K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1. (2 điểm)      Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Dung trong đoạn trích sau:      (Lược một đoạn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)      Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Dung trong đoạn trích sau:

     (Lược một đoạn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)

     Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

     Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

     - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

     Rồi bà kể thêm:

     - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

     Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

     (Lược một đoạn: Dung ăn trộm tiền của mẹ chồng để trốn về nhà nhưng bị mẹ đẻ đay nghiến. Sáng hôm sau, mẹ chồng xuống tìm nàng.)

     Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

     Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. [...] Nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

     Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

     […] Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

     - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

     Dung buồn bã trả lời:

     -  Con xin về.

(Trích Hai lần chết, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008)

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề bình đẳng giới hiện nay.

5
17 tháng 12 2025

-- Câu 1 (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ): Dung là một người phụ nữ có số phận bất hạnh trong truyện Hai lần chết của Thạch Lam. Sinh ra trong gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt và còn bị mẹ ruột bán đi như một món hàng. Về nhà chồng, cuộc đời nàng càng rơi vào bế tắc khi phải làm lụng nặng nhọc suốt ngày, không nhận được sự cảm thông hay che chở. Chồng nhu nhược, mẹ chồng cay nghiệt, em chồng độc ác đã đẩy Dung vào cảnh cô độc, tủi nhục và tuyệt vọng. Những lời mắng nhiếc, hành hạ tinh thần khiến nàng dần mất hết niềm tin vào cuộc sống. Khi không còn chỗ dựa tinh thần, không còn hi vọng nơi cha mẹ ruột, Dung coi cái chết như một lối thoát. Qua nhân vật Dung, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho số phận người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự tàn nhẫn, bất công đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của họ. --- Câu 2 (4 điểm) Bài văn nghị luận về bình đẳng giới (khoảng 400 chữ – viết gọn): Bình đẳng giới là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong xã hội hiện nay. Đó là việc nam và nữ được đối xử công bằng, có cơ hội như nhau trong học tập, lao động và đời sống xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn phải chịu định kiến “trọng nam khinh nữ”, bị hạn chế cơ hội học tập, thăng tiến và thậm chí còn là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong khi đó, nam giới đôi khi cũng chịu áp lực phải gánh vác trách nhiệm nặng nề chỉ vì quan niệm xã hội. Những bất công ấy không chỉ gây tổn thương cho cá nhân mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức. Mỗi người phải hiểu rằng giới tính không quyết định giá trị hay khả năng của con người. Gia đình cần giáo dục con cái sự tôn trọng và chia sẻ từ sớm. Nhà trường và xã hội phải tạo điều kiện công bằng trong học tập, việc làm và pháp luật cần bảo vệ quyền lợi chính đáng của cả nam và nữ. Là học sinh, em cần thể hiện sự tôn trọng, không phân biệt đối xử, lên tiếng trước những hành vi bất công về giới. Khi bình đẳng giới được thực hiện, con người sẽ được sống đúng với giá trị của mình và xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn hơn. --- Nếu bạn muốn rút ngắn hơn nữa (ví dụ chỉ 150 chữ / 300 chữ) hoặc viết theo kiểu học sinh trung bình – khá, mình chỉnh ngay cho nhé.

27 tháng 12 2025

hrrxrx

19 tháng 4

Câu 1. Bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc trong đêm trăng vừa đẹp vừa giàu sức gợi, hình ảnh tiếng suối được so sánh như tiếng hát xa tạo nên âm thanh trong trẻo, êm dịu, gợi cảm giác thanh bình, hình ảnh trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa gợi nên sự hòa quyện giữa ánh trăng, cây cổ thụ và hoa lá, tạo nên một không gian lung linh, huyền ảo, cảnh vật hiện lên vừa gần gũi vừa thơ mộng, qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên của Bác, tuy nhiên trong khung cảnh đẹp ấy vẫn hiện lên hình ảnh con người với nỗi lo việc nước chưa ngủ, thể hiện tấm lòng yêu nước sâu nặng, luôn trăn trở vì dân vì nước, bài thơ vì thế không chỉ đẹp về hình ảnh thiên nhiên mà còn giàu ý nghĩa về tình cảm và tư tưởng.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương ThS. Đinh Văn Thiện          (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

ThS. Đinh Văn Thiện

         (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra sẽ rất hạnh phúc. Hành động ghen tuông của người chồng đã đẩy người vợ đến chỗ uất ức quá phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng tỏ sự trong trắng thuỷ chung của mình. Từ góc độ đề tài, truyện không có gì mới mẻ. Tuy nhiên truyện vẫn rất hấp dẫn bởi đã xây dựng được một tình huống rất độc đáo. Đó là tình huống, sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải theo lệnh của triều đình, người chồng may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con của mình trong tình cha con đằm thắm, nào ngờ chính đứa con lại nói: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít”. Đứa con còn kể tiếp: “Trước đây thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người vợ nói thế nào người chồng cũng không tin. Hàng xóm phân giải mọi điều về sự hiếu thảo, thuỷ chung của người vợ ở nhà, người chồng cũng chỉ cho là người vợ do khéo mồm khéo miệng mà được hàng xóm bao che. Tình huống ấy buộc người đọc phải theo dõi câu chuyện đến tận cùng xem kết cục là vì sao lại như vậy. Vì chuyện ghen tuông xưa nay vẫn có đến một ngàn lẻ một cách lí giải khác nhau, làm sao cắt nghĩa hết được! Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta nói: “Cha Đản đấy”.

        (2) Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ. Trò chơi này hết sức thú vị, vì từ hai bàn tay người chơi có thể tạo ra bao nhiêu hình thù vừa quen thuộc vừa kì lạ khác nhau, dựa vào tài khéo léo, óc tưởng tượng của cả người chơi và người xem. Trong trò chơi này ai cũng là người chơi, ai cũng là người xem nên có cái vui nhộn của không khí dân chủ và bình đẳng. Người vợ, vì chồng vắng nhà dằng dặc như thế, tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy. Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con. Gia đình, vì thế, lúc nào cũng cảm thấy sum vầy đông đủ, sự trống trải đã được khỏa lấp bằng hình ảnh của cái bóng êm đềm.

        (3) Từ một trò chơi dân dã, hết sức phổ biến, người kể chuyện đã đẩy lên thành một cái cớ để xây dựng thành một tình huống truyện độc đáo. Đó chính là sự tài hoa, sâu sắc của người kể chuyện. Cái bóng chỉ là cái cớ để xây dựng tình huống, là một chi tiết nghệ thuật, sao chúng ta lại gọi nó là “cái bóng oan khiên"? Đừng gán cho nó cái giá trị tư tưởng vốn không phải của nó mà quên mất cái đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của người xưa. Trò chơi ấy cũng còn cho thấy tấm lòng của người vợ nhớ chồng da diết nhường nào, thương con đến nhường nào. Người vợ làm sao có thể nghĩ tới việc sau này đứa con sẽ nói với người cha của nó những câu như ta đã thấy để tránh né câu chuyện vui đùa mà tình nghĩa và xúc động kia. Vì thế làm sao ta lại có thể phán xét rằng chính người vợ cũng có lỗi về cái chết của nàng một khi biết tính chồng hay đa nghi lại còn đùa với con như vậy. Lỗi và tội ở đây là cái sự ghen tuông đến mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.

        (4) Cũng chính vì mục đích sâu xa là lên án một cách gay gắt, quyết liệt thói ghen tuông (chứ không phải để lên án chiến tranh phong kiến loạn lạc, như một số nhận xét thường thấy) mà Nguyễn Dữ đã viết thêm đoạn kết (không có trong văn bản truyện cổ dân gian) có tính chất “thần kỳ”. Đoạn kết ấy không phải chỉ để câu chuyện thêm hấp dẫn! Đó là một kết thúc “mở” có ý nghĩa trả lại cho Vũ Nương sự trong sạch của một tấm lòng thuỷ chung, trong sáng, đồng thời thể hiện một thái độ bao dung đối với sai lầm của người chồng và của chính nàng mà thôi.

        (5) Truyện đã không để Vũ Nương về với chồng con. Điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học mà truyện đặt ra. Người bị oan, cuộc đời có thể giải oan giúp họ. Còn hậu quả của những sai lầm do chính con người gây ra thì khôn lường và không phải bao giờ cũng khắc phục được. Đoạn kết của truyện đã xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa bởi cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi, chỉ do thói ghen tuông của người cha...

(Văn học và Tuổi trẻ, số 7 (190), năm 2009)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản. 

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

11
17 tháng 12 2025

Câu 1. Luận đề của văn bản: Ý nghĩa và giá trị nghệ thuật đặc sắc của chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương. Câu 2. Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, đứa con ngây thơ nhầm “cái bóng” là cha, gây nên bi kịch ghen tuông và cái chết oan khuất của Vũ Nương. Câu 3. Mục đích nêu tình huống truyện ở phần mở đầu là làm nổi bật sự độc đáo của cốt truyện, thu hút người đọc và dẫn dắt vào việc phân tích chi tiết “cái bóng”. Câu 4. Chi tiết khách quan: trò chơi soi bóng trên tường. Chi tiết chủ quan: cảm nhận, suy luận của người vợ và đứa con về cái bóng. → Hai cách trình bày kết hợp hài hòa, giúp câu chuyện vừa chân thực vừa giàu cảm xúc. Câu 5. Chi tiết “cái bóng” là chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì tạo nên tình huống truyện độc đáo, hợp lí, thể hiện bi kịch ghen tuông mù quáng và số phận oan khuất của người phụ nữ, qua đó làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

17 tháng 12 2025

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4 điểm) Câu 1. Luận đề của văn bản: Chi tiết cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, được Nguyễn Dữ sáng tạo khéo léo nhằm xây dựng tình huống truyện độc đáo và qua đó lên án thói ghen tuông mù quáng, đồng thời làm nổi bật bi kịch của Vũ Nương. Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, bị chính lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha chỉ nín thin thít” làm nảy sinh nghi ngờ, dẫn đến bi kịch gia đình. Chỉ đến khi đứa trẻ chỉ vào cái bóng và nói “Cha Đản đấy” thì sự thật mới được sáng tỏ. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu là: Thu hút sự chú ý của người đọc, tạo hứng thú theo dõi vấn đề được bàn luận Đặt nền tảng cho việc phân tích chi tiết cái bóng – trung tâm lập luận của văn bản Làm rõ tính độc đáo trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nguyễn Dữ Câu 4. Chi tiết trình bày khách quan trong đoạn (2): “Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường...” Chi tiết trình bày chủ quan: “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình…” Nhận xét: Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu bối cảnh sinh hoạt đời sống xưa, còn cách trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm đánh giá của người viết. Hai cách trình bày này bổ sung cho nhau, làm cho lập luận vừa có cơ sở thực tế, vừa giàu chiều sâu cảm xúc và thuyết phục. Câu 5. Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: Nó được lấy từ một trò chơi dân gian quen thuộc, rất đời thường và tự nhiên Được nâng lên thành cái cớ để xây dựng tình huống truyện độc đáo Góp phần thể hiện tình yêu thương con, nỗi nhớ chồng sâu nặng của Vũ Nương Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bi kịch, qua đó tố cáo thói ghen tuông mù quáng của con người PHẦN II. LÀM VĂN Câu 1. (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ) Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững của cha mẹ và cuối cùng bị chính mẹ già bán gả để đổi lấy tiền bạc. Cuộc sống làm dâu của nàng đầy tủi nhục khi phải lao động cực nhọc, bị mẹ chồng cay nghiệt, em chồng hành hạ, còn chồng thì vô tâm, nhu nhược. Không chỉ bị đày đọa về thể xác, Dung còn chịu nỗi cô đơn tinh thần khi không nhận được sự an ủi từ chính gia đình ruột thịt. Bị dồn đến bước đường cùng, nàng đã từng tìm đến cái chết như một cách trốn chạy số phận. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ bị chà đạp quyền sống, đồng thời lên án xã hội bất công đã đẩy con người vào ngõ cụt bi thảm. Câu 2. (4 điểm) Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ): Suy nghĩ về vấn đề bình đẳng giới hiện nay Bình đẳng giới là một trong những vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại, thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức về quyền con người. Tuy nhiên, trên thực tế, bình đẳng giới vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và triệt để. Trước hết, bình đẳng giới là việc nam và nữ có quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội. Ngày nay, phụ nữ đã có nhiều cơ hội học tập, làm việc và khẳng định bản thân hơn trước. Tuy vậy, định kiến giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi: phụ nữ bị đánh giá thấp trong công việc, gánh nặng gia đình thường đổ dồn lên vai họ, trong khi nam giới đôi khi bị áp đặt phải mạnh mẽ, không được bộc lộ cảm xúc. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức của mỗi cá nhân. Mỗi người phải biết tôn trọng, lắng nghe và đánh giá người khác dựa trên năng lực chứ không phải giới tính. Gia đình cần giáo dục con cái về sự công bằng ngay từ nhỏ, không phân biệt việc nhà là của nữ hay việc lớn là của nam. Nhà trường và xã hội cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, tạo môi trường học tập và làm việc công bằng cho cả hai giới. Bản thân học sinh cần có thái độ đúng đắn: biết tôn trọng bạn bè, không trêu chọc hay định kiến về giới, đồng thời chủ động rèn luyện năng lực của mình. Tóm lại, bình đẳng giới không chỉ là quyền lợi của phụ nữ mà là thước đo sự văn minh của xã hội. Khi bình đẳng giới được thực hiện đúng đắn, xã hội sẽ phát triển hài hòa và bền vững hơn.

21 tháng 11 2024

Trong buổi thảo luận nhóm về việc sự việc và con người trong văn bản "Bạch tuộc" của Véc-nơ và "Chất làm gỉ" của Brét-bơ-ry có thực hay không, tôi xin nêu một số ý kiến như sau:

  1. Khía cạnh hư cấu và thực tế: Cả hai tác phẩm đều thuộc thể loại văn học hư cấu, nơi mà tác giả có thể sáng tạo ra những nhân vật và sự kiện không có thật. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng không thể phản ánh những khía cạnh của thực tế. Các tác giả có thể lấy cảm hứng từ những sự kiện, con người có thật để xây dựng nên câu chuyện của mình.

  2. Ý nghĩa biểu tượng: Dù các nhân vật và sự kiện có thể không có thật, nhưng chúng thường mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Chẳng hạn, những câu chuyện này có thể phản ánh những vấn đề xã hội, tâm lý con người, hoặc các giá trị nhân văn mà chúng ta có thể cảm nhận và liên hệ trong cuộc sống thực.

  3. Sự tưởng tượng và sáng tạo: Văn học là một lĩnh vực cho phép sự tưởng tượng tự do. Việc sáng tạo ra những nhân vật và tình huống không có thật là một phần quan trọng của nghệ thuật. Nó khuyến khích người đọc suy nghĩ, cảm nhận và mở rộng tầm nhìn về thế giới xung quanh.

  4. Tính khả thi của các sự kiện: Mặc dù có thể có những yếu tố không thực tế trong các tác phẩm, nhưng một số chi tiết có thể được xây dựng dựa trên các sự kiện hoặc hiện tượng có thật trong tự nhiên hay xã hội. Điều này có thể khiến cho người đọc cảm thấy gần gũi hơn với câu chuyện, dù nó có phần hư cấu.

  5. Đánh giá từ góc độ cá nhân: Cuối cùng, việc nhận định các sự việc và nhân vật trong hai tác phẩm này có thực hay không cũng phụ thuộc vào góc nhìn cá nhân của mỗi người. Một số người có thể cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của câu chuyện mà không cần xác định chúng có thật hay không.

Tóm lại, tôi cho rằng dù các nhân vật và sự kiện trong hai tác phẩm này có thể không có thật, nhưng chúng vẫn có giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc trong việc phản ánh đời sống và tâm tư con người. Việc thảo luận về tính thực tế của chúng cũng giúp mở rộng hiểu biết và khơi dậy trí tưởng tượng của chúng ta.

Tôi yêu truyện cổ nước tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm Ở hiền thì lại gặp hiền Người ngay thì gặp người tiên độ trì Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi Đời cha ông với đời tôi Như con sông với chân trời đã xa Chỉ...
Đọc tiếp

Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì gặp người tiên độ trì
Mang theo truyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
Rất công bằng, rất thông minh
Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang.
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà
Đẽo cày theo ý người ta
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì
Tôi nghe truyện cổ thầm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.
Đậm đà cái tích trầu cau
Miếng trầu đỏ thắm nặng sâu tình người.
Sẽ đi qua cuộc đời tôi
Bấy nhiêu thời nữa chuyển dời xa xôi.
Nhưng bao truyện cổ trên đời
Vẫn luôn mới mẻ rạng ngời lương tâm.

chia khổ thơ trên và nêu nội dung từng khổ

0
23 tháng 11 2024

Bài ca dao "Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông" là một tác phẩm sâu sắc, thể hiện tình cảm thiêng liêng và quý giá của con cái đối với cha mẹ. Qua hình ảnh so sánh "Công cha như núi" và "Nghĩa mẹ như nước", tác giả đã khéo léo diễn tả sự cao cả và vĩ đại của tình yêu thương gia đình. Núi cao thể hiện công lao nuôi dưỡng, giáo dục của người cha, luôn vững chãi và bền bỉ, như một chỗ dựa vững chắc cho con cái.

Ngược lại, "nghĩa mẹ như nước" mang ý nghĩa êm dịu, bao la và dịu dàng. Nước bao giờ cũng chảy tràn, không kể gian khó, như tình thương của mẹ dành cho con. Hình ảnh "cù lao chín chữ" đóng vai trò như một biểu tượng cho sự biết ơn mà con cái dành cho cha mẹ. "Chín chữ" gợi nhắc đến việc ghi nhớ và tri ân những gì cha mẹ đã làm cho mình.

Bài ca dao không chỉ thể hiện lòng hiếu thảo mà còn khơi dậy trong tâm hồn mỗi người cảm giác biết ơn và kính trọng đối với công lao của cha mẹ. Nó nhắc nhở chúng ta hãy luôn trân trọng và báo đáp công ơn to lớn của cha mẹ trong suốt cuộc đời. Em cảm thấy mình càng phải cố gắng mô phỏng những phẩm chất tốt đẹp mà cha mẹ đã dạy dỗ, từ đó trở thành con người có ích cho xã hội. Qua đó, bài ca dao còn gửi gắm một thông điệp về tình yêu thương gia đình, giúp gắn kết mọi người lại với nhau trong cuộc sống.

19 tháng 4

Câu 1. Bài thơ À ơi tay mẹ gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc ấm áp và xúc động về tình mẹ, hình ảnh đôi tay mẹ hiện lên giản dị nhưng đầy yêu thương, đó là đôi tay tần tảo, vất vả nuôi con khôn lớn, qua từng câu thơ ta cảm nhận được sự hi sinh thầm lặng và tình yêu bao la của mẹ dành cho con, điệp ngữ à ơi được lặp lại nhiều lần có tác dụng tạo nhịp điệu nhẹ nhàng như lời ru, làm cho bài thơ trở nên tha thiết, sâu lắng và giúp nhấn mạnh tình cảm yêu thương dịu dàng của mẹ, qua đó bài thơ nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ.

19 tháng 4

Câu 1. Bài thơ lục bát mà em yêu thích là bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn, đọc bài thơ em cảm nhận được tình cảm thiêng liêng và sâu nặng của cha mẹ dành cho con cái, hình ảnh so sánh công cha như núi, nghĩa mẹ như nước đã làm nổi bật sự to lớn, bao la của tình cha mẹ, những câu thơ mộc mạc nhưng giàu ý nghĩa khiến em thêm xúc động và biết ơn những hi sinh thầm lặng của cha mẹ trong cuộc sống hằng ngày, qua đó em tự nhắc mình phải cố gắng học tập, sống ngoan ngoãn để không phụ lòng cha mẹ, bài thơ tuy ngắn gọn nhưng đã để lại trong em nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc về tình cảm gia đình.

19 tháng 4

Đoạn 1. Nhân vật Hoài trong truyện “Bồng chanh đỏ” hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, nhạy cảm và giàu tình yêu thiên nhiên, cuộc sống. Hoài say mê khu vườn bồng chanh, gắn bó với từng chi tiết nhỏ bé như màu sắc, hương thơm, qua đó thể hiện tâm hồn tinh tế và trong trẻo. Cậu còn là người giàu cảm xúc, biết rung động trước vẻ đẹp giản dị của quê hương, điều này được thể hiện qua cách quan sát tỉ mỉ và những suy nghĩ đầy yêu thương. Nhân vật Hoài góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tuổi thơ gắn với thiên nhiên, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương tha thiết. Qua đó, tác giả bộc lộ sự trân trọng đối với những tâm hồn trong sáng, nhạy cảm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật chủ yếu qua miêu tả nội tâm, kết hợp với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giúp Hoài hiện lên chân thực và gần gũi.