K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

23 tháng 2 2024

- Trước thắng lợi bước đầu của cách mạng, một số người lãnh đạo Đồng minh hội chủ trương thương lượng với Viên Thế Khải-một đại thần của triều đình Mãn Thanh.

- Theo thỏa thuận, sau khi đã ép buộc vua Thanh thoái vị, Tôn Trung Sơn phải từ chức

23 tháng 2 2024

mọi người giúp mk làm bài này với ạ

 

9 tháng 9 2025

Sửa đề: \(A=\left(\frac{x}{x^2-36}+\frac{6-x}{x^2+6x}\right):\frac{2x-6}{x^2+6x}+\frac{x}{6-x}\)

a: ĐKXĐ: x∉{0;6;-6;3}

b: Ta có: \(A=\left(\frac{x}{x^2-36}+\frac{6-x}{x^2+6x}\right):\frac{2x-6}{x^2+6x}+\frac{x}{6-x}\)

\(=\left(\frac{x}{\left(x-6\right)\left(x+6\right)}+\frac{6-x}{x\left(x+6\right)}\right):\frac{2\left(x-3\right)}{x\left(x+6\right)}+\frac{x}{6-x}\)

\(=\frac{x^2-\left(x-6\right)^2}{x\left(x+6\right)\left(x-6\right)}\cdot\frac{x\left(x+6\right)}{2\left(x-3\right)}+\frac{x}{6-x}\)

\(=\frac{x^2-x^2+12x-36}{x-6}\cdot\frac{1}{2\left(x-3\right)}+\frac{x}{6-x}=\frac{12x-36}{2\left(x-3\right)\left(x-6\right)}+\frac{x}{6-x}\)

\(=\frac{12\left(x-3\right)}{2\left(x-3\right)\left(x-6\right)}+\frac{x}{6-x}=\frac{6}{x-6}+\frac{x}{6-x}=\frac{6-x}{x-6}\)

=-1

23 tháng 2 2024

\(n_{HCl}=\dfrac{10,95}{36,5}=0,3\left(mol\right)\)

Gọi CTHH của oxit kim loại là M2On

PT: \(M_2O_n+2nHCl\rightarrow2MCl_n+nH_2O\)

Theo PT: \(n_{M_2O_n}=\dfrac{1}{2n}n_{HCl}=\dfrac{0,15}{n}\left(mol\right)\)

\(\Rightarrow M_{M_2O_n}=\dfrac{8}{\dfrac{0,15}{n}}=\dfrac{160}{3}n\left(g/mol\right)\)

\(\Rightarrow2M_M+16n=\dfrac{160}{3}n\)

\(\Rightarrow M_M=\dfrac{56}{3}n\left(g/mol\right)\)

Với n = 3, MM = 56 (g/mol) là thỏa mãn.

→ M là Fe.

Vậy: CTHH cần tìm là Fe2O3.

Tác giả Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên về truyện ngắn xuất sắc, các tác phẩm nổi tiếng của ông như: Giữa trong xanh (1972), Lý Sơn mùa tỏi (1980). Và đoạn trích “Lặng lẽ Sa Pa” được rút ra từ tập truyện “Giữa trong xanh”. Truyện được viết vào một chuyến nhà văn đi công tác lại Lào Cai, ca ngợi những con người sống ở nơi non xanh lặng lẽ đang ngày đêm cống hiến thầm lặng cho Tổ quốc. Mở đầu tác phẩm là bức tranh thiên nhiên đầy chất thơ của mảnh đất Lào Cai - nơi miền Tây Bắc của Tổ quốc, nơi đây không hề mang vẻ hoang vu mà trái lại còn rất hữu tình và tráng lệ. Xe của đoàn vừa “trèo lên núi” đã thấy “mây hắt từng chiếc quạt trắng lên từ các thung lũng”, trạm dừng là nơi “con suối có thác trắng xóa”, những cây thông “rung tít trong nắng”,…Trên nền của bức tranh thiên nhiên ấy, hiện lên hình ảnh cuộc sống của con người, làm cho bức tranh càng thêm nồng nàn, ý vị “nắng chiều làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo”. Trong chuyến xe lên Lào Cai ấy, có bác lái xe vui tính, cởi mở và nhiệt tình với hành khách; có ông họa sĩ già nhưng vì tình yêu nghệ thuật nên vẫn khao khát những chuyến đi thực tế tìm kiếm cái đẹp, lúc nào ông cũng trăn trở một điều “phải vẽ được một cái gì suốt đời mình thích”; bên cạnh đó là cô kĩ sư trẻ mới ra trường, tinh thần hăng hái xung phong lên Lào Cai công tác, bước vào cuộc sống bát ngát sau những năm tháng đại học khiến cho cô rất háo hức. Tại Sa Pa đoàn khách của tác giả đã được biết đến ông kĩ sư ở vườn rau, suốt đời làm việc nghiên cứu và lai tạo giống cây trồng phục vụ dân sinh và xuất khẩu. Đồng chí ấy đã mười một năm không một ngày xa cơ quan, bỏ mặc hạnh phúc riêng tư. Tiêu biểu nhất cho con người nơi đây chính là anh thanh niên 27 tuổi làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu tại đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét. Sống một mình trên đỉnh núi, anh thanh niên theo lời giới thiệu của bác lái xe là “người cô độc nhất thế gian”. Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” phục vụ cho sản xuất và chiến đấu. Hoàn cảnh làm việc một mình, đôi lúc thời tiết khắc nghiệt như bão tuyết, mưa rét nhưng anh vẫn một mình xách đèn bão ra vườn lấy số liệu. Chẳng cần có người giám sát, thúc giục, anh thanh niên vẫn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Anh còn là một người rất lạc quan, yêu đời và có lối sống khoa học, sống một mình nhưng vẫn trồng hoa, chăn gà và đọc sách. Anh cũng rất nhiệt thành và chu đáo với mọi người, đồng thời rất khiêm tốn. Anh là tấm gương về một con người có lý tưởng sống đẹp, vì quê hương đất nước mà quên đi bản thân mình. Tóm lại những nhân vật trên đã tạo nên bức chân dung về những con người sống đẹp, hy sinh thầm lặng và cống hiến hết mình vì sự nghiệp của đất nước. Có thể thấy, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” như một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi rất trong sáng và nhẹ nhàng. Trên nền cảnh của thiên nhiên núi rừng Sa Pa, những con người hiện lên thật đáng yêu, đáng quý và đáng trân trọng.

1 tháng 3

Trong kho tàng văn học thế giới, An-tôn sê-khốp được biết đến là bậc thầy của truyện ngắn trào phúng với những tác phẩm mang tính châm biếm sâu sắc về xã hội Nga cũ. Một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất của ông là "Anh béo và anh gầy", một tác phẩm tuy ngắn gọn nhưng đã lột trần bản chất của thói nô lệ và sự tha hóa của con người trước quyền lực. ​Ngay từ mở đầu, tác giả đã tạo ra một sự đối lập gay gắt thông qua ngoại hình và mùi vị của hai nhân vật. Anh béo hiện lên với dáng vẻ của sự sung túc, vừa ăn xong ở nhà ga và tỏa ra "mùi rượu nho loại nặng" – biểu tượng của tầng lớp thượng lưu, giàu có. Ngược lại, anh gầy xuất hiện với vẻ ngoài nhếch nhác, "hai tay lỉnh kỉnh nào vali, nào hộp, nào túi" và toát ra "mùi thịt ướp, mùi bã cà phê", gợi lên cuộc sống vất vả, bươn chải của một viên chức nhỏ. ​Cuộc gặp gỡ tình cờ tại sân ga ban đầu diễn ra trong bầu không khí vô cùng ấm áp của tình bạn cũ. Anh béo chủ động kêu lên đầy vồ vập: "Porphiri đấy à? Ôi, ông bạn thân mến của tôi!". Anh gầy cũng đáp lại bằng sự sững sốt và vui mừng khôn xiết. Thế nhưng, bước ngoặt của câu chuyện xảy ra khi anh gầy biết được anh béo nay đã là một quan chức cấp cao (bậc tam cấp). ​Chính tại thời điểm này, sự tha hóa về nhân cách của anh gầy được bộc lộ rõ nét qua nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy của sê-khốp. Anh gầy bỗng nhiên "tái mặt đi", "đứng ngây ra như phỗng" và ngay lập tức thay đổi thái độ từ bạn bè thân thiết sang sự quỵ lụy, kính cẩn đến mức hèn mọn. Đặc biệt, chi tiết "Mấy thứ vali, hộp túi của anh ta cũng co rúm lại, nhăn nhó" là một hình ảnh nhân hóa đắt giá, cho thấy nỗi sợ hãi và thói tôn thờ địa vị đã ăn sâu vào máu thịt, khiến ngay cả vật vô tri cũng trở nên khiếp nhược. ​Qua tác phẩm, sê-khốp không chỉ phê phán anh gầy mà còn gián tiếp lên án một hệ thống xã hội phân chia đẳng cấp khắt khe, nơi mà tình bạn chân thành bị bóp nghẹt bởi chức tước. Anh béo dù muốn giữ tình bạn bình đẳng nhưng cũng phải cảm thấy "buồn nôn" trước thái độ bợ đỡ thái quá của bạn mình. ​Tóm lại, "Anh béo và anh gầy" là một bài học đắt giá về lòng tự trọng và giá trị của con người. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh hay địa vị nào, sự chân thành và bình đẳng mới là nền tảng bền vững nhất của mọi mối quan hệ.

mang đến một cảm hứng dạt dào về sức sống mới, thể hiện tình yêu thiên nhiên và quê hương sâu sắc của nhà thơ. Cảm xúc vui vẻ, phấn chấn khi đón mưa sau những ngày nắng hạn được khắc họa sinh động qua các hình ảnh gần gũi như "làng ta tươi tốt", "mưa như gót trẻ". Nhà thơ trân trọng sự hồi sinh của tạo hóa, qua đó gửi gắm tình cảm chân thành, yêu thương đối với đất bãi, bến chờ, khiến người đọc cảm nhận được sự dịu mát, trù phú của quê hương.

1 tháng 3

Tự luận


(1,0 điểm) Từ khát vọng của chim yến, em nghĩ gì về khát vọng của con người trong cuộc sống hôm nay qua đoạn thơ sau? Dẫu nhỏ bé cũng là máu thịt Yến xây nên khát vọng riêng mình Chẳng hề nghĩ so cùng ai kiểu dáng Chỉ muốn tự do được hót giữa trời xanh Bài đọc: Khi chim yến chắt máu mình làm tổ Nơi tận cùng vách đảo giữa trùng khơi Yến chỉ nghĩ giữa sóng thần bão...
Đọc tiếp

(1,0 điểm) Từ khát vọng của chim yến, em nghĩ gì về khát vọng của con người trong cuộc sống hôm nay qua đoạn thơ sau?

Dẫu nhỏ bé cũng là máu thịt

Yến xây nên khát vọng riêng mình

Chẳng hề nghĩ so cùng ai kiểu dáng

Chỉ muốn tự do được hót giữa trời xanh

Bài đọc:

Khi chim yến chắt máu mình làm tổ

Nơi tận cùng vách đảo giữa trùng khơi

Yến chỉ nghĩ giữa sóng thần bão tố

Phải có riêng một tổ ấm cho đời.

 

Dẫu nhỏ bé cũng là máu thịt

Yến xây nên khát vọng riêng mình

Chẳng hề nghĩ so cùng ai kiểu dáng

Chỉ muốn tự do được hót giữa trời xanh.

 

Con chim nhỏ suốt một đời lặng lẽ

Muốn giấu đi những gian khổ nhọc nhằn

Yến đâu biết cái nhỏ nhoi mình có

Đã hóa thành quà tặng thế gian.

                      (“Chim yến làm tổ” – Nguyễn Minh Khiêm, NXB Văn hóa dân tộc, 1998)

14

Ta hoá phù sa: Hình ảnh hoán dụ nhân hóa, tượng trưng cho việc mỗi người nguyện hiến dâng sức lực, tuổi trẻ (phù sa) để bồi đắp, làm giàu cho mảnh đất quê hương. Mỗi bến chờ: Tượng trưng cho những nơi, những thời điểm đất nước cần, thể hiện sự sẵn sàng, âm thầm đợi chờ để cống hiến. => Ý thơ ca ngợi tình yêu quê hương sâu sắc, tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó máu thịt với đất nước.

1 tháng 3

Tự luận

6 tháng 3 2024

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Tú Xương là một gương mặt thơ nổi bật với những cách tân mới mẻ. Cùng với hai mảng đề tài về xã hội Nam Định buổi giao thời và cảnh đời tư thì thực trạng thi cử cũng là đề tài mà ông quan tâm phản ánh. Ông đã để lại 13 bài thơ và phú về vấn đề “thi cử”, trong đó nổi bật là bài thơ “Vịnh khoa thi Hương”. Tác phẩm được làm thao thể thơ thất ngôn bát cú đã thể hiện rõ thực trạng xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam đang dần mục nát lúc bấy giờ, đồng thời thể hiện tiếng cười trào phúng chua chát, sâu cay của tác giả.

Mở đầu bài thơ, tác giả viết:

Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà”.

Hai câu thơ tuy đơn giản nhưng đã khéo léo giới thiệu được đặc điểm của kì thi Hương lần này. Đặc điểm thứ nhất là cứ ba năm, "nhà nước" mở một kì thi như thế. Đó là quy định bình thường của lệ thi cử. Đặc điểm thứ hai đã làm cho cái bình thường đó trở nên hơi bất thường: trường Nam Định thi lẫn với trường Hà Nội. Đời nhà Nguyễn, toàn Bắc Kì có hai địa điểm thi Hương, đó là Nam Định và Hà Nội. Năm Đinh Dậu 1897, vì sợ các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta nên thực dân Pháp không cho tổ chức thi ở Hà Nội nữa, nên chính quyền nhà Nguyễn cho dồn tất cả vùng Nam Định. Chữ "lẫn" diễn tả khéo cái tính chất hỗn tạp, láo nháo, không còn thể thống gì.

Tính chất tạp nhạp, lôi thôi của thi cử lập tức hiện ra trước mắt người đọc khi bước sang hai câu thực:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm oẹ quan trường miệng thét loa.

Một khung cảnh thật là tạp nham, thật là nhốn nháo. Nào là sĩ tử đi thi, nào là quan lại coi thi cứ nhốn nháo hết cả lên, chẳng có quy cách của một kì thi hương quan trọng của triều đình. Hai nhân vật chính trong kì thi được bộc lộ, khắc họa thật rõ nét. Đồng thời cũng cho người đọc chúng ta thấy được cái tính cách, quy cách của trường thi năm nay thật khác biệt so với thời xưa. "Sĩ tử" là những người đi thi, đáng ra phải trông thật nho nhã, trang trọng, vậy mà ở đây toàn thấy là sự luộm thuộm, lôi thôi với bao nhiêu chai với lọ, thật nhếch nhác quá đỗi. Tú Xương đã cố ý đảo chữ "lôi thôi" lên đầu câu để nhấn mạnh cái sự nhếch nhác của các sĩ tử trong mùa thi hương lần này. Hình ảnh cái "lọ" - vốn được cho là đựng mực, đựng nước uống của sĩ tử, nhưng lại "đeo" trên vai. Nghe sao có vẻ mỉa mai đến thế. Cái hình ảnh ấy như đang gợi lên sự xiêu vẹo, sự đổ gãy, lếch thếch của những kẻ sau này vốn sẽ trở thành những trụ cột tương lai của đất nước. Và hơn thế, ông cũng muốn nhấn rằng những kẻ "vai đeo lọ" kia là những kẻ sĩ, những kẻ có tri thức trong xã hội mà lại không thể giữ cho mình cái phong thái mang danh kẻ sĩ ấy.

Không chỉ vậy, Tú Xương cũng nhấn mạnh thật kĩ hình ảnh của lũ "quan trường" - quan coi thi ở trường thi. Ông cũng đã tìm ra cho chúng một từ ngữ thật xứng đáng "ậm ọe".

"Ậm ọe quan trường miệng thét loa"

Nếu như lũ sĩ tử "lôi thôi", nhếch nhác bao nhiêu thì lũ quan trường lại "ậm ọe", lố lăng bấy nhiêu. Quả đúng là một từ ngữ sáng tạo xứng danh cái tên Tú Xương. Cái âm thanh "ậm ọe" ấy chỉ là những thanh âm ú ớ, không rõ tiếng rõ lời, nhưng lại được gân lên bằng sự la lối của đám quan lại trường thi. Nó cũng miêu tả cái sự phách lối, giáo điều, ra vẻ của đám quan trường ấy. Tú Xương đã đóng vai một nhà nhiếp ảnh để thu lại những hình ảnh chân thực nhất ở trường thi năm ấy bởi  không chỉ đám sĩ tử mất đi cái phong thái của một kẻ sĩ học chữ Nho mà đám quan lại cũng mất đi sự tôn kính, trang nghiêm của một kì thi lớn của đất nước.

Tất cả hiện lên song song trong hai câu bình đối làm nổi bật cảnh tượng hết sức khôi hài của một trường thi. Và cảnh tượng ấy nói lên với ta bao nhiêu ý nghĩ về cái xã hội hỗn tạp, nhố nhăng trong buổi đầu của chế độ thực dân và phong kiến Việt Nam, mà triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là cái bóng mờ thảm hại đến buồn cười.

Tư tưởng đó bộc lộ rõ hơn nữa trong hai câu luận tiếp theo:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.”

Vẫn trung thành với lối tả thực, Tú Xương tiếp tục vẽ lại bức tranh trường thi khi mà nó được viếng thăm bởi tên Toàn quyền người Pháp cùng vợ của hắn. Vì vậy, tả kì thi này mà thiếu cái chi tiết ấy thì là thiếu tất cả. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà một người làm thơ sành sõi như Tú Xương lại đem hình ảnh này đặt vào cặp luận của bài thơ. Nếu hai câu luận có vị trí chủ chốt trong bài thơ, thì hình ảnh của "ông Tây mụ đầm" ở đây là một phản ánh đúng bản chất xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: xã hội nô lệ, mà người nắm thực quyền là thực dân. Hình ảnh "lọng cắm rợp trời” cho thấy cảnh tiếp đón dành cho Tây thật là long trọng, thật là kính cẩn. Không chỉ vậy, quan Tây bà đầm còn được miêu tả là được ngồi lên vị trí cao nhất của trường thi. Tú Xương đang ám chỉ điều gì? Phải chăng là cảnh nước mất nhà tan đã diễn ra ngay trước mắt?

Thế nhưng, phải thật tinh tế mới nhận ra, Tú Xương đã dùng thơ Đường làm vũ khí để mỉa mai thật sắc bén, để bày tỏ thái độ của mình đối với lũ cướp nước kia.

Sử dụng nghệ thuật thơ đối xứng, Tú Xương đặt cái "váy" của bà đầm và cái "lọng" của ông quan Tây được đặt ngang bằng, ghép hai hình ảnh đó lại, người ta thấy đó là mỉa mai đầy châm biếm, câu thơ như "chửi thẳng" vào mặt viên quan sứ người Tây kia. Không chỉ thế, tác giả đã dùng từ "quan sứ" để nói về ông quan tây nhưng lại dùng từ "mụ đầm" khi nói về vợ của ông ta, đây chẳng phải là một sự khinh bỉ, một sự "chơi xỏ" mà Tú Xương dành cho viên Toàn quyền Pháp kia hay sao? Bởi ai cũng biết, từ "mụ" để chỉ những hạng đàn bà không ra gì, gọi vợ của "quan sứ" là "mụ" thì khác gì nói ông "quan sứ" kia chỉ là "thằng" mà thôi sao? Quả thật, cái chửi của Tú Xương sâu cay và thâm thúy đến nhường nào!

Thế mới thấy, thơ Tú Xương không chỉ miêu tả cái hiện thực lạnh lùng, tàn khốc mà còn lồng cả vào đó tiếng cười sâu cay, đắng ngọt, phơi bày trong đó cái tâm của một kẻ sĩ yêu nước, đau lòng vì nước mất nhà tan nhưng vì lực yếu sức mỏng mà đành dùng lời văn làm vũ khí cho mình.

Để đến cuối cùng, cái cười kia chẳng thể át nổi niềm đau xót trong tâm của ông, nó bật ra thành tiếng:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà".

"Đất Bắc" vốn là từ chỉ Hà Nội, là nơi hội tụ của ngàn năm kinh đô, là nơi của bậc đế vương ngự trị, nơi của anh tài khắp đất nước hội tụ về đây. Lời thơ như một tiếng than đau xót vô vàn của Tú Xương khi mắt phải nhìn thấy đất nước đang dần rơi vào tay giặc. Ông đang nói với chính mình hay là đang kêu gọi ai, ai còn nghĩ tới nỗi nhục mất nước, ai còn tự hào với dân tộc bốn ngàn năm lịch sử này chăng? Đọc câu thơ mà ta thấy sự xót xa, đau xót của tác giả trước tình cảnh của đất nước. "Nhân tài" ở đây chỉ ai, nó chỉ là một từ phiếm chỉ, là những kẻ đã từng một lần mơ ước được bước qua cánh cửa thi hương này, hay là những kẻ đã từng đặt chân đến đây hãy nhìn xem "cảnh nước nhà"?

Ở đây, Tú Xương không quyết liệt thể hiện tư tưởng kêu gọi mọi người chung tay dẹp loạn như trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

"Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này?"

Đối với hai tâm trạng, ta thấy có chỗ khác nhau mặc dù mỗi người để bộc lộ nỗi đau xót của mình trước cảnh nước mất nhà tan.

Ở Nguyễn Đình Chiểu, lời kêu gọi của ông nhắm tới những người "dẹp loạn". Điều đó đã bộc lộ ý thức đánh giặc, và quyết tâm "dẹp loạn" của nhà thơ ca ngợi và chủ xướng quan niệm "Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây".

Ở Trần Tế Xương, lời kêu gọi của ông không thể hiện một tư tưởng quyết liệt như vậy. Nó chỉ gợi lên một nỗi nhục mất nước đang sờ sờ trước mắt mà có người còn không thấy, có kẻ còn làm ngơ, quay mặt đi như vậy, nên Tú Xương mới kêu gọi "ngoảnh cổ mà trông". Ngoảnh cổ là một từ rất bạo của Tú Xương. Chữ "ngoảnh cổ" của Tú Xương rất hình ảnh và biểu cảm, loại hình ảnh biếm họa của truyện cười. Cho nên không phải đến hai câu kết, cái cười của Tú Xương chợt tắt để nhường chỗ cho nỗi đau của ông. Mà ngay ở trong cái cười ấy, và vẫn cái cười sâu cay ấy, tiếng lòng của ông bật ra như một giọt nước mắt rơi xuống bất ngờ.

Bài thơ "Vịnh khoa thi Hương" của Tú Xương viết bằ...

1 tháng 4

Hồ Xuân Hương là nhà thơ nổi tiếng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Ở giai đoạn lịch sử này, chế độ phong kiến suy tàn đã bộc lộ những hạn chế, bất công. Hồ Xuân Hương đã gửi gắm vào thơ những suy tư, trăn trở trước hiện thực của xã hội, trước thân phận bất hạnh của con người, nhất là người phụ nữ. Những tác phẩm thơ Nôm tiêu biểu của bà thời kì này không thể không kể đến bài thơ “Mời trầu”. “Mời trầu” cũng như nhiều bài thơ khác của Hồ Xuân Hương thuộc thể tuyệt cú cổ điển. Đấy là một thể Đường luật thi, một thứ văn chương bác học. Nhưng đọc “Mời trầu” không ai có ý nghĩ đây là bài thơ Đường du nhập từ Trung Quốc vào qua những nhà trí thức Hán học. Có một cái gì thật là nôm na dân dã ở lời thơ hết sức bình dị và giọng điệu mộc mạc.

Hình ảnh miếng trầu đã mang đến cho chúng ta những liên tưởng về miếng trầu truyền thống gắn liền với những niềm vui như đám cưới, nó cũng gắn liền với những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trong sự tích trầu cau. Còn ở đây thì sao?. Miếng trầu ấy thể hiện được nỗi lòng Xuân Hương khao khát có một tình yêu thật sự, một hạnh phúc vợ chồng đời thường êm ấm, nồng đượm. Trước hết hai câu thơ đầu nhà thơ nói về miếng trầu ấy và chủ nhân làm ra miếng trầu ấy chính là Xuân Hương: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Miếng trầu ấy có quả cau, có lá trầu. Hai thứ ấy đi liền với nhau để làm nên một miếng trầu. Hình ảnh những miếng trầu têm xanh ngắt cánh phượng mới đẹp làm sao. Quả cau thì nho nhỏ gợi lên cái hình ảnh nhỏ bé của miếng trầu nhưng lại rất đẹp. Sự nhỏ bé ấy hay cũng chính là sự nhỏ bé của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Miếng trầu hôi không phải là nó có mùi hôi mà do lá trầu cay nên nói như thế. Hình ảnh miếng trầu có ngàn năm tuổi như thể hiện cho nguyện ước khát khao lứa đôi của bà chúa thơ Nôm. Người sở hữu miếng trầu ấy chính là nhà thơ. Từ “này” thể hiện được tiếng mời, tiếng xưng danh của Xuân Hương. Miếng trầu ấy mới quệt xong, nó vẫn còn tươi xanh, ngọt bùi lắm. Miếng trầu của Xuân Hương không khác gì miếng trầu bình thường khác về hình thức nhưng miếng trầu ấy chất chứa biết bao nhiêu là tâm sự là nỗi lòng của người con gái kia. Đó chính là miếng trầu của lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi của thi sĩ. Thế nhưng, sau tấm chân tình gần như bình thản ấy là một giọng nói nhẹ nhàng chất chứa bao cảm xúc, bao nỗi niềm. “Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Hồ Xuân Hương đưa ra một câu hỏi vừa đưa ra một yêu cầu. “Có phải duyên nhau thì thắm lại”. Từ “thắm” sử dụng rất đắt. “Duyên” theo quan niệm dân gian là sự ràng buộc lẫn nhau từ kiếp trước đến kiếp này, Hồ Xuân Hương muốn nói đến cái duyên ấy. Hai câu thơ đầu nói về chuyện ăn trầu, hai câu cuối chuyển sang chuyện duyên số, chuyện con người vậy mà ý thơ vẫn liền mạch, không gò bó chứng tỏ tài dùng ẩn dụ của nhà thơ đến mức tuyệt vời. Nhà thơ còn vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong câu kết làm cho ý thơ thật đặc sắc. Bài thơ không chỉ đơn giản nói về duyên trầu mà Hồ Xuân Hương đã nói đến duyên phận của con người, của người phụ nữ thời phong kiến. Cái duyên ấy bấp bênh bạc bẽo như vôi. Như trong một số bài khác bà có nhắc nhiều đến duyên phận của người phụ nữ ‘thân em vừa trắng lại vừa tròn – bảy nổi ba chìm với nước non” (Bánh trôi nước). Qua đó gợi lòng thương cảm tới những con người có niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi, một tình yêu son sắt thủy chung. Với ngôn từ giản dị, giàu ý nghĩa, bài thơ “Mời trầu” như bao quát chuyện tình duyên lận đận của tác giả. Bà luôn khao khát sống với hạnh phúc lứa đôi. Đó là một tình cảm thật sự chứ không phải là thứ tình cảm vợ lẽ, chính vì thế mà ta cảm thấy yêu quý hơn người phụ nữ tài ba ấy.

1 tháng 4

Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi được thể hiện qua bài thơ "Cảnh ngày hè" là sự hòa hợp giữa tình yêu thiên nhiên thiết tha và tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.

11 tháng 4

Sau khi đọc bài thơ "Cảnh ngày hè" của tác giả Nguyễn Trãi cho ta thấy được bức tranh của mùa hè và thiên nhiên tâm hồn của tác giả hiện lên trong bài thơ , Nguyễn Trãi không chỉ quan sát mà còn cảm nhận thiên nhiên bằng mọi giác quan. Ông nhìn cây hòe, hoa thạch lựu và hương sen ...... biết được ông là người yêu đời, yêu cuộc sống những hình ảnh , âm thanh bình dị . Điều này cho thấy một tâm hồn tinh tế, luôn rộng mở để đón nhận vẻ đẹp của thế gian này .Qua đó , cho ta cảm nhận được ông có tâm hồn yêu thiên nhiên , yêu nước , yêu  người dân, yêu nước.