K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

2 tháng 3

Baivanphantichđoantichhoanhocgiensiđiencuatohưu



Hình tượng chiến sĩ Điện Biên anh hùng và kiên cường
  • Đoạn thơ mở đầu bằng lời reo vui, ca ngợi đầy tự hào: "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên / Chiến sĩ anh hùng". Hình ảnh người chiến sĩ hiện lên với vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa bi tráng. 
  • "Đầu nung lửa sắt" và "Máu trộn bùn non" là những hình ảnh ẩn dụ sắc nét, thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh nhưng cũng làm nổi bật tinh thần bất khuất, sự hy sinh thầm lặng của các anh. 
  • "Gan không núng / Chí không mòn" khẳng định ý chí vững vàng, quyết tâm chiến đấu đến cùng vì độc lập tự do. 
2. Sự hy sinh cao cả và tinh thần quyết chiến 
  • Đoạn trích tái hiện những khó khăn gian khổ tột cùng: "Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt". 
  • Sự hy sinh cao cả được khắc họa qua những chi tiết đầy cảm động: "Những đồng chí thân chôn làm giá súng / Những đồng chí chèn lưng cứu pháo". Đây là những hình ảnh biểu tượng cho sự hy sinh vô bờ bến, "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". 
  • Hình ảnh "Đầu bịt lỗ châu mai" gợi nhớ đến tấm gương anh hùng Bế Văn Đàn, thể hiện đỉnh cao của tinh thần dũng cảm. 
  • Dù "Nát thân, nhắm mắt, còn ôm..." nhưng tâm thế các anh vẫn luôn hướng về phía trước, hướng về chiến thắng. 
3. Khát vọng chiến thắng và sức mạnh tập thể
  • Các hình ảnh như "Băng mình qua núi thép gai", "Ào ào vũ bão" thể hiện khí thế tấn công mạnh mẽ, không gì cản phá được của quân đội ta. 
  • "Những bàn tay xẻ núi lăn bom" cho thấy sức mạnh tập thể to lớn, sự đồng lòng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn. 
  • Câu kết: "Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện" khẳng định mục tiêu cao nhất là chiến thắng, là sự thông suốt của tuyến đường tiếp tế để phục vụ chiến trường. 
Kết luận Đoạn trích không chỉ là lời ca ngợi những người anh hùng đã ngã xuống mà còn là lời nhắc nhở thế hệ sau về truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhịp thơ nhanh, dứt khoát như khúc quân hành, tạo nên một không khí hào hùng, bi tráng. 
2 tháng 3

Baithoboclonoiniemtamtrangcuanguoiphunutrongkieplaychongchungphananhsubatcongvathanphanhamhiuvuahotrongxahoiphongkien


Giá trị nhân đạo của bài thơ "Làm lẽ" của Hồ Xuân Hương được thể hiện qua sự cảm thông, thấu hiểu sâu sắc đối với số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời cất lên tiếng nói tố cáo chế độ đa thê và đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ

2 tháng 3

Thànhngugiúptăngsucgơihìnhgơicam,làmchocâusacvàphanánhchânthucnoiđaucuanguoiphunu


6 tháng 3

Việc sử dụng các thành ngữ trong bài thơ "Làm lẽ" của Hồ Xuân Hương có tác dụng khắc họa sâu sắc nỗi cay đắng, bẽ bàng và thân phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

20 tháng 2 2024

Nếu p;q cùng lẻ \(\Rightarrow p^q.q^p\) lẻ

Trong khi đó \(2p+q+1\) và \(2q+p+1\) chẵn \(\Rightarrow\left(2p+q+1\right)\left(2q+p+1\right)\) chẵn (ktm)

\(\Rightarrow\) Trong 2 số p và q phải có ít nhất 1 số chẵn.

Do vai trò của p và q là như nhau, ko mất tính tổng quát, giả sử q chẵn

\(\Rightarrow q=2\Rightarrow p^2.2^p=\left(2p+3\right)\left(p+5\right)\)

\(\Rightarrow p^2.2^p=2p^2+13p+15\)

- Với \(p=2\) ko thỏa mãn 

- Với \(p=3\) thỏa mãn

- Với \(p>3\Rightarrow p\ge5\)

\(\Rightarrow p^2.2^p\ge p^2.2^5=32p^2\)

\(\Rightarrow2p^2+13p+15\ge32p^2\)

\(\Rightarrow2p^2+13p\left(p-1\right)+15\left(p^2-1\right)\le0\) (vô lý do \(p\ge5\Rightarrow\left\{{}\begin{matrix}p^2>0\\p-1>0\\p^2-1>0\end{matrix}\right.\))

Vậy \(\left(p;q\right)=\left(2;3\right);\left(3;2\right)\)

21 tháng 2 2024

 

Một trong những phát minh quan trọng của thế kỷ XIX mà tôi yêu thích là đèn đuốc khí acetylene, còn được biết đến với tên gọi là đèn carbide. Phát minh này được người phát minh người Pháp là Augustin-Jean Fresnel giới thiệu vào năm 1832.

Đèn đuốc khí acetylene sử dụng nguyên tắc phản ứng giữa carbide canxi (CaC2) và nước để tạo ra khí acetylene (C2H2), và sau đó sử dụng nó để tạo ra ánh sáng. Việc này giúp thay thế đèn dầu truyền thống và mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho đời sống hàng ngày.

Một số tác động của đèn đuốc khí acetylene đối với đời sống bao gồm:

  1. Ánh sáng sáng hơn và hiệu quả hơn: So với đèn dầu truyền thống, đèn đuốc khí acetylene tạo ra ánh sáng sáng hơn và không phát sinh khói đen, làm tăng khả năng quan sát và làm việc vào buổi tối.

  2. Nâng cao an toàn: Đèn đuốc khí acetylene ít dễ gây cháy nổ hơn so với đèn dầu, giúp cải thiện an toàn trong việc sử dụng đèn chiếu sáng.

  3. Ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp: Khí acetylene được sử dụng không chỉ để tạo ánh sáng mà còn để hàn và cắt kim loại, mở ra nhiều ứng dụng trong công nghiệp xây dựng và chế tạo.

  4. Tiết kiệm chi phí: Sự hiệu quả và độ sáng của đèn đuốc khí acetylene giúp tiết kiệm nhiên liệu so với các phương tiện chiếu sáng truyền thống, đồng thời giảm chi phí duy trì.

Phát minh này đã có tác động tích cực đến cuộc sống hàng ngày và phát triển của xã hội trong thế kỷ XIX và tiếp theo, tạo ra những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực chiếu sáng và công nghiệp.

S
20 tháng 2 2024

- cuối thế kỉ XIX tình hình kinh tế của các đế quốc là:

+ thứ 1: Anh

+ thứ 2: Pháp

+ thứ 3: Đức

+ thứ 4: Mỹ

- đầu thế kỉ XX tình hình kinh tế của các đế quốc là:

+ thứ 1: Mỹ

+ thứ 2: Đức

+ thứ 3: Anh

+ thứ 4: Pháp

20 tháng 2 2024

loading...

28 tháng 2

Thơ Xuân Hương cho đến nay vẫn hấp dẫn người đọc, cái thanh cái tục trong thơ bà đầy ẩn ý thế nhưng người ta không thể nào không thấy được những ý nghĩa nội dung mà bà muốn truyền tải qua những câu thơ của mình. Có thể nói rằng tài năng thơ ca của bà thật xứng danh với cái tên gọi mà người đời gọi bà đó chính là bà chúa thơ Nôm. Trong số những bài thơ Nôm ấy nổi bật lên bài thơ Mời trầu mà qua đó ta thấy được những tâm sự những điều mà Xuân Hương trăn trở về cuộc đời của mình. Chuyện tình duyên và nỗi lòng người phụ nữ tài ba ấy được khắc hoạ rất rõ. Bài thơ “Mời trầu” chỉ có bốn câu thơ thôi nhưng lại chứa đựng biết bao nhiêu là tâm sự tâm tình của người phụ nữ mà cụ thể ở đây là Hồ Xuân Hương. Có thể nói rằng cả cuộc đời bà luôn bênh vực người phụ nữ cũng chính là bênh vực chính bản thân mình trong xã hội trọng nam khinh nữ ấy. Qua đấy ta có thể thấy được Xuân Hương quả thật là một người mạnh mẽ, bà có tiếng nói riêng đại diện cho những người phụ nữ. bai thơ Mời trầu đã thể hiện rõ những nỗi lòng của bà chúa thơ Nôm. Nhan đề bài thơ là “Mời trầu” cũng mang những ý nghĩa truyền tải nhất định. Nhan đề là sự bộc lộ chủ đề của tác phẩm chính vì thế mà mỗi nhà thơ nhà văn đều đặt cho con tinh thần của mình những cái tên mang cả nội dung lẫn nghệ thuật. Hình ảnh miếng trầu kia đã mang đến cho chúng ta những liên tưởng về miếng trầu truyền thống gắn liền với những niềm vui như đám cưới, nó cũng gắn liền với những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trong sự tích trầu cau. Còn ở đây thì sao?. Miếng trầu ấy thể hiện được nỗi lòng Xuân Hương khao khát có một tình yêu thật sự, một hạnh phúc vợ chồng đời thường êm ấm, nồng đượm. Trước hết hai câu thơ dầu nhà thơ nói về miếng trầu ấy và chủ nhân làm ra miếng trầu ấy chính là Xuân Hương: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi Quảng cáo ad Miếng trầu ấy có quả cau, có là trầu hai thứ ấy đi liền với nhau để làm nên một miếng trầu. Hình ảnh những miếng trầu têm xanh ngắt cánh phượng mới đẹp làm sao. Nó không chỉ đẹp mắt đẹp tâm tình mà còn đẹp cả tấm lòng người trao đi nữa. Quả cau thì nho nhỏ gợi lên cái hình ảnh nhỏ bé của miếng trầu nhưng lại rất đẹp. Sự nhỏ bé ấy hay cũng chính là sự nhỏ bé của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Miếng trầu hôi không phải là nó có mùi hôi mà do lá trầu cay nên nói như thế. Hình ảnh miếng trầu có ngàn năm tuổi như thể hiện cho nguyện ước khát khao lứa đôi của bà chúa thơ Nôm. Người xở hữu miếng trầu ấy chính là nhà thơ. Từ “này” thể hiện được tiếng mời, tiếng xưng danh của Xuân Hương. Miếng trầu ấy mới quẹt xong, nó vẫn còn tươi xanh, ngọt bùi lắm. Miếng trầu của Xuân Hương không khác gì miếng trầu bình thường khác về hình thức nhưng miếng trầu ấy chất chứa biết bao nhiêu là tâm sự là nỗi lòng của người con gái kia. Đó chính là miếng trầu của lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi của thi sĩ. Sang đến hai câu thơ sau thì thi sĩ muốn gửi đến những lời nhắn nhủ cho những bậc quân tử trên cõi đời này rằng: Quảng cáo Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi Chính nỗi khao khát tình yêu khiến cho nhà thơ mong muốn rằng người quân tử nếu có duyên với Xuân Hương thì bén lại chứ đừng bạc như vôi xanh như lá. Cái duyên trên cõi đời này được người xưa vô cùng tin vào nó. Không có duyên thì có gần gũi đến mấy cũng không thể nào có tình cảm yêu thương được nhưng có duyên thì lại thắm lại ngay. Không gần cũng yêu thương da diết vô bờ. Thi sĩ nói đừng xanh như lá bạc như vôi là có ý gì?. Lá cây bao giờ chẳng xanh, không xanh thì đâu còn là lá cây nữa. vôi thì màu trắng bạc rồi. Có thể nói ở đây nhà thơ đã sử dụng biện pháp so sánh kết hợp với lối nói cái tự nhiên vốn có để chỉ cái mong muốn trong tình yêu của con người. lá xanh thì tốt, vôi trắng bạc là đương nhiên nhưng con người mang những trạng thái đó thì không tốt. Bởi vì cái xanh cái bạc kia là để chỉ sự xanh rờn, sự bạc bẽo của con người với nhau. Chính vì thế Xuân Hương mượn ngay hình ảnh của lá trầu, vôi trắng mà gửi thầm cái nguyện ước nhắn nhủ của bản thân mình. Bài thơ như một dòng nhật kí của thi sĩ, Xuân Hương đã viết vào đó những tâm tư tình cảm của mình. bà là luôn khao khát sống với hạnh phúc lứa đôi. Đó là một tình cảm thật sự chứ không phải là thứ tình cảm vợ lẽ, chính vì thế mà ta cảm thấy yêu quý hơn người phụ nữ tài ba ấy. Phân tích một tác phẩm thơ Mời trầu - mẫu 2 Trong nền văn học việt Nam có biết bao nhiêu nữ thi sĩ gây được nhiều sự quan tâm và tiếng vang cho người đọc. Những bài thơ của họ không những nói số phận và những khát khao cháy bỏng của người phụ nữ mà còn thể hiện được tình cảm cá nhân của mình. Có lẽ nói đến những thì sĩ như thế ngoài bà huyện thanh quan chúng ta nhớ ngay đến Hồ Xuân Hương bà chúa thơ nôm của văn học trung đại Việt Nam. Thơ Xuân Hương có cái thanh nhưng cũng có cái tục cốt là để nói lên những tâm tư tình cảm của mình. ngoài những tác phẩm như chùm thơ tự tình, bánh trôi nước thì chúng ta còn biết đến bài thơ Mời Trầu của bà. có thể nói bài thơ đã thể hiện được tấm lòng khao khát tình yêu của Xuân Hương. Bài thơ chỉ có bốn câu thơ thôi nhưng qua đó ta thấy được tất cả những cảm xúc khát khao của cá nhân nhà thơ Xuân Hương hay một phần nào đó cũng là khát khao của những người phụ nữ. Trước hết là hai câu thơ đầu, nhà thơ của chúng ta đã mang đến những nét văn hóa của dân tộc từ ngàn đời nay: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Miếng trầu quả cau không chỉ xuất hiện trong thơ Xuân Hương mà còn xuất hiện từ trước đó và sau này. Tại sao thi sĩ lại chọn hình ảnh miếng trầu để nói lên những cảm xúc tình cảm trong mình. Miếng trầu ấy là miếng trầu trong ca dao xưa vẫn văng vẳng qua những lời ru của bà của mẹ, và đến sau này miếng trầu ấy là miếng trầu có bốn nghìn năm tuổi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, la miếng trầu hàng hóa của người mẹ già trong thơ Hoàng Cầm nữa. Không những thế hình ảnh miếng trầu gắn với người quan họ Bắc Ninh. Đó chính là truyền thống văn hóa dân tộc ta và đã được thi sĩ mang vào thơ để nói cho mình. Miếng trầu ấy không thể thiếu trong những đám cưới của miền bắc nước ta. Xuân Hương nói rằng đó chính là miếng trầu hôi, quả cau nho nhỏ với miếng trầu hôi. Nói như vậy không phải là trầu cau có vị hôi mà là vị của trầu không thường rất hăng và cay cho nên thi sĩ đã khéo sử dụng tính từ “hôi” cho nó. Từ “này của Xuân Hương” như khẳng đinh hay mời mọc người quân tử đến ăn miếng trầu ấy. đó là miếng trầu của Xuân Hương chứ không phải của ai hết. Miếng trầu ấy vẫn tươi xanh, hãy còn ngon ngọt vì mới quẹt vôi. Qua đó nhà thơ muốn thể hiện tấm lòng mình thắm đượm như miếng trầu kia và sự tươi tắn giống như sự tươi tắn của miếng trầu ấy. Đó là một sự tự khẳng định phẩm chất của chính bản thân Hồ Xuân Hương. Tiếp đến hai câu thơ cuối thì Xuân Hương lại muốn nói lên những tâm tình thật sự đồng thời nhắc nhở những bậc quân tử về chuyện tình yêu nam nữ và duyên phận trên chốn hồng trần này: “Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi” Sự tươi tắn và đẹp đẽ trong tâm hồn Xuân Hương giống như những miếng trầu cau kia vậy. Một vật tuy nhỏ cũng giống như số phận nhỏ của Hồ Xuân Hương khiến cho bà quyết định nói đến những tâm sự và ý nghĩ của cá nhân mình đối với những người quân tử có ý định tìm đến tình duyên với bà hay cũng như với những người phụ nữ khác. Nếu là duyên kiếp thì bén lại với nhau chứ đừng nên bạc bẽo như vôi, xanh như lá. Nhà thơ sử dụng từ “bén “ thật tinh tế và hay. Thi sĩ nói tình yêu kia phát triển đến với nhau như những cây cau sợi trầu kia bén rễ quấn quýt lấy nhau vậy. Người quân tử kia hãy biết trân trọng những tâm hồn của người phụ nữ như Xuân Hương vả chăng nếu đã thành duyên thành kiếp thì đừng bạc bẽo như màu của vôi và đừng xanh như màu của lá. Qua đây ta thấy bài thơ chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ nhưng thật sự thì ta đã cảm nhận được hết những tâm trạng và nỗi lòng mà Xuân Hương muốn gửi gắm. Tất cả những dòng thơ những hình ảnh kia đều nhằm thay Xuân Hương nói những cảm xúc ấy. Và ta bỗng thấy trân trọng người phụ nữ này. Phân tích một tác phẩm thơ Mời trầu - mẫu 3 Nhiều người làm thơ về tình yêu. Nhiều nhà thơ được mệnh danh là “ thi sĩ của tình yêu”. Trong thơ của mình, họ thể hiện những cảm xúc, suy tư, những yêu thương, trăn trở…Những bài thơ tình là những cung bậc, những nỗi niềm riêng, khao khát hạnh phúc, yêu thương giận hờn…Những nhà thơ nữ lại có một cách thể hiện nội tâm hết sức nhạy cảm, tinh tế. Bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương là niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của một trái tim nồng nàn, đằm thắm, giàu cá tính – được thể hiện một cách chân tình. Đi qua cuộc đời của Hồ Xuân Hương có khá nhiều người bạn tình nhưng cuối cùng vẫn không được bền lâu. Tình cảm xao xuyến của thời tuổi trẻ cùng những lời giỡn cợt của Chiêu Hổ, thoắt lại là cái kiếp làm lẽ tủi nhục trăm bề trong sự lạnh lẽo của Tổng Cóc. Bạn văn chương như ông phủ Vĩnh Tường cũng chỉ là mộng ảo ngắn ngủi. Trái tim yêu thương của Xuân Hương tưởng chừng tan nát vì sự trớ trêu đến thế. Bao đêm trường ôm hận một mình, xót xa tự an ủi Thân này đâu đã chịu già tom Xuân Hương đã cảm thấy chua chat, cay đắng cho mình cho những cuộc tình. Bài thơ Mời trầu có lẽ ra đời trong giai đoạn nữ sĩ dựng quán nước kén bạn trăm năm. Thực ra, Xuân Hương đã ý thức được mình, đến độ chín chắn, cần một bạn chi kỷ hơn là những yêu đương nồng cháy thời tuổi trẻ. Bởi lẽ, nữ sĩ đã cảm nhận được sự lạnh giá cô đơn, rất cần một sự động viên an ủi, những lời nói tâm tình. Rất trung thực, khiêm tốn và chân thành, Hồ Xuân Hương đã nói về mình hết sức thẳng thắn. Quả cau nho nhỏ, miếnng trầu hôi. Chỉ bình thường thế thôi, như bao điều đơn giản khác. Nhưng trong cái đơn giản ấy ẩn chứa một điều gì sâu xa. Đừng vội lầm tưởng ý xuân của Xuân Hương. Vâng, cái nho nhỏ, cái hôi ấy chỉ là cái vẻ bề ngoài thôi. Xuân Hương đã lấy cái hồn dân tộc Việt Nam thanh cao cau trầu keo sơn gắn bó mà nói về tình yêu của mình, độc đáo và thi vị. Nhưng, độc đáo tất có phong cách riêng – phong cách Hồ Xuân Hương. Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Một cách thể hiện cái tôi của mình rất chuẩn nhị,...

1 tháng 3

Bài làm

Sau khi học xong bài thơ “Nắng mới” của tác giả Lưu Trọng Lư, ngữ văn 8 tập một, bài thơ nói về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm của tác giả đối với mẹ, hình ảnh bức tranh quê hương hiện lên. Những kí ức về quê hương có cả nỗi buồn, sự lạc lõng, để lại cho em ấn tượng sâu sắc   , yêu thích.

Nhà văn viết lên những khung cảnh tĩnh lặng của quê hương, những cảm xúc tinh tế , khổ  “Mỗi lần nắng mới… những ngày không”. Từng gợi nhớ là dấu hiệu thời gian, kí ức. Nắng mới là nguồn ánh sáng tự nhiên nơi cảnh quê, cái mát mẻ nơi ấm áp, tươi sáng. Nhưng cũng có nỗi buồn, sự lạc lõng. Khổ “Tôi nhớ mẹ tôi… nước giậu phơi" , hình ảnh người mẹ hiện lên nhẹ nhàng, phơi quần áo, cùng với chiếc áo đỏ. Mẹ đi mẹ không xuất hiện trực tiếp mà chỉ là trong kí ức của tác giả, mẹ vẫn là nguồn cảm hứng ấm áp và dịu dàng. Kí ức người mẹ trở nên đặc biệt, quý giá, cũng có niềm thương nhớ về mẹ mà mẹ đã không còn, mà chỉ là kỉ niệm. Kí ức chỉ còn lại kí ức mãi trong tâm hồn của đứa trẻ lên mười, những từ ngữ được sử dụng tinh tế, nhẹ nhàng, buồn bã cùng ấm áp và yên bình. Khổ  “Hình dáng mẹ tôi… nước giậu thưa", những kí ức, kỉ niệm, hình ảnh về mẹ của tác giả chưa phai mờ mà vẫn luôn trong tâm trí, linh hồn nhớ mãi, “nụ cười đen nhánh sau tay áo”. Đây là nụ cười rạng rỡ và ấm áp, là một nụ cười nhẹ nhàng, thanh thoát, như một ánh sáng nhỏ nhưng chợt thoáng qua. Hình ảnh “nụ cười đen nhánh” không chỉ là kết thúc của bài mà còn là một điểm nhấn cuối cùng, để lại cho tác giả Lưu Trọng Lư  nụ cười của mẹ thể hiện nhẹ nhàng, lạc quan và vui vẻ, qua đó cho chúng ta biết được rằng tình yêu của mẹ vô cùng cao cả, sâu sắc, họ luôn là người chịu thiệt thòi, hi sinh cho con, không nề hà gian khó, hình ảnh mẹ trong tác giả không bị xóa mờ mà hiện hữu trong từng khoảnh khắc, từng góc nhỏ của cuộc sống. Mẹ luôn chăm lo cho tổ ấm, yêu thương con cái... Nghệ thuật của thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, mang đặc điểm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm cho bài thơ gần gũi, thân thuộc, khiến chúng ta người đọc như đắm chìm vào khung cảnh ấy, tác giả miêu tả về mẹ nhẹ nhàng, ấm áp, tạo nên một tác phẩm không chỉ đẹp về hình thức mà còn sâu sắc về nghệ thuật tâm hồn.

Qua bài thơ “Nắng mới” của nhà thơ Lưu Trọng Lư mang lại cho em ấn tượng và yêu thích với nhiều cảm xúc đặc biệt. Cho em cảm nhận được nỗi nhớ và tình yêu của mẹ sâu sắc, vô bờ bến. Qua đó, cho chúng ta biết cần trân trọng những khoảnh khắc, kỉ niệm, thời gian khi có mẹ, yêu thương, quan tâm, chia sẻ và phụ giúp mẹ lúc họ còn sống đừng để  nuối tiếc.

(1.0 điểm) Từ nhân vật Tư trong văn bản, em suy nghĩ gì về tác động của hoàn cảnh sống đối với con người? Bài đọc: ĐỨA CON NGƯỜI VỢ LẼ      Tư nằm dán mình trên giường. Đầu anh nặng trĩu trên chiếc gối bông cáu ghét. Mắt nhìn trân trân lên sàn nhà; lúc ấy anh không nghĩ ngợi gì. Hai tay nặng nề rời rạc, thỉnh thoảng lại cố gượng đập nhẹ xuống phản, để xua đuổi...
Đọc tiếp

(1.0 điểm) Từ nhân vật Tư trong văn bản, em suy nghĩ gì về tác động của hoàn cảnh sống đối với con người?

Bài đọc:

ĐỨA CON NGƯỜI VỢ LẼ

     Tư nằm dán mình trên giường. Đầu anh nặng trĩu trên chiếc gối bông cáu ghét. Mắt nhìn trân trân lên sàn nhà; lúc ấy anh không nghĩ ngợi gì. Hai tay nặng nề rời rạc, thỉnh thoảng lại cố gượng đập nhẹ xuống phản, để xua đuổi những nỗi tê tê buồn buồn chạy trong các ống xương. Anh xoay mình lại cho đỡ mỏi. Mắt se sẽ nhắm lại, và lắng nghe những cảm giác chạy trong người. Ruột anh xót như cào. Bụng hóp lại. Mặt phờ phạc. Anh thấy cáu kỉnh vẩn vơ, những muốn càu nhàu mấy tiếng. Tư đói quá, đói lả người đi. Đã hai hôm nay rồi, anh chưa có hột cơm nào vào trong bụng. [...]

      Tư là con vợ ba. Thầy mẹ anh lấy nhau không phải là đôi bên bác mẹ gả bán, không phải nhà hiếm hoi, không phải tình yêu. Cha anh hơn mẹ anh đến ba mươi tuổi. Mẹ già anh lấy mẹ anh về để có người cáng đáng việc đồng. Vốn là người quê mùa, nên việc đồng mẹ anh rất thạo. Mẹ già anh rất chiều quý, họ chiều vậy chẳng qua là muốn chạy việc. Thầy anh mất năm trước, mẹ già anh mất năm sau. Nhà không làm ruộng nữa. Các anh Tư đều đi chợ trên, Tư phải thôi học ở nhà. Hai mẹ con lâm vào cảnh thất nghiệp. Ruộng không có mà làm; đi buôn – buôn xùng buôn xằng thôi cũng không có vốn. Anh em họ mạc thì thờ ơ lạnh nhạt, họ coi hình như không có mẹ con Tư trong gia đình nữa. Vả lại dẫu rằng nghèo, nhưng mẹ anh rất khái, không muốn chịu tiếng nhờ ai. Bà đi khâu thuê vá mướn kiếm gạo về nuôi con. Nhiều khi không có việc làm, mẹ con đành chịu đói. Những hôm ấy, bà thường trốn tránh, bà rất sợ phải nhìn cảnh mẹ con đói khát. Muốn cho mẹ cất gánh nặng, đã nhiều lần Tư xin làm phó nhỏ mấy hiệu thợ may và sơn guốc, nhưng họ đều từ chối vì dạo này hàng ế. Họ hứa đến tháng tám này sẽ gọi anh làm. Bất đắc dĩ anh phải đóng vai ăn bám.

     Tư nghĩ liên miên: Anh thấy một niềm oán trách ngấm ngầm trong thâm tâm. Anh oán cha anh, người đã sinh ra anh mà săn sóc không chu đáo. Anh oán một cái gì không tên đã đẩy anh vào cảnh khốn quẫn. Tư nhếch một nụ cười thảm hại. Một ý tưởng chua chát hiện ra trong trí: Là một thằng con vợ lẽ, không phải vì hương khói, chỉ là thằng thừa trong gia đình. Tư thấy bứt rứt khó chịu. Những ý tưởng hỗn loạn ở trong óc. Anh thong thả nằm xuống. Mắt nhắm lại, muốn ngủ đi, để những tư tưởng hắc ám khỏi đến quấy nhiễu. Nhưng không sao ngủ được với cái dạ dày. [...]
      Trên nhà, ông Cả vùng thức dậy. Ông vươn vai, bẻ khục, vặn mình kêu răng rắc. Ông vừa ngáp vừa gọi:

     - Tư ơi?

     - Dạ.

     - Thoáng cái là lỉnh. Thoáng cái là lỉnh thôi.

     Tư gượng gạo đứng lên, lệt xệt bước lên trên nhà. Ông Cả vứt một hào ra bàn, dịu giọng:

     - Đi mua một hào phở?

     - Vâng.

     - Đem bát mà đi.

     - Vâng.

     Tư thất thểu lê bước. Tay bưng có bát phở mà mỏi rã rời. Khói bốc lên nghi ngút. Anh thèm quá. Trông những bánh tráng trắng phau mềm dẻo, ẩn hiện trong nước dùng váng sao, những miếng thịt bò mỏng tang xếp gọn ghẽ, những hành, mùi, hồ tiêu rắc lên trên, thơm ngào ngạt phả mãi vào mũi anh. Con tỳ, con vị như thức dậy, bụng sôi sùng sục, vần lên chuyển xuống. Nước bọt cứ ứa mãi ra, anh ao ước được một bát.

     Tư đặt bát phở lên bàn cho anh, rồi lặng lẽ ra ngoài thềm. Ông Cả vừa ăn vừa cắm cáu gắt:

     - Gớm! Phở! Ăn rẳng như đấm vào họng!

     Tư se sẽ nuốt nước bọt. Thật là mỉa mai. Ăn xong, buông đũa buông bát, ông Cả vội vã cắp cặp ra đi. Ông còn cay mấy hội bạch cược hôm qua.

     Ông Cả đi rồi. Tư cũng chẳng buồn ra đóng cửa. Anh định đem bát ra chậu ngâm, nhưng lại thôi, là vì anh thấy còn đến lưng bát nước dùng ăn thừa. Lúc khác ai còn giữ lại làm gì? Nhưng lúc này… Tư đưa bát phở lên mũi ngửi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên. Anh nếm một ngụm chèm chẹp miệng. Trời ơi sao mà ngon thế! Anh ước ao giá mà được một bát cơm nguội trộn ăn thì phải biết! Nghĩ đến cơm nguội, anh lại nhớ đến một hôm, cũng đói như hôm nay. Thân, bạn chí thiết của anh, đến chơi nèo mãi anh về nhà. Rồi mời anh:

     - Nhà đi vắng cả, chỗ anh em với nhau, tôi nói thật: Anh ở đây ăn cơm nguội - cơm nguội thôi - với tôi cho vui nhé.

     Cái bữa cơm nguội với cà ấy sao mà ngon thế! Tư còn nhớ mãi, có lẽ suốt đời: Tư so sánh ông Cả với Thân. Nỗi căm hờn nổi dậy trong lòng. Hai mắt anh quắc lên một cách dữ dội. Anh nghiến răng ném mạnh "bát phở" ra sân. Tiếng bát vỡ làm cho lòng anh dịu. Anh bật cười thấy mình vô lý và thấy tiêng tiếc. Tư thấy mỏi rã rời. Toàn thân run lên. Anh nằm lả xuống.

     Chiều tàn đã lâu. Cảnh vật thẫm lại. Gió khua lá lao xao. Những lùm cây đen thẫm lắc lư trên nền trời sẫm đục. Thân, một tay ôm gói bọc giấy báo, một tay đẩy mạnh cánh cửa. Một tiếng rít rền trong yên lặng. Anh xăm xăm bước, nhớn nhác nhìn vào mấy gian nhà tối om. Miệng lẩm bẩm:

      - Quái sao nhà cửa để tối thế này!

     Thân im bặt vì biết mình nhỡ lời. Anh thong thả bước lên nhà. Đặt gói lên bàn, Tư vẫn nằm rũ trên tràng kỷ không biết bạn đến. Thân lay bạn:

     - Tư! Tư!

     Tư thều thào:

     - Thân đấy à?

     - Ừ, Tư ngủ à?

     Giọng Tư nhỏ đầy mệt nhọc:

     - Không... Thân vào tôi cũng biết, nhưng mệt... quá...

     Thân ái ngại nhìn bạn trong bóng tối. Đoạn anh nói rất nhẹ nhàng:

     - Tôi đem cho Tư ít hạt mít đây. Tư ăn đi.

     Tư cảm động quá. Nước mắt chảy ròng ròng, anh nghẹn ngào:

     - Thân tốt với tôi quá.

     - Ồ! Anh.

     Đôi bạn ngồi âm thầm trong bóng tối. Tiếng Tư nhai hạt mít trong im lặng. Tư chợt nghĩ đến mẹ, anh ngóc đầu bảo bạn:

     - Thân cất đi cho tôi một nửa nhé.

     Anh định tâm để dành cho mẹ, Thân ôn tồn:

     - Ừ, còn nhiều anh ạ.

     Tư lại nghĩ đến mình, đến tương lai. Một tương lai mờ mịt của đứa con vợ lẽ. Anh thở dài não ruột.

     - Gì thế anh?

     - Không.

     Hai người im lặng.

(Kim Lân, Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33, 

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 475 - 479)​

22
27 tháng 2

Từ nhân vật Tư trong truyện ngắn "Đứa con người vợ lẽ" (tác giả Kim Lân), ta thấy hoàn cảnh sống khắc nghiệt (con vợ lẽ, thiếu thốn, bị rẻ rúng) có tác động mạnh mẽ nhưng không tuyệt đối. Hoàn cảnh tạo ra sự tự ti, mặc cảm và nỗi đau, nhưng cũng là động lực để nhân vật rèn luyện lòng tự trọng, sự nhẫn nhịn và khát vọng sống mãnh liệt Tư lớn lên trong gia đình éo le, bị coi thường, thiếu thốn cả vật chất lẫn tình thương. Điều này khiến nhân vật không tránh khỏi sự rụt rè, tủi thân. Mặc dù hoàn cảnh tàn bạo, Tư vẫn giữ được phẩm chất cao đẹp. Sự bất công thúc đẩy Tư nỗ lực thay đổi số phận và khẳng định bản thân.

Hoàn cảnh sống là yếu tố khách quan tác động đến tâm lý, hành vi nhưng không quyết định hoàn toàn bản chất con người. Nhân vật Tư chứng minh rằng con người có thể vượt lên nghịch cảnh nhờ lòng tự trọng và ý chí kiên cường.


1 tháng 3

Qua câu chuyện " Đ ứa con người vợ lẽ" , của tác giả Kim Lân cho thấy hoàn cảnh sống khắc nghiệt con của vợ lẽ , thiếu thốn . Từ nhân vật Tư trong hoàn cảnh mà cảnh nỗi đau , tự ti , sự nhẫn nhịn và khát vọng sống mãnh liệt trong gia đình coi thường ,  thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần , tình thương . Làm cho nhân vật rụt rè , tự ti , hoàn cảnh sống có tác động đến tâm lý con người , mà còn là thử thách  , bộc lộ bản chất , khả năng vượt khó . Một số người có thể bị hoàn cảnh nhấn chìm , hưng cũng  có những người luôn cố gắng vươn lên , biến hoàn cảnh này động lực để có cuộc sống tốt hơn . Điều quan trọng là con người cần có ý chí , nghị lực và sự lạc quan đối mặt với thử thách , không để hoàn cảnh chi phối hoàn toàn cuộc sống của mình.