K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Chèo đi rán(1) thứ sáu Thấy nước vằn mông mốc Xé nhau đục vật vờ Chèo đi thôi, chèo đi! Một người cầm cán dầm cho vững, Nước cuộn thác chớ lo Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn. Chèo đi rán thứ bảy, Nước ác kéo ầm ầm, Nơi đây có quỷ dữ chặn đường, Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Chèo đi rán(1) thứ sáu

Thấy nước vằn mông mốc

Xé nhau đục vật vờ

Chèo đi thôi, chèo đi!

Một người cầm cán dầm cho vững,

Nước cuộn thác chớ lo

Biển nổi bão phong ba đừng run đừng rợn.

Chèo đi rán thứ bảy,

Nước ác kéo ầm ầm,

Nơi đây có quỷ dữ chặn đường,

Nơi đây có ngọ lồm(2) bủa giăng

Chực ăn người đi biển,

Chực nuốt tảng(3) nuốt thuyền

Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế,

Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân.

Có bạc mới được qua.

Chèo đi rán thứ tám,

Nước đổ xuống ầm ầm,

To hơn bịch đựng lúa.

Nước xoáy dữ ào ào,

Nước thét gào kéo xuống Long Vương.

Nhanh nhanh tay chèo sang qua khỏi.

Chèo đi rán thứ chín,

Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,

Khắp mặt biển nước sôi gầm réo.

Biển ơi, đừng giết tôi,

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,

Đừng cho thuyền lật ngang,

Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!

Chèo đi rán thứ mười,

Thuyền lướt theo nước trời băng băng,

Cánh dầm tung bốn góc

Rán lại rán bay đi…

Chèo đến rán mười một,

Sóng đuổi sóng xô đi

Nước đuổi về sau lưng.

Chèo mau lên, chèo cố

Cho thuyền đến cửa biển ta dừng,

Cho thuyền đến bãi cát vàng bình an.

Chèo đi rán mười hai,

– A! Bờ biển kia rồi,

Ta chèo mau lên thôi,

Chèo mau lên, hỡi người trai trẻ!

Trai trẻ hãy lắng tai,

Trai trẻ nghe tôi bảo,

Lại đây nghe tôi dạy:

– Mau lên ta kéo thuyền vào cạn,

Cùng lôi tảng vào bến,

Kéo thuyền vào bãi cát chói hồng,

Kéo thuyền vào bãi bướm vàng vờn bay!

– Mời nàng hương(4) hai cô

Mời em hãy ôm hoa lên bến,

Mời nàng hãy ôm hương hầu slay

Quân quan lên “bời bời”(5)

Đàn bà cầm nón ra thuyền

Đàn ông cầm ô lên bến

Tay trái xách giày hoa ra tảng,

Tay phải xách giày đẹp lên bờ,

Gánh gồng lên rầm rập theo slay(6),

Bao của quý khiêng lên đi lễ người.

Mười hai rán nước nay đã qua rồi,

Bây giờ mới biết tôi sống sót.

Binh mã(7) slay rầm rập

Kéo vào chợ Đường Chu(8)

Sau lưng trơ lại tôi

Ngồi bên bờ biển đất trời mênh mông,

Tự than thân trách phận,

Cay đắng lắm đời sa dạ sa dồng(9).

Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung…

(Trích Vượt biển, Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam - Tập IV, tr.887 - 889)

Chú thích: 

(1) Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm đe dọa những người chèo mảng.

(2) Ngọ lồm: Quỷ vô hình.

(3) Tảng: Loại mảng rất kiên cố có thể đi biển được.

(4) Nàng hương: Nàng hầu của quan slay. Trong thực tế, đây là hai cô gái đẹp chưa chồng, đến phục dịch trà thuốc cho thầy pụt cúng. Theo quan niệm mê tín cũ, những cô gái này khi chết cũng vẫn làm nàng hầu cho quan slay ở xứ ma.

(5) Bời bời: Đông đúc.

(6) Slay: Quan cai trị ở “cõi ma” (âm phủ).

(7) Binh mã: Xe ngựa, quân lính nơi cõi âm. 

(8) Chợ Đường Chu: Chợ ở “xứ ma”.   

(9) Sa dạ sa dồng: Những người làm phu phen đầy tớ cho các quan slay ở cõi âm.

Tóm tắt: Vượt biển là truyện thơ dân gian của dân tộc Tày – Nùng, dài khoảng 1000 câu thơ. Nội dung như sau: Có hai anh em mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau. Người anh sau này khi lấy vợ thì trở nên lạnh nhạt, bỏ mặc em sống nghèo đói. Người chị dâu thương tình, vá áo cho em chồng, chẳng may làm in những ngón tay đang nhuộm chàm lên lưng áo rách. Người anh ghen tuông khiến em bị chết oan ức. Linh hồn em không nơi nương tựa, bị các quan slay ở cõi âm bắt làm sa dạ sa dồng – phu chèo thuyền vượt biển. Mỗi lần vượt biển phải trải qua hành trình mười hai rán nước vô cùng hiểm nguy. Tác phẩm này được các thầy cúng đọc trong các lễ cầu hồn, cầu mát, được phổ biến rộng rãi ở vùng xung quanh hồ Ba Bể, Bắc Kạn.

Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.

Câu 2. Hình ảnh “biển” hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?

Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?

Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?

Câu 5. Những âm thanh nào được thể hiện trong đoạn thơ: Chèo đi rán thứ chín,/ Trông thấy nước dựng đứng chấm trời,/ Khắp mặt biển nước sôi gầm réo./ Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền? Những âm thanh đó gợi cho em cảm xúc gì?

7
17 tháng 5
Câu 1. Xác định người kể trong văn bản.
Người kể trong văn bản là người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể ẩn mình, gọi tên các sự vật, hiện tượng một cách khách quan).
Câu 2. Hình ảnh "biển" hiện ra trong văn bản có đặc điểm gì?
Hình ảnh "biển" (ở đây chỉ hồ Ba Bể) hiện lên với vẻ hung dữ, dữ dội và đầy đe dọa:
  • Nước "dựng đứng chấm trời".
  • Mặt nước "sôi gầm réo".
  • Có sức mạnh chế ngự, đe dọa tính mạng con người ("Biển ơi, đừng giết tôi").
Câu 3. Chủ đề của văn bản là gì?
Chủ đề thường xoay quanh cuộc đấu tranh sinh tồn của con người trước sức mạnh dữ dội của thiên nhiên và khát vọng bình yên, chinh phục thử thách.
Câu 4. Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho điều gì?
Các "rán nước" (những đợt sóng dữ hoặc hiện tượng thiên nhiên kỳ ảo) thường biểu tượng cho những thử thách nghiệt ngã, sự nguy hiểm tột cùng mà con người phải đối mặt và vượt qua trong cuộc sống.
Câu 5. Những âm thanh và cảm xúc:
  • Âm thanh: Tiếng "gầm réo" của mặt biển nước sôi. Đây là âm thanh dữ dội, vang vọng, thể hiện sự thịnh nộ của thiên nhiên.
  • Cảm xúc gợi ra:
    • Sự lo sợ, hãi hùng trước sức mạnh áp đảo của tự nhiên.
    • Sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ.
    • Cảm giác căng thẳng, kịch tính trong cuộc vật lộn với sóng gió.

Câu 1:Người kể chuyện ở đây là người kể chuyện ngôi thứ nhất

Câu2:Hình ảnh "biển" ở cõi âm hiện ra vô cùng dữ dội, hiểm nguy, đầy rẫy những thế lực đáng sợ và mang màu sắc kỳ ảo.Không gian mênh mông, mịt mù, đầy đe dọa"nước vẫn mông mốc", "đất trời mênh mông".

Câu 3:Văn bản thể hiện khát vọng vượt qua những thử thách, hoạn nạn khắc nghiệt nơi cõi âm để tìm kiếm sự bình an, đồng thời bộc lộ niềm đau khổ, cay đắng cho số phận oan trái của người lao động

Câu4:Các rán nước trong văn bản là biểu tượng cho.Những kiếp nạn, thử thách cực kỳ cam go, ác liệt mà con người phải đối mặt và vượt qua trong cuộc sống.Ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đại diện cho những trở lực, bất công và nỗi khổ đau chồng chất mà số phận đày ải lên những con người nhỏ bé, tội nghiệp.

Câu 5:Những âm thanh được thể hiện trong đoạn thơ bao gồm tiếng nước biển "gầm réo" dữ dội hòa cùng tiếng kêu cầu, van xin đầy hoảng sợ, bất lực của con người trước làn ranh sinh tử ("Biển ơi, đừng giết tôi...", "Nước hỡi, đừng lôi..."); qua đó, đoạn thơ gợi trong lòng người đọc sự thương xót, đồng cảm sâu sắc cho số phận nhỏ bé, tội nghiệp của những linh hồn oan khuất, đồng thời tạo cảm giác căng thẳng, hồi hộp trước sự hung bạo, hiểm nguy của thế lực cõi âm.

16 tháng 4

Biểu hiện của tình yêu thương giữa con người với con người được thể hiện qua sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, từ những hành động nhỏ như hỏi han, động viên khi gặp khó khăn đến những việc lớn như hỗ trợ vật chất, tinh thần, sẵn sàng hi sinh vì người khác, ngoài ra còn thể hiện ở sự bao dung, tha thứ, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau, không phân biệt hoàn cảnh hay địa vị, ý nghĩa của tình yêu thương trong đời sống là giúp con người gắn kết với nhau, tạo nên một xã hội đoàn kết, ấm áp và nhân văn, giúp mỗi cá nhân có thêm động lực vượt qua khó khăn, phát triển bản thân, đồng thời góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực, xây dựng cuộc sống tốt đẹp và bền vững hơn

16 tháng 4

Câu 1. Cảnh tượng đau lòng là một văn bản giàu giá trị nhân văn, thể hiện nỗi đau và sự xót xa trước cảnh ngộ éo le của con người, qua đó gợi lên lòng trắc ẩn và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, trước hết văn bản khắc họa rõ hình ảnh nhân vật trong hoàn cảnh đáng thương khiến người đọc cảm nhận được sự bất hạnh và mất mát, từ đó làm nổi bật sự tàn nhẫn của hoàn cảnh hoặc xã hội, đồng thời tác giả sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu cảm xúc giúp truyền tải nỗi đau một cách chân thực, bên cạnh đó văn bản còn gửi gắm thông điệp về tình yêu thương giữa con người với con người, nhắc nhở mỗi người cần biết quan tâm, chia sẻ với những số phận kém may mắn, vì vậy cảnh tượng đau lòng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về lòng nhân ái và trách nhiệm trong cuộc sống

Câu 2. Nghịch cảnh là những khó khăn, thử thách mà con người gặp phải trong cuộc sống và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi người, trước hết nghịch cảnh giúp con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh, khi đối mặt với khó khăn con người buộc phải nỗ lực vượt qua từ đó trở nên mạnh mẽ hơn, bên cạnh đó nghịch cảnh còn giúp con người nhận ra giá trị của cuộc sống và trân trọng những điều tốt đẹp, bởi chỉ khi trải qua khó khăn con người mới hiểu được ý nghĩa của hạnh phúc và thành công, không chỉ vậy nghịch cảnh còn là cơ hội để khám phá khả năng của bản thân, nhiều người chỉ thực sự phát huy tiềm năng khi đứng trước thử thách, tuy nhiên nếu không có ý chí thì nghịch cảnh cũng có thể khiến con người gục ngã nên cần có thái độ sống tích cực, ví dụ như nhiều tấm gương vượt khó vươn lên trong học tập và cuộc sống đã chứng minh rằng nghịch cảnh không phải là rào cản mà là bước đệm để thành công, vì vậy mỗi người cần biết đối diện và vượt qua nghịch cảnh để hoàn thiện bản thân và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn

28 tháng 11 2024

Bài này thì bạn làm theo cách cô dạy là được mà (t doãn huy đây) .Viết về một kỹ niệm giữa mẹ và mình trong quá khứ mà khiến mình yêu mẹ hơn.

28 tháng 11 2024

Câu:"Quê hương là gì hở mẹ" là một câu hỏi tu từ ,tưởng chừng là một câu hỏi của một đứa trẻ nhưng lại mang nhiều hàm ý.Không phải khi còn bé chúng ta vẫn thường hay hỏi bố mẹ mình những câu hỏi như: Quê hương là gì? Quê hương là nơi ta sinh ra, khi ra đi ta luôn nhớ về những kỉ niệm và hình ảnh của nơi đó. Chẳng phải từ thuở mới lọt lòng sinh ra qua những lời ru tiếng hát của bà, của mẹ đã dạy ta phải yêu đất nước của mình.Câu này còn được lặp lại hai lần thể hiện sự mong mỏi và khao khát của tác giả.

    CHO MÌNH XIN LGHN NHÉ

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:  Cảnh tượng đau lòng (Lia ra, đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội.) LIA: Không, họ không thể bắt tội mình vì đã đúc ra tiền: mình là vua cơ mà! EĐ-GA: Ôi cảnh tượng đau lòng. LIA: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Cảnh tượng đau lòng

(Lia ra, đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội.)

LIA: Không, họ không thể bắt tội mình vì đã đúc ra tiền: mình là vua cơ mà!

EĐ-GA: Ôi cảnh tượng đau lòng.

LIA: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn dọa quạ! Bắn một phát tên xem sao. Trông kìa, kìa, con chuột! Khoan! Khoan! Mẩu bánh sữa nướng kia được việc chán. Bao tay của ta đấy, ta muốn thử sức với khổng lồ. Truyền đem hoa kích đến. A! Bay giỏi lắm, chim ơi! Bắn trúng hồng tâm, trúng hồng tâm! Hù ù ù!... Nói khẩu lệnh đã!

EĐ-GA: Ma-ri-doam(1) hiền hậu.

LIA: Cho qua.

GLÔ-XTƠ: Tiếng nói này ta nghe quen lắm.

LIA: A! Gô-nơ-rin,... với chòm râu bạc! Chúng nựng ta như con chó nhỏ, chúng bảo râu ta đã bạc trước khi có râu đen! Ta nói gì chúng cũng thưa: "Dạ phải, dạ không". Dạ phải, dạ không! Chẳng có tử tế chút nào đâu! Đến lúc mưa làm ướt sũng người ta, gió rít làm cho răng ta va cầm cập, sấm sét không thèm im tiếng theo lệnh của ta,... lúc ấy ta mới biết chúng, ta mới thấu gan ruột chúng! Không, chúng chả phải là người nói đúng lời đâu! Chúng bảo ta quyền phép vạn năng: láo toét hết. Ta có chống được cơn sốt rét đâu nào!

GLÔ-XTƠ: Ta nhận được giọng nói này rồi: đức vua đây, có phải chăng?

LIA: Phải, vua từ gót lên đầu! Đó! Ta trừng mắt lên nhìn là kẻ thần dân run sợ. [...]

GLÔX-TƠ: Ôi! Xin cho tôi được hôn bàn tay này.

LIA: Để cho ta chùi tay đi hẵng: mùi chết vẫn còn.

GLÔ-XTƠ: Ôi! Kì công của tạo hóa gặp lúc điêu tàn. Cả thế gian này rồi sẽ đến tiêu vong hư ảo hết! Người có nhận ra tôi chăng?

LIA: Ta mang máng nhớ cặp mắt nhà ngươi. Sao nhìn ta ngươi lại liếc ngang như thế? Không, hỡi thần Cu-pi-don bưng mắt, tha hồ cho ngươi nài nỉ, ta chẳng yêu nữa đâu. Này đọc thử tờ thách đấu của ta này, chú ý lối văn trong đó.

GLÔ-XTƠ: Mỗi chữ có là một vừng thái dương tôi cũng không sao nhìn thấy được.

EĐ-GA (nói riêng): Giá nghe kể lại, thì chẳng đời nào mình chịu tin, vậy mà sự thể hiển nhiên kia! Khiến cho lòng ta tan vỡ!

LIA: Đọc xem!

GLÔ-XTƠ: Ủa, đọc bằng lỗ mắt sao?

LIA: Ô! Hô! Ngươi cũng đến thế rồi ư? Không có mắt trong đầu và cạn tiền trong túi? Bệnh mắt của ngươi cũng nặng như túi rỗng của ngươi nhẹ tênh? Tuy vậy người vẫn thấy được sự đời biến diễn chứ?

GLÔ-XTƠ: Thấy được bằng xúc cảm mà thôi.

LIA: Thế nào? Ngươi điên hay sao? Người ta vẫn có thể thấy được việc đời mà không cần mắt! Hãy thấy bằng tai. Nhìn cái lão quan tòa kia, hắn đang hạch tên kẻ cắp đáng thương kia kìa! Này, ghé tai cho ta bảo thầm một câu, thử đánh tráo xem, và "úm ba la!" ai quan tòa ai kẻ cắp? Ngươi đã thấy chó ấp đuổi cắn ăn mày bao giờ chưa?

GLÔ-XTƠ: Thưa đã.

LIA: Thấy chưa: thằng người chạy trốn con chó! Hình ảnh uy quyền là thế đó: thiên hạ vâng phép chó bởi vì chó được trao quyền hành, rõ chưa? [...] Thằng bịp bợm cho vay lại treo cổ đứa đi lừa! Áo rách mướp thì lộ hết từng tí xấu xa, áo mớ bảy mớ ba thì che được ráo! Có giáp vàng bao che tội lỗi thì gươm công lí đâm đến gãy, người cũng chẳng sao; chỉ có mảnh áo manh che thì một cọng tăm của giống tí hon nó đâm cũng thủng. Không có ai phạm tội hết, tha bổng hết, ta bảo thật ngươi thế đấy, vì ta đây có quyền làm câm họng kẻ buộc tội người ta. Người sắm lấy mục kỉnh mà đeo, và bắt chước một tên chính khách gian hùng, làm như nhìn thấy những điều nó không trông thấy. Bây giờ thì, giờ thì, kéo rút đôi ủng ra cho ta. Kéo mạnh lên, mạnh nữa! Thế.

EĐ-GA: Ôi! Tỉnh táo lẫn hôn mê! Khôn ngoan trong điên dại.

LIA: Nếu ngươi muốn thương cho số phận của ta thì hãy mượn lấy đôi mắt ta mà khóc. Ta quen ngươi lắm. Tên ngươi là Glô-xtơ. Hãy kiên nhẫn nghe! Bọn ta khóc lóc mà xuống thế gian này. Ngươi cũng biết đấy, mới hít hơi thở đầu tiên, ta đã oe oe lên, gào, khóc rồi! Để ta giảng giải cho ngươi bài thánh kinh. Nghe nhá!

GLÔ-XTƠ: Ôi! Ngày khốn khổ!

LIA: Khi ta sinh ra đời, ta khóc vì nỗi phải bước vào cái sân khấu mênh mông của những kẻ điên rồ! Câu mào đầu hay đấy chứ! Đóng móng cho cả đàn ngựa bằng dạ cho êm, hẳn là một mẹo khá tế nhị. Ta muốn thử cái mẹo này và khi đuổi kịp mấy đứa con rể nọ, ta hô xung phong: giết, giết, giết!

(Một gia tướng và một số gia nhân ra.)

GIA TƯỚNG: Đây rồi! Giữ chặt lấy người! Bẩm tướng công, lệnh nữ rất hiếu thảo của người...

LIA: Tả hữu đâu cả rồi? Kìa, ta thành tù binh sao? Ta chẳng qua cũng chỉ là một thằng điên và một thứ đồ chơi trong tay Vận mệnh! Hãy đối xử với ta cho tốt: ta sẽ nộp nhiều tiền chuộc mạng. Gọi cho ta một thầy thuốc giải pháp. Óc ta bị thương.

GIA TƯỚNG: Người muốn gì sẽ có nấy.

LIA: Không có ai tiếp cứu? Ta trơ một mình sao? Thế thì con người cũng dễ hóa thành "lệ nhân", để lấy đôi mắt làm thùng tưới hoa viên hay tưới đường ngày thu cho đỡ bụi. [...]

(Lia vùng chạy, bọn gia nhân đuổi theo.)

GIA TƯỚNG: Cảnh tượng này đối với kẻ khốn khổ nhất cũng đã đáng thương, huống nữa đối với một ông vua: thực não nề hết nói.

(Trích Vua Lia, William Shakespeare tuyển tập tác phẩm, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2006, trang 582 - 585)

Chú thích: (1) Ma-ri-doam: Thảo dược dùng để chữa các bệnh về não. Vua Lia yêu cầu Eđ-ga nói khẩu lệnh, khi chàng nói khẩu lệnh này thì vua Lia đồng ý cho qua.

Tóm tắt: Vua Lia là vở bi kịch năm hồi của Sếch-xpia. Nội dung vở kịch như sau:

     Vua Lia nước Anh đã già, có ba cô con gái là Gô-rơ-nin, Rê-gan và Cor-đê-ni-a. Nhà vua định chia vương quốc cho các con gái làm của hồi môn, rút lui khỏi công việc triều chính. Ông hỏi các con xem ai yêu mình nhất để quyết định việc phân chia. Sau khi quyết định việc phân chia xong xuôi, vua Lia lần lượt đến ở với hai công chúa. Nhưng không được bao lâu, họ trở mặt, thậm chí là can tâm đẩy ông ra khỏi nhà trong một đêm giông bão. Quá sốc trước sự bội phản của hai cô con gái, vua Lia đã hóa điên. 

     Bá tước Glô-xtơ có hai người con trai là Eđ-ga (con chính thức) và Eđ-mơn (con ngoài giá thú). Bá tước bị Eđ-mơn lừa gạt, hiểu nhầm rằng Eđ-ga phản bội để chiếm hết gia tài của mình. Ông cho người truy lùng Eđ-ga khắp nơi khiến chàng phải cải trang, chạy trốn. Trong khi đó, Eđ-mơn phản bội bá tước, khiến ông bị Cor-nê-uôn móc mắt. 

      Quân Pháp kéo đến trả thù cho vua Lia nhưng bại trận. Vua Lia và Cor-đê-li-a bị bắt. Eđ-mơn bí mật cho người đến sát hại hai cha con họ. Trong khi đó, Gô-rơ-nin, Rê-gan cùng muốn tằng tịu với Eđ-mơn. Gô-rơ-nin viết thư bày cho Eđ-mơn chồng cô là An-ba-ni để mình được tự do. Bức thư bị Eđ-ga bắt được và chuyển cho An-ba-ni. Eđ-mơn bị Eđ-ga trừng trị. Trước khi chết, Eđ-mơn kêu mọi người đi cứu vua Lia và Cor-đê-li-a, nhưng không kịp. Cor-đê-li-a bị tên lính thắt cổ chết. Nhà vua giết tên lính, ôm xác con gái, quá đau đớn, ông cũng từ giã cõi đời trong tiếng kèn lâm khốc. 

Câu 1. Chỉ ra một lời độc thoại trong văn bản. 

Câu 2. Vua Lia nhận ra bản chất của hai cô con gái và sự ảo tưởng về quyền phép vạn năng của bản thân khi nào?

Câu 3. Lời thoại sau của vua Lia: Về mặt đó thì thiên nhiên vượt trên nghệ thuật. Phí khoản đầu quân cấp cho nhà ngươi đây. Gã kia giương cung y như thằng bù nhìn dọa quạ! Bắn một phát tên xem sao. Trông kìa, kìa, con chuột! Khoan! Khoan! Mẩu bánh sữa nướng kia được việc chán. Bao tay của ta đấy, ta muốn thử sức với khổng lồ. Truyền đem hoa kích đến. A! Bay giỏi lắm, chim ơi! Bắn trúng hồng tâm, trúng hồng tâm! Hù ù ù!... có đặc điểm gì?

Câu 4. Liệt kê các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng và nêu tác dụng của các chỉ dẫn này với người đọc. 

Câu 5. Phần tóm tắt vở kịch và văn bản cho thấy bức tranh hiện thực đời sống hiện ra như thế nào? 

1
16 tháng 4

Câu 1. Một lời độc thoại là: Khi ta sinh ra đời, ta khóc vì nỗi phải bước vào cái sân khấu mênh mông của những kẻ điên rồ, đây là lời vua Lia tự nói với mình, thể hiện suy ngẫm về cuộc đời

Câu 2. Vua Lia nhận ra khi bị hai con gái ruồng bỏ, đặc biệt trong hoàn cảnh mưa gió, bị đẩy ra ngoài, lúc đó ông hiểu rõ bản chất giả dối của họ và nhận ra mình không có quyền phép vạn năng như từng nghĩ

Câu 3. Lời thoại có đặc điểm rời rạc, lộn xộn, hình ảnh tưởng tượng liên tiếp, phi logic, thể hiện trạng thái tinh thần hỗn loạn, điên loạn của vua Lia

Câu 4. Các chỉ dẫn sân khấu như Lia ra, Eđ-ga nói riêng, một gia tướng và gia nhân ra, Lia vùng chạy, bọn gia nhân đuổi theo, tác dụng là giúp người đọc hình dung hành động, cử chỉ, trạng thái nhân vật và diễn biến sân khấu rõ ràng hơn

Câu 5. Bức tranh hiện thực đời sống hiện ra tàn nhẫn, đầy bất công, con người giả dối, phản bội lẫn nhau, quyền lực bị lạm dụng, người lương thiện chịu đau khổ, xã hội hỗn loạn và phi lí

16 tháng 4

Có thể làm ngắn gọn như sau, bài thơ Xuân đán của Chu Văn An gợi bức tranh ngày xuân thanh nhẹ, trong trẻo, không thiên về náo nhiệt mà nghiêng về cảm nhận tinh tế trước cảnh vật và lòng người, qua hình ảnh mùa xuân, tác giả vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên, vừa gửi gắm tâm hồn thanh cao, kín đáo, điềm đạm của một nhà nho, điểm nổi bật của bài là bút pháp gợi nhiều hơn tả, cảnh xuân không chỉ đẹp mà còn tạo cảm giác yên tĩnh, trang nhã, từ đó làm hiện lên vẻ đẹp nhân cách của Chu Văn An, sống gần gũi với thiên nhiên, giữ khí tiết và sự thanh sạch trong tâm hồn. Nếu cần phần hình ảnh minh họa, có thể chọn 3 nhóm hình là đền thờ Chu Văn An ở núi Phượng Hoàng, Hải Dương để gắn với tác giả, ảnh hoa đào hoặc cảnh chùa đầu xuân để gợi không khí xuân đán, ảnh lễ Tết truyền thống Việt Nam với sắc xuân thanh nhã để minh họa cho cảm hứng bài thơ. Chu Văn An thường được tôn vinh là “Vạn thế sư biểu”, và đền thờ ông ở khu vực núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương là địa điểm hình ảnh phù hợp để làm slide hoặc bài thuyết trình.

Bài tập 1: Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó, xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp). Phân tích tác dụng của cách thức tổ chức đoạn văn. a/ (1)“ Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. (2) Bản chất trời phú ấy rất có ích cho xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu...
Đọc tiếp

Bài tập 1: Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó, xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp). Phân tích tác dụng của cách thức tổ chức đoạn văn.

a/ (1)“ Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. (2) Bản chất trời phú ấy rất có ích cho xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. (3) Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. (4) Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. (5) Không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng”.

(Trích Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, Vũ Khoan, Ngữ văn 9, tập 2)

b/ Theo số liệu báo cáo, tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ hoạt động trồng trọt (ni lông, bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) xấp xỉ 661,5 nghìn tấn /năm, gồm 550 nghìn tấn ni lông, 77,49 nghìn tấn vỏ bao bì phân bón và 33,98 nghìn tấn vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật. Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm khoảng 67,93 triệu tấn; 77 nghìn tấn chất thải nhựa vỏ bao bì thức ăn. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát sinh khoảng 880 nghìn tấn bùn thải, 273 nghìn tấn chất thải từ bao bì thức ăn, vỏ thuốc thú y và các loại chất rắn khác.

c/ (1) Để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, các thành viên trong gia đình phải luôn gắn bó, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, đối diện khó khăn cùng nhau. (2) Trong cuộc sống của mỗi người bao giờ cũng có niềm vui, nỗi buồn đan xen, sự quan tâm, lời động viên đúng lúc, đúng chỗ của những người thân sẽ là điểm tựa, là động lực tinh thần quan trọng để vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. (3) Trong xã hội hiện đại, lối sống thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiệm đối với chính những người thân, gia đình của mình cũng đang là vấn đề cần cảnh tỉnh trong xã hội hiện đại. (4) Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, gia đình phải luôn là chỗ dựa vững chắc, là động lực để mỗi thành viên vươn lên trong cuộc sống.

1
16 tháng 4

Câu 1. a câu chủ đề là câu 1 vì nêu ý khái quát về điểm mạnh của con người Việt Nam, đoạn văn kiểu diễn dịch vì câu đầu nêu ý chính, các câu sau triển khai, tác dụng giúp người đọc nắm được ngay vấn đề trọng tâm rồi hiểu rõ hơn qua các ý phân tích cụ thể về điểm mạnh và điểm yếu

Câu 2. b câu chủ đề là câu đầu vì nêu khái quát về lượng chất thải, các câu sau đưa số liệu cụ thể minh chứng, đoạn văn kiểu diễn dịch, tác dụng làm nổi bật vấn đề ô nhiễm bằng cách đưa dẫn chứng cụ thể, tăng tính thuyết phục

Câu 3. c câu chủ đề là câu cuối vì khái quát lại vai trò của gia đình, các câu trước triển khai ý, đoạn văn kiểu quy nạp, tác dụng giúp người đọc hiểu từng biểu hiện cụ thể rồi đi đến kết luận chung, tạo ấn tượng sâu sắc về vai trò của gia đình

16 tháng 4

Câu 1. Mở bài, “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Dữ, kể về số phận oan khuất của Vũ Nương, người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng phải chịu bi kịch đau đớn trong xã hội phong kiến, bàn về cách kết thúc truyện, có ý kiến cho rằng đây là kết thúc có hậu, thể hiện ước mong về công bằng, lại có ý kiến khẳng định tính bi kịch vẫn còn ẩn sâu trong lớp vỏ kì ảo, cả hai ý kiến đều đúng và góp phần làm nổi bật giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm

Câu 2. Giải thích ý kiến thứ nhất, nói truyện kết thúc có hậu vì sau tất cả oan khuất, Vũ Nương đã được minh oan, Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ, lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang, Vũ Nương hiện về giữa dòng sông trong khung cảnh lung linh huyền ảo, điều đó giúp danh dự và phẩm giá của nàng được phục hồi, cái thiện được bênh vực, nỗi oan được cất lời thanh minh, cách kết thúc ấy thể hiện ước mơ muôn đời của con người là người tốt phải được thấu hiểu, được trả lại công bằng, được bảo vệ nhân phẩm

Câu 3. Giải thích ý kiến thứ hai, tuy có yếu tố có hậu nhưng đó không phải một cái kết trọn vẹn, bởi Vũ Nương chỉ hiện về trong chốc lát rồi biến mất, nàng không thể trở lại cuộc sống trần gian, không thể đoàn tụ với chồng con, hạnh phúc gia đình đã tan vỡ vĩnh viễn, oan được giải nhưng đời không thể làm lại, vì thế cái kết vẫn thấm đẫm màu sắc bi kịch, sự lung linh kì ảo chỉ làm cho nỗi đau hiện thực thêm day dứt hơn

Câu 4. Làm sáng tỏ ý kiến thứ nhất qua tác phẩm, trước hết Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp, nàng thùy mị nết na, biết giữ gìn khuôn phép, yêu thương chồng con, hiếu thảo với mẹ chồng, thủy chung son sắt trong những ngày chồng đi lính, nhưng chỉ vì lời nói ngây thơ của con trẻ và tính đa nghi, hồ đồ của Trương Sinh, nàng bị dồn vào bước đường cùng, cái chết của nàng là tiếng kêu đau đớn cho thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, bởi vậy việc nàng được Linh Phi cứu giúp, được sống ở thủy cung, rồi được hiện về nói rõ lòng mình chính là cách tác giả gửi gắm niềm an ủi đối với số phận bất hạnh ấy, đây là sự đền bù về tinh thần cho người phụ nữ lương thiện, thể hiện niềm tin rằng công lí tuy đến muộn nhưng vẫn cần phải có

16 tháng 4

Câu 5. Làm sáng tỏ ý kiến thứ hai qua tác phẩm, dù được minh oan, Vũ Nương vẫn không thể trở lại làm vợ, làm mẹ như xưa, câu nói của nàng cho thấy ranh giới không thể vượt qua giữa hai thế giới, nàng ý thức rất rõ rằng hạnh phúc trần thế đã không còn, chi tiết nàng ngồi trên kiệu hoa, theo sau là cờ tán, võng lọng, thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất không chỉ tạo vẻ đẹp truyền kì mà còn gợi cảm giác xa xôi, cách biệt, hư ảo, càng đẹp càng buồn, càng rực rỡ càng thấm thía mất mát, điều đó chứng tỏ bi kịch của người phụ nữ không dễ gì được xóa bỏ chỉ bằng một phép màu, nguyên nhân sâu xa của bi kịch vẫn nằm ở xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, ở chiến tranh phi nghĩa gây chia lìa, ở quyền lực gia trưởng tàn nhẫn đã tước mất quyền được sống, được thanh minh của người phụ nữ

Câu 6. Đánh giá, hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, nếu chỉ nhìn vào chi tiết minh oan thì có thể thấy truyện kết thúc có hậu, nhưng nếu nhìn vào số phận và hạnh phúc không thể cứu vãn của Vũ Nương thì vẫn thấy đây là một kết thúc bi kịch, chính sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm, Nguyễn Dữ vừa thể hiện thái độ trân trọng, cảm thương với người phụ nữ, vừa tố cáo xã hội bất công đã đẩy họ vào đường cùng, đồng thời gửi gắm khát vọng công lí nhưng cũng cho thấy công lí ấy trong đời thực vẫn quá mong manh

Câu 7. Kết bài, như vậy, cách kết thúc “Chuyện người con gái Nam Xương” vừa có ánh sáng của ước mơ công bằng, vừa thấm đẫm nỗi đau bi kịch, đó là một kết thúc đẹp nhưng buồn, sáng mà vẫn day dứt, qua đó Nguyễn Dữ không chỉ bênh vực phẩm giá người phụ nữ mà còn lên án sâu sắc xã hội phong kiến bất nhân, làm nên giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực bền vững của tác phẩm

Câu 8. Đoạn ngắn gọn để chép, em hiểu ý kiến thứ nhất là truyện có kết thúc có hậu vì Vũ Nương cuối cùng đã được minh oan, danh dự được trả lại, qua đó thể hiện ước mơ của con người về lẽ công bằng, em hiểu ý kiến thứ hai là tuy có yếu tố kì ảo nhưng bi kịch vẫn không mất đi vì Vũ Nương không thể sống lại cuộc đời cũ, không thể đoàn tụ với gia đình, hạnh phúc đã vĩnh viễn tan vỡ, qua tác phẩm, có thể thấy hai ý kiến đều đúng, bổ sung cho nhau để làm rõ vẻ đẹp và chiều sâu tư tưởng của truyện, đó là vừa nhân đạo, vừa thấm thía nỗi đau hiện thực của số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

29 tháng 11 2024

Có một thứ rất cần khi học mĩ thuật là: Năng khiếu.

 

1 tháng 12 2024

đúng rồi