(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương
ThS. Đinh Văn Thiện
(1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra sẽ rất hạnh phúc. Hành động ghen tuông của người chồng đã đẩy người vợ đến chỗ uất ức quá phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng tỏ sự trong trắng thuỷ chung của mình. Từ góc độ đề tài, truyện không có gì mới mẻ. Tuy nhiên truyện vẫn rất hấp dẫn bởi đã xây dựng được một tình huống rất độc đáo. Đó là tình huống, sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải theo lệnh của triều đình, người chồng may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con của mình trong tình cha con đằm thắm, nào ngờ chính đứa con lại nói: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít”. Đứa con còn kể tiếp: “Trước đây thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người vợ nói thế nào người chồng cũng không tin. Hàng xóm phân giải mọi điều về sự hiếu thảo, thuỷ chung của người vợ ở nhà, người chồng cũng chỉ cho là người vợ do khéo mồm khéo miệng mà được hàng xóm bao che. Tình huống ấy buộc người đọc phải theo dõi câu chuyện đến tận cùng xem kết cục là vì sao lại như vậy. Vì chuyện ghen tuông xưa nay vẫn có đến một ngàn lẻ một cách lí giải khác nhau, làm sao cắt nghĩa hết được! Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta nói: “Cha Đản đấy”.
(2) Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ. Trò chơi này hết sức thú vị, vì từ hai bàn tay người chơi có thể tạo ra bao nhiêu hình thù vừa quen thuộc vừa kì lạ khác nhau, dựa vào tài khéo léo, óc tưởng tượng của cả người chơi và người xem. Trong trò chơi này ai cũng là người chơi, ai cũng là người xem nên có cái vui nhộn của không khí dân chủ và bình đẳng. Người vợ, vì chồng vắng nhà dằng dặc như thế, tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy. Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con. Gia đình, vì thế, lúc nào cũng cảm thấy sum vầy đông đủ, sự trống trải đã được khỏa lấp bằng hình ảnh của cái bóng êm đềm.
(3) Từ một trò chơi dân dã, hết sức phổ biến, người kể chuyện đã đẩy lên thành một cái cớ để xây dựng thành một tình huống truyện độc đáo. Đó chính là sự tài hoa, sâu sắc của người kể chuyện. Cái bóng chỉ là cái cớ để xây dựng tình huống, là một chi tiết nghệ thuật, sao chúng ta lại gọi nó là “cái bóng oan khiên"? Đừng gán cho nó cái giá trị tư tưởng vốn không phải của nó mà quên mất cái đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của người xưa. Trò chơi ấy cũng còn cho thấy tấm lòng của người vợ nhớ chồng da diết nhường nào, thương con đến nhường nào. Người vợ làm sao có thể nghĩ tới việc sau này đứa con sẽ nói với người cha của nó những câu như ta đã thấy để tránh né câu chuyện vui đùa mà tình nghĩa và xúc động kia. Vì thế làm sao ta lại có thể phán xét rằng chính người vợ cũng có lỗi về cái chết của nàng một khi biết tính chồng hay đa nghi lại còn đùa với con như vậy. Lỗi và tội ở đây là cái sự ghen tuông đến mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.
(4) Cũng chính vì mục đích sâu xa là lên án một cách gay gắt, quyết liệt thói ghen tuông (chứ không phải để lên án chiến tranh phong kiến loạn lạc, như một số nhận xét thường thấy) mà Nguyễn Dữ đã viết thêm đoạn kết (không có trong văn bản truyện cổ dân gian) có tính chất “thần kỳ”. Đoạn kết ấy không phải chỉ để câu chuyện thêm hấp dẫn! Đó là một kết thúc “mở” có ý nghĩa trả lại cho Vũ Nương sự trong sạch của một tấm lòng thuỷ chung, trong sáng, đồng thời thể hiện một thái độ bao dung đối với sai lầm của người chồng và của chính nàng mà thôi.
(5) Truyện đã không để Vũ Nương về với chồng con. Điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học mà truyện đặt ra. Người bị oan, cuộc đời có thể giải oan giúp họ. Còn hậu quả của những sai lầm do chính con người gây ra thì khôn lường và không phải bao giờ cũng khắc phục được. Đoạn kết của truyện đã xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa bởi cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi, chỉ do thói ghen tuông của người cha...
(Văn học và Tuổi trẻ, số 7 (190), năm 2009)
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?
Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?
Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản.
Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?
-- Câu 1 (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ): Dung là một người phụ nữ có số phận bất hạnh trong truyện Hai lần chết của Thạch Lam. Sinh ra trong gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt và còn bị mẹ ruột bán đi như một món hàng. Về nhà chồng, cuộc đời nàng càng rơi vào bế tắc khi phải làm lụng nặng nhọc suốt ngày, không nhận được sự cảm thông hay che chở. Chồng nhu nhược, mẹ chồng cay nghiệt, em chồng độc ác đã đẩy Dung vào cảnh cô độc, tủi nhục và tuyệt vọng. Những lời mắng nhiếc, hành hạ tinh thần khiến nàng dần mất hết niềm tin vào cuộc sống. Khi không còn chỗ dựa tinh thần, không còn hi vọng nơi cha mẹ ruột, Dung coi cái chết như một lối thoát. Qua nhân vật Dung, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho số phận người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự tàn nhẫn, bất công đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của họ. --- Câu 2 (4 điểm) Bài văn nghị luận về bình đẳng giới (khoảng 400 chữ – viết gọn): Bình đẳng giới là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong xã hội hiện nay. Đó là việc nam và nữ được đối xử công bằng, có cơ hội như nhau trong học tập, lao động và đời sống xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn phải chịu định kiến “trọng nam khinh nữ”, bị hạn chế cơ hội học tập, thăng tiến và thậm chí còn là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong khi đó, nam giới đôi khi cũng chịu áp lực phải gánh vác trách nhiệm nặng nề chỉ vì quan niệm xã hội. Những bất công ấy không chỉ gây tổn thương cho cá nhân mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức. Mỗi người phải hiểu rằng giới tính không quyết định giá trị hay khả năng của con người. Gia đình cần giáo dục con cái sự tôn trọng và chia sẻ từ sớm. Nhà trường và xã hội phải tạo điều kiện công bằng trong học tập, việc làm và pháp luật cần bảo vệ quyền lợi chính đáng của cả nam và nữ. Là học sinh, em cần thể hiện sự tôn trọng, không phân biệt đối xử, lên tiếng trước những hành vi bất công về giới. Khi bình đẳng giới được thực hiện, con người sẽ được sống đúng với giá trị của mình và xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn hơn. --- Nếu bạn muốn rút ngắn hơn nữa (ví dụ chỉ 150 chữ / 300 chữ) hoặc viết theo kiểu học sinh trung bình – khá, mình chỉnh ngay cho nhé.
hrrxrx