bà cụ âu yếm nhìn con, săn sóc hỏi:
– Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?
Tâm nhìn ra ngoài đáp:
– Như thường rồi.
Rồi muốn nói sang chuyện khác, Tâm hỏi:
– Ở làng có việc gì lạ không?
Bà cụ trả lời:
– Chả việc gì lạ sất, ngày nào cũng như ngày nào, nhưng được có con Trinh sang đây với tôi nên cũng đỡ buồn. Nó thường vẫn làm giúp tôi nhiều công việc, con bé thế mà đảm đang đáo để, đã chịu khó lại hay làm. [….]
Tâm lơ đãng nghe lời mẹ kể những công việc và cách làm ăn ngày một khó khăn ở làng. Chàng dửng dưng không để ý đến. Con bác Cả Sinh lấy vợ, hay chú bác ta chết thì có can hệ gì đến chàng? Cái đời ở thôn quê với đời của chàng, chắc chắn, giàu sang, không có liên lạc gì với nhau cả. Câu chuyện nhạt dần. Những câu hỏi và sự săn sóc của bà cụ về công việc của chàng chỉ làm cho Tâm khó chịu. Chàng trả lời qua loa lấy lệ. Nghĩ đến vợ đợi, Tâm vội vàng đứng dậy. Bà cụ nhìn theo khẩn khoản:
– Cậu hãy ở đây ăn cơm đã. Đến chiều hãy ra.
– Thôi, bà để tôi về. Độ này bận công việc lắm.
Tâm lại an ủi:
– Nhưng thế nào có dịp tôi cũng về.
Rồi Tâm mở ví lấy ra bốn tấm giấy bạc 5 đồng đưa cho mẹ. Tâm hơi kiêu ngạo, trước mặt cô Trinh, chàng nói:
– Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu, có thiếu tôi lại gửi về cho.
Bà cụ run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt. Tâm làm như không thấy gì, vội vàng bước ra. [….]
(Trích Trở về, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2004, tr.24-27)
* Chú thích: Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam. Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi.
Bài làm
Trong những năm đầu khi phong kiến vẫn còn tồn tại, cuộc sống của những người nông dân vô cùng vất vả. Họ phải chịu Hoàn cảnh một cổ nhiều tròng, chịu nhiều tầng áp bức bóc lột. Chốn quê của thơ Nguyễn khuyến thể hiện rõ hoàn cảnh trớ trêu đó.
Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Bài thơ miêu tả cuộc sống khốn khó của người dân nông thôn, được thể hiện qua những từ ngữ như"mấy năm làm ruộng vẫn chân thua","phần thuế quan Tây, phần trả nợ","nửa công đứa ở, nửa thuê bò". Bài thơ cho thấy cuộc sống người nông dân đầy gian khổ, phải đối mặt với nhiều khó khăn về mặt kinh tế, phải chịu cảnh đói khổ, thôn thiếu và không có tiền để mua thực phẩm, đồ dùng cần thiết .
Cần Kiệm thế mà không khá nhỉ
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?
Bài thơ đặt ra câu hỏi"cần Kiệm thế nào không khá nhỉ, bao giờ cho biết khỏi đường lo?"để phản ánh sự mâu thuẫn trong cuộc sống người nông thôn, khi họ phải sống kiệm kẹm, tiết kiệm nhưng vẫn không đủ để khỏi đường lo. Điều này cho thấy sự bất công và khó khăn trong cuộc sống của mỗi người nông dân, khi công lao lao đầu đều không đủ để cải thiện đời sống.
"Chốn quê"làm một tác phẩm thơ ca đầy cảm xúc, thể hiện cái nhìn sâu sắc và góc nhìn chân thực của tác giả và cuộc sống của người dân nông thôn Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Đồng thời, nó cũng là lời hồi chuông cảnh Tỉnh về những bất công và khó khăn mà người dân nông thôn phải đối mặt, gửi gắm thông điệp về sự cần thiết của sự công bằng xã hội và quan tâm đến cuộc sống của những người làm ruộng, đồng bào nông dân-những người góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, trong bài thơ"chốn quê", Nguyễn khuyến cũng thể hiện sự đối diện và chấp nhận thực tế cuộc sống của người dân nông thôn. Họ chấp nhận số phận, không dám mua những món đồ xa xỉ như dưa muối, trầu chè, chỉ cần đủ qua bữa là đủ.
Sớm chưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa chầu chè chẳng dám mua.
Tuy nhiên, tác giả cũng lên tiếng về sự bất công và khó khăn trong việc kiếm sống của họ, với công việc làm ruộng vẫn chưa đủ để giúp họ thoát khỏi đường lo khốn khổ.
Tóm lại, bài thơ"chốn quê"của Nguyễn khuyến là một tác phẩm thơ ca sâu sắc và đầy cảm xúc, thể hiện cái nhìn chân thực và cuộc sống nông thôn và những bất công xã hội. Đồng thời, nó cũng là lời kêu gọi sự quan tâm và quan tâm đến cuộc sống của mỗi người dân nông thôn, và hi vọng vào một tương lai công bằng hơn cho xã hội.
Hai chữ "chân thua" nghe thật chua chát. Dù đổ bao mồ hôi công sức, người nông dân vẫn ở thế yếu, thất bại trước thiên nhiên và hoàn cảnh. Sự lặp lại của từ "mất" trong câu thơ thứ hai như một tiếng thở dài ngao ngán. Cả vụ chiêm lẫn vụ mùa đều thất bát, khiến cái đói, cái nghèo hiện hữu ngay từ những dòng đầu tiên.
Tác giả sử dụng phép liệt kê và các con số phân chia ("phần", "nửa") để thấy rằng thành quả lao động ít ỏi đã bị xâu xé không còn gì. "Thuế quan Tây" là gánh nặng nặng nề nhất, rồi đến nợ nần, chi phí thuê nhân công, thuê trâu bò. Người nông dân dường như chỉ làm để nuôi bộ máy cai trị và chủ nợ, còn bản thân mình thì trắng tay.
Bữa ăn chỉ có "dưa muối" cốt để "cho qua bữa". Những nhu cầu tối thiểu, những thú vui giản dị nhất của người dân quê như miếng trầu, bát chè xanh cũng trở thành điều xa xỉ, "chẳng dám mua". Sự đối lập giữa công sức bỏ ra và mức sống nhận lại khắc họa sâu sắc tình cảnh bi đát của con người nơi "chốn quê".
Câu hỏi tu từ "không khá nhỉ?" và "bao giờ...?" chất chứa nỗi đau đời. Nguyễn Khuyến đã chỉ ra một nghịch lý cay đắng: người dân vô cùng "cần kiệm" nhưng vẫn không thoát khỏi nghèo đói. Câu hỏi cuối bài không có lời giải đáp, mở ra một nỗi lo âu mênh mông, bế tắc của cả một thời đại.
Bằng ngôn ngữ bình dị, gần gũi và giọng điệu vừa tự trào vừa xót xa, "Chốn quê" là một bản cáo trạng nhẹ nhàng nhưng đanh thép về xã hội đương thời. Qua đó, ta thấy được tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Nguyễn Khuyến. Ông không đứng ngoài để quan sát mà dường như đang cùng chung nhịp đập, cùng chịu nỗi đau với những người nông dân nghèo khổ quanh mình.