K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Trả lời:

Ngày 27 tháng 1 năm 1973

~HT~

Kick cho mik nhoa:33

21 tháng 7 2021

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 nha

RÙI KB VỚI MIK LUN IKKK

21 tháng 7 2021

vào thời nhà hồ , nước ta có tên là j  Đại Ngu

từ năm 1802 -1858 nhà nguyễn trải qua các đời vua nào  Gia Long , Minh Mạng , Tự Long

kể tên 2 tác giả tiêu biểu  nhất nhà hậu lê Nguyễn Trãi , Lê thánh tông

bản đồ hồng đức và bộ luật hồng đức ra đời vào thời vua nào  

Bộ luật Hồng Đức là bộ luật ra đời dưới thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497), nên gọi là Bộ luật Hồng Đức và còn có tên gọi khác là Quốc triều hình luật.

21 tháng 7 2021

mình trả lời đung mà

người việt phải ns tiếng việt nha bn

20 tháng 7 2021

bạn dịch ra dc ko mik ko biết tiếng hàn

  • Thế tổ Minh Khang - Thái vương Trịnh Kiểm (1545-1570):
  • Thành tổ Triết Vương - Trịnh Tùng (1570-1623):
  • Văn tổ Nghị Vương - Trịnh Tráng (1623-1652):
  • Hoằng tổ Dương Vương -Trịnh Tạc (1653-1682):
  • Chiêu tổ Khang Vương - Trịnh Căn (1682-1709):
  • Hy tổ Nhân Vương Trịnh Cương (1709-1729):
  • Thế tổ Minh Khang - Thái vương Trịnh Kiểm (1545-1570):
  • Thành tổ Triết Vương - Trịnh Tùng (1570-1623):
  • Văn tổ Nghị Vương - Trịnh Tráng (1623-1652):
  • Hoằng tổ Dương Vương -Trịnh Tạc (1653-1682):
  • Chiêu tổ Khang Vương - Trịnh Căn (1682-1709):
  • Hy tổ Nhân Vương Trịnh Cương (1709-1729):
  • Gia Long hoàng đế (1802 – 1819) ...
  • Minh Mệnh hoàng đế (1820 – 1840) ...
  • Thiệu Trị hoàng đế (1841 – 1847) ...
  • Tự Đức hoàng đế (1848 – 1883) ...
  • Dục Đức (làm vua ba ngày) ...
  • Hiệp Hòa (6.1883-11.1883) ...
  • Kiến Phúc (12.1883-8.1884) ...
  • Hàm Nghi (8.1884-8.1885)
20 tháng 7 2021

1. Gia Long hoàng đế (1802 – 1819)

Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định năm Mậu Thân (1788) tuy đã xưng vương mà chưa đặt niên hiệu riêng, vẫn dùng niên hiệu vua Lê. Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802) lấy lại được toàn bộ đất đai cũ của các chúa Nguyễn, Nguyễn Vương Phúc ánh cho lập đàn tế cáo trời đất, thiết triều tại Phú Xuân, đặt niên hiệu Gia Long năm thứ nhất. Lê Quang Định được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên nước là Nam Việt sẽ lẫn với nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt, Tây Việt) nên đổi là Việt Nam. Thế là năm Giáp Tý (1804) án sát Quảng Tây Tề Bồ Sâm được vua Thanh phái sang phong vương cho Gia Long và nước ta có tên là Việt Nam. Năm Bính Dần (1806), Gia Long chính thức làm lễ xưng đế ở điện Thái Hòa và từ đây qui định hàng tháng cứ ngày rằm và mồng một thì thiết đại triều, các ngày 5, 10, 20 và 25 thì thiết tiểu triều.

Là vua sáng nghiệp của triều Nguyễn, Gia Long phải quyết định rất nhiều việc đặt nền móng cho vương triều có một địa bàn thống trị rộng lớn từ Bắc chí Nam. Để tránh lộng quyền, ngay từ đầu nhà vua bãi bỏ chức vụ Tể tướng. ở triều đình chỉ đặt ra 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do các Thượng thư đứng đầu và Tả hữu tham tri, Tả hữu thị lang giúp việc. ở trong cung cũng vậy, nhà vua không lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng phi và các cung tần.

Quản lý một đất nước thống nhất kéo dài từ Lạng Sơn đến Hà Tiên đối với Gia Long lúc đó là hoàn toàn mới mẻ. Gia Long cho tổ chức lại các đơn vị hành chính từ trung ương xuống. Cả nước chia làm 23 trấn, 4 doanh. Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn; ở quãng giữa là các trấn độc lập: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận; đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Đức doanh (tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam doanh. Cai quản Bắc thành và Gia Định thành có Tổng trấn và Phó tổng trấn. Mỗi trấn có Lưu trấn hay Trấn thư, cai bạ và ký lục. Trấn chia ra phủ, huyện, châu có tri phủ, tri huyện, tri châu đứng đầu. Đây là lần đầu trên một lãnh thổ thống nhất, các tổ chức hành chính được sắp đặt chính quy như vậy.

Quản lý đinh khẩu, ruộng đất và thế khóa áp dụng theo mẫu hình thời Lê sơ nhưng được thực hiện trên quy mô lớn hơn, có quy củ hơn. Đáng chú ý là việc làm sổ ruộng (địa bạ) dưới thời Gia Long được tiến hành nhất loạt, có quy mô toàn quốc. Các làng xã phải lập sổ địa bạ ghi rõ từng loại ruộng đất, diện tích, vị trí, công, tư… chép thành 3 bản nộp lên bộ Hộ. Bộ đóng dấu kiềm, lưu 1 quyển, tỉnh giữ 1, xã giữ 1. Năm năm làm lại địa bạ một lần. Đến nay còn lưu giữ khá đủ toàn bộ địa ba Gia Long của các trấn, doanh cả nước. Trên cơ sở điều tra kê cứu địa chí các địa phương. Cả nước gồm 4 địa hình sông núi, cầu quán, chợ búa, phong tục, thổ sản… năm Bính Dần (1806), vua Gia Long sai biên soạn và ban hành bộ “Nhất thống địa dư chí” gồm 10 quyển.

Năm ất Hợi (1815) bộ “Quốc triều hình luật” gồm 22 quyển với 398 điều luật đã được ban hành.

Công cuộc khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long được tiếp tục. Nhà nước đã bỏ tiền đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho việc khẩn hoang. Những công trình lớn như sông Vĩnh Tế huy động sức người, sức của cả dânViệt và Chân Lạp dọc hai bờ có sông chạy qua. Việc trị thủy vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng được Gia Long chú ý ngay từ đầu. Năm Giáp Tý (1804), trên đường ra Bắc làm lễ thụ phong của nhà Thanh, Gia Long cũng nêu vấn đề đắp đê để sĩ phu Bắc Hà bàn luận. Mặc dù chưa nhất trí, nhà vua vẫn quyết định đắp đê. Thời Gia Long khối lượng đê, kè, cống được đắp nhiều nhất so với các triều trước.

Đối ngoại, triều Nguyễn một mặt tranh thủ sự ủng hộ và giữ lễ thần phục nhà Thanh, mặc khác lại tạo quan hệ đàn anh đối với Chân Lạp và Ai Lao. Đối với các nước phương Tây, từ chỗ dựa vào lực lượng của họ để giành thắng lợi chuyển sang lạnh nhạt. Năm Quí Hợi (1803), nước Anh xin mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn (Quảng Nam) bị nhà vua từ chối. Sĩ quan Pháp đã từng giúp vua được trọng đãi, chầu không phải lạy… Còn yêu sách khác của chính phủ Pháp đều bị khước từ. Năm Đinh Sửu (1817) tàu buôn Pháp tên là “La paix” (hòa bình) chở hàng sang bán nhưng là hàng không hợp thị hiếu người Việt Nam, phải trở về, miễn thuế. Đến khi tàu Cybèle vào Đà Nẵng đưa thư Hoàng đế (1787) (Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn ánh, có khoản Nguyễn ánh nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn). Gia Long kiên quyết bác bỏ viện lý rằng: Điều ước tuy đã ký nhưng thuở đó phía Pháp không thực hiện thì nay không buôn phương Tây song cũng không mời chào, khuyến khích hoặc có một chính sách tỏ ra chủ động, tích cực hơn.

Gia Long có hai vợ chính: thứ nhất là Thế tổ Thừa Thiên Cao hoàng hậu họ Tống, người huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con gái Quí Quốc công Tống Phúc Khuông. Nguyễn Phúc ánh cưới bà làm vợ năm 18 tuổi, người cung kính, cẩn thận, có phép tắc lễ độ. Bà sinh được hai hoàng tử, con cả là Chiêu chết sớm; con thứ là Hoàng tử Cảnh từng theo Bá Đa Lộc làm con tin sang cầu viện Pháp rồi về nước được lập làm Thái tử, sau bị bệnh đậu mùa mất năm Tân Dậu (1801). Bà thứ hai là Thuận thiên Cao hoàng hậu họ Trần, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, con gái Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt, được tiến vào hầu Nguyễn ánh từ năm Giáp Ngọ (1774), năm Kỷ Dậu (1789) được tấn phong là Tả cung tần, hiệu Nhị phi. Bà sinh được 4 hoàng tử: Nguyễn Phúc Đởm (sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mệnh); Nguyễn Phúc Đài (Kiến An vương); Nguyễn Phúc Hiệu (mất sớm), Nguyễn Phúc Thấn (Thiệu Hòa quận vương). Ngoài 6 người con với hai vợ chính đã kể trên Gia Long còn 7 người con trai với các bà khác, tổng cộng 13 hoàng tử 18 công chúa.

2. Minh Mệnh hoàng đế (1820 – 1840)

Vua húy là Hiệu, lại có tên là Đởm, sinh ngày 23 tháng giêng năm Tân Hợi (1789), là con thứ tư của vua Gia Long. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng thái tử Đởm lên ngôi vua, đặc quốc hiệu là Đại Nam, niên hiệu là Minh Mệnh, 30 tuổi.

Minh Mệnh có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán. Từ khi lên ngôi, ông ra coi chầu rất sớm, xem xét mọi việc trong triều và tự tay “châu phê” rồi mới cho thi hành – Thuật ngữ “châu phê” bắt đầu có từ đây. Minh Mệnh muốn quan lại các cấp phải có đức độ và năng lực, nên khi mới lên ngôi đã đặt ra lệ mà về sau khó ai thực hiện nổi. Quan lại ở Thành, Dinh, Trấn, văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ uý… ai được thăng điện; bổ nhiệm… đều cho đến kinh gặp vua trước khi nhậm chức để nhà vua hỏi han công việc, kiểm tra năng lực và khuyên bảo…

Minh Mệnh là người ham hiểu biết, thường khi tan chầu, nhà vua cho đòi một vài đại thần tới các việc kinh lý, hỏi sự tích đời vua, danh nhân và phong tục các nước xa lạ. Nhiều đêm vua thức xem chương, sớ đến canh hai canh ba mới nghỉ. Vua thường nói với triều thần:

– Lòng người, ai chả muốn yên, hay gì sinh sự để thay đổi luôn, nhưng lúc trẻ khỏe mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu, mỏi mệt hỏi mong làm gì được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.

Là người tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mệnh rất quan tâm đến học hành khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Dựng Quốc Tử giám, đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp năm Tân Tị (1821), mở lại thi Hội thi Đình năm Nhâm Ngọ (1822). Trước đó, 6 năm một khoa thi nay rút xuống 3 năm: các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, thi Hương; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội thi Đỉnh. Vua còn cho đặt đốc học ở Gia Định thành, dùng thầy giáo người Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ làm phó đốc học để khuyến khích việc học tập ở Nam bộ. Minh mệnh thường nói:

– Người Gia Định vốn tính trung nghĩa nhưng ít học, do đó hay tức khí với nhau. Nếu được bậc đại nho túc học làm thầy dạy bảo cho điển lễ nhượng nhì dễ hóa làm thiện mà thành tài sẽ nhiều đó.

Thời đó, Gia Định chỉ có Trịnh Hoài Đức là có học, được vua rất tin dùng, cho làm Hiệp biện Đại học sĩ, làm Thượng thư bộ lại kiêm Thượng thư bộ Binh.

Minh Mệnh cho lập Quốc sử quán để biên soạn lịch sử dân tộc và các triều đại.

Trong việc dùng người, Minh Mệnh đặc biệt chú trọng đến học thức. Năm Nhâm Ngọ (1822), Lê Văn Liêm được Thự tiền quân Trần Văn Năng tiến cử làm Tri phủ Ninh Giang, bộ Lại đưa vào bệ kiến,vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học, Vua nói:

– Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu. Thế là Liêm không được bổ dụng. Nhà vua đã có lần công bố thuật dùng người rất chí lý:

– Nay dùng người không ngoài hai đường là khoa mục và tiến cử, người giỏi khoa mục không chắc đã giỏi chính sự. Nhưng cũng chưa có ai học nuôi con rồi sau mới lấy chồng. Chính sự cốt ở nuôi dân, muốn yên dân thì đừng nhiễu dân; làm quan phủ huyện không tham không nhiễu thì chính sự có khó gì đâu! Nếu không thế thì văn học dẫu nhiều há dùng làm gì?

Chế độ tiền lương cho quan lại cũng được quy định khá chi tiết, từ chánh Nhất phẩm đến tòng Cửu phẩm cách nhau chừng 18 bậc, tiền lương cũng chênh nhau khoảng 18 đến 20 lần. Ngoài ra, tri phủ, đồng tri phủ, tri huyện, tri châu còn có khoản tiền “dưỡng liêm” từ 20 đến 50 quan tùy theo cương vị khác nhau, nhà vua nghiêm trị bọn quan lại tham nhũng. Có viên quan không dùng thước để gạt thăng đong thóc thuế, thường dùng tay để dễ lạm dụng, biết chuyện nhà vua lập tức sai chặt tay tên quan lại đó.

Minh Mệnh rất quan tâm đến võ bị, đặc biệt là thủy quân. Ngay những năm đầu lên ngôi, vua đã sai người tìm hiểu cách đóng tàu của châu Âu và quyết tâm làm cho người Việt tự đóng được tàu theo kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương, các quy chế luyện tập thủy quân, khảo sát vị trí bờ biển, hải cảng cũng được chú ý. Hàng năm, nhà vua thường phái nhiều tàu vượt biển sang các nước và các cảng lớn vùng biển Đông như Jakarta, Singapore, Malaysia… để bán hàng, mua hàng, luyện tập đi biển và xem xét tình hình các nước. Minh Mệnh đã cho hoàn chỉnh hệ thống đê đi...

Trả lời:

Quân nhà Hồ có một loại pháo gọi là pháo thần cơ do Hồ Quý Ly chế ra.

HỌC TỐT!

Đó là Súng thần công bắn đạn là các viên đá tròn và to

Do ông Hồ Nguyên Trừng (137-1446)

Love hok lịch sử

Trước thời nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, thì vũ khí đều đơn sơ hết, toàn là gươm với kiếm với lưỡi mác. Chỉ có hồi triều Nguyễn khoảng năm 1860 - 1870 thì có loại súng thần công, nhưng quan ta phải lạy 4 lần rồi mới bắn được. Từ thời bị Pháp đô hộ đến năm 1945, thì thực chất không có vũ khí nào mạnh hết, chỉ qua là nhân dân tập hợp lại để lật đổ chính quyền trong Cách mạng mùa thu. Năm 1945 - 1954, thì toàn dân ta phải kháng chiến chống Pháp lần thứ 2, lần này vũ khí mạnh thường là súng do ta chế tạo ( không nhớ ). Năm 1954 - 1975, miền Nam Việt Nam phải kháng chiến chống Mĩ. Năm 1972, Mĩ quay sang đánh miền Bắc, hòng chiếm đoạt nước ta. Tuy nhiên hồi ấy là bên Bắc có một loại súng đặc biệt để bắn rơi máy bay Mĩ ( không biết tên ). Năm 1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, miền Nam thời ấy có một loại vũ khí là xe tăng. Chỉ nhớ 2 trong 5 chiếc xe tăng ấy có đánh số là 843 với 390 thôi.

Còn mấy cái vũ khí kia thì không rõ nữa hay sao ấy

20 tháng 7 2021

v

Nga vẫn đặt ra những thách thức truyền thống trong cuộc cạnh tranh sức mạnh trên đất liền đối với Mỹ, với việc thành lập các lực lượng cơ giới hóa có thể đe dọa Mỹ tại vùng Bal, cùng nhiều khí tài hiện đại như tên lửa đạn đạo tầm xa, pháo binh và tên lửa đất đối không.

Binh sĩ Mỹ sử dụng súng phóng lựu. Ảnh: US Army.

Trong khi đó, một cuộc xung đột giả định giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tập trung vào việc kiểm soát vùng biển và không phận ở Thái Bình Dương. Để duy trì thế cân bằng quyền lực, quân đội Mỹ cần phải triển khai tên lửa tầm xa có khả năng chống hạm và máy bay trực thăng đến các hòn đảo xa xôi, cũng như lãnh thổ của các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí trên boong các con tàu của Hải quân.

Hầu hết hệ thống tác chiến trên đất liền chính của lục quân Mỹ đều được đưa vào hoạt động từ những năm 1980 hoặc sớm hơn, vì thế có tuổi đời khá cao. Mỹ đã thực hiện 5 chương trình đầy tham vọng nhằm thay thế các loại xe bọc thép, pháo và trực thăng cũ với tổng kinh phí khoảng 30 tỷ USD nhưng đều thất bại.

Vào năm 2017, lục quân Mỹ đã thành lập 8 nhóm đa chức năng do chỉ huy của các lữ đoàn dẫn đầu, có nhiệm vụ nhanh chóng phát triển một thế hệ vũ khí mới, với kinh phí phù hợp.

Đạn pháo chính xác tầm xa

Lục quân Mỹ nổi tiếng với việc sử dụng lực lượng pháo binh tinh nhuệ yểm trợ nhanh chóng và chính xác cho các cuộc tấn công trong suốt Chiến tranh thế giới thứ 2. Tuy nhiên, trong những cuộc xung đột thời gian gần đây, Mỹ ngày càng phụ thuộc vào các cuộc không kích sử dụng vũ khí tấn công chính xác thay vì các  lực lượng pháo binh.

Việc yểm trợ trên không sẽ không thể thực hiện được nếu quân đội đối phương sở hữu các hệ thống phòng không đáng gờm. Trong trường hợp này, cần phải tiến hành các cuộc tấn công bằng đạn pháo và tên lửa tầm xa để phá hủy hệ thống phòng không, tạo điều kiện cho việc yểm trợ hỏa lực từ trên không.

Do vậy ưu tiên hàng đầu của lục quân Mỹ là “hỏa lực chính xác tầm xa”. Đã có khoảng 6 dự án tìm kiếm các loại vũ khí có thể tiến hành những cuộc tấn công chính xác từ đất liền nhằm vào mục tiêu cách hàng chục, thậm chí hàng trăm km.

Ở giai đoạn đầu tiên, Lục quân Mỹ tìm cách nâng cấp pháo tự hành M109 Paladin ra đời từ những năm 1960, trong khuôn khổ chương trình Pháo binh tăng tầm (Extended Range Cannon Artillery - ERCA), với thiết kế nòng dài giúp gia tăng phạm vi tấn công lên đến gần 70km.

Các vũ khí “xương sống” khác của lực lượng pháo binh, chẳng hạn như hệ thống pháo phản lực phóng loạt M270 và M142 sẽ được tích hợp tên lửa tầm xa hơn, giúp gia tăng phạm vi hoạt động lên đến gần 150km.

Sau khi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) bị hủy bỏ, lục quân Mỹ đã đẩy mạnh việc phát triển 2 loại vũ khí tầm xa tiên tiến gồm tên lửa siêu thanh có tầm bắn hơn 2.400 km, rất khó bị đánh chặn và sở hữu năng lực chống hạm ưu việt, cùng với pháo tấn công chiến lược tầm xa (Long Range Strategic Cannon), có tầm hoạt động lên đến hàng nghìn dặm. Với khẩu pháo mới, lục quân Mỹ có thể tấn công các mục tiêu như căn cứ, mạng lưới hậu cần và căn cứ không quân đối phương.

Phương tiện chiến đấu thế hệ tiếp theo

Ưu tiên thứ 2 của lục quân là thay thế xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley ngày càng lỗi thời và dễ bị tổn thương. Trước đó vào năm 2018, lục quân đã quyết định nâng cấp hệ thống truyền lực của M2 Bradley, nhưng vẫn giữ nguyên tháp pháo.

M2 Bradley đã lỗi thời và không phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại của Lục quân Mỹ. Ảnh: Military.com

Hiện, lực lượng này đang tìm kiếm Phương tiện Chiến đấu Tùy chọn khả năng điều khiển (OMFV), có thể vận hành không người lái, để thay thế cho Bradley. Mẫu "thiết giáp không người lái" này sẽ có 1 khẩu pháo tự động từ 30 đến 50mm, các tên lửa mới và hệ thống bảo vệ tích cực, có khả năng chở các đội quân lớn hơn so với M2 Bradley. Theo yêu cầu của lục quân Mỹ, hạn chót để các nhà thầu quốc phòng Mỹ nộp đề xuất OMFV là ngày 18/4/2021. Các tập đoàn sản xuất vũ khí như Raytheon/Rheinmetall Lynx, General Dynamics Griffon III and the BAE CV-90 Mark IV đang cạnh tranh để nhận được hợp đồng béo bở này.

Lục quân cũng đang lắp đặt các hệ thống phòng thủ chủ động Trophy và Iron Fist trên các mẫu xe tăng Abrams and Bradley. Hệ thống này có khả năng phát hiện các tên lửa đang bay đến, gây nhiễu hoặc bắn hạ trước khi chúng lao vào xe tăng. Các tên lửa chống tăng tầm xa đã phá hủy hàng trăm chiếc xe tăng trong các cuộc xung đột tại Trung Đông, vì thế hệ thống phòng thủ chủ động APS có thể giúp gia tăng đáng kể khả năng sống sót của những xe tăng này.

Dòng máy bay cất cánh thẳng đứng

Máy bay trực thăng rất cần thiết cho chiến trường và những hoạt động cần sự cơ động. Tuy nhiên chúng tương đối đắt đỏ, tốc độ chậm (240 đến 322km/h), có tầm hoạt động ngắn và dễ bị tổn thương trước hỏa lực của đối phương. Vì thế, lục quân Mỹ đang hướng tới “Dòng máy bay cất cánh thẳng đứng” trong tương lai để thay thế hơn 2.000 trực thăng vận tải hạng trung Blackhawk và trực thăng Apache được trang bị vũ khí hạng nặng.

Hiện đang có 2 dòng máy bay mới tham gia cuộc cạnh tranh là trực thăng V-280 Valor của Bell Helicopter và trực thăng SB-1 Defiant do Sikorsky và Boeing phát triển

V-280 Valor là trực thăng cánh quạt nghiêng lưỡng dụng có thể bay với tốc độ gấp đôi các trực thăng thông thường và tầm hoạt động rộng hơn rất nhiều so với các loại trực thăng hiện nay, với khoang chứa rộng hơn trực thăng UH-60 25%.

SB-1 Defiant là trực thăng cánh quạt đồng trục, được trang bị thêm một động cơ cánh quạt đẩy ở phần đuôi, có khả năng bay với tốc độ 358 km/h.

Mạng thông tin liên lạc

Lục quân Mỹ hiện nay đang muốn xây dựng mạng lưới C3I (Chỉ huy, kiểm soát, liên lạc và tình báo) kết nối với các hệ thống tác chiến trên đất liền của họ. Trước đó, lực lượng này đã từ bỏ nỗ lực xây dựng mạng lưới WIN-T (Warfighter Integrated Network – Tacal) trị giá 6 tỷ USD do nhận thấy nó có thể dễ dàng bị xâm nhập hoặc phá hoại bằng các thiết bị gây nhiễu. Lục quân Mỹ dự định mua các phần mềm sẵn có để xây dựng mạng lưới C3I nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Hệ thống mạng mới cần được tiêu chuẩn hóa những vẫn đảm bảo tính linh hoạt và độ an toàn.

Lục quân cũng thành lập một nhóm chuyên trách có nhiệm vụ phát triển các thiết bị hỗ trợ điều hướng để giúp các lực lượng mặt đất dễ dàng hoạt động trong trường hợp GPS không hoạt động hoặc chỉ sai vị trí.

Phòng thủ tên lửa và phòng không

Trong nửa thế kỷ qua, sự phát triển của lực lượng không quân đã khiến Mỹ cắt giảm kinh phí cho việc xây dựng hệ thống phòng không trên đất liền của lục quân.  Tuy nhiên, mối đe dọa từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo đã khiến việc tái xây dựng hệ thống phòng không trở thành một ưu tiên lớn.

Lục quân Mỹ hiện đang tập trung phát triển hệ thống vũ khí “phòng không tầm ngắn cơ động”, hỗ trợ các lực lượng tiền tuyến bắn hạ các mục tiêu tầm thấp. Lục quân có kế hoạch triển khai xe thiết giáp Strykers 8 bánh chủ động, được trang bị các tên lửa Stinger và Hellfire, thiết bị gây nhiễu chống máy bay không người lái và pháo nòng 30mm. Ngoài ra, lực lượng này cũng mua thêm hệ thống phòng thủ tên lửa Vòm Sắt của Israel.

Đối với hệ thống phòng không tầm xa, thay vì phát triển các loại tên lửa mới, Lục quân đang chi hàng tỷ USD nâng cấp hai hệ thống phòng tên lửa phòng không Patriot và hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) bằng cách tích hợp radar mảng pha điện tử chủ động và hệ thống điều khiển hỏa lực./.

Hồng Anh/VOV.VN (biên dịch)
Theo National Interest

Tag: quân đội Mỹ lục quân Mỹ siêu vũ khí vũ khí Mỹ Nga Trung Quốc phòng thủ tên lửa đạn pháo chính xác hệ thống phòng không THAAD trực thăng xe chiến đấu bộ binh M2 Bradley

Viết bình luận

ADVERTISEMENT

Tin liên quan

Quân đội Mỹ muốn sở hữu thêm UAV trinh sát trên bầu trời Thái Bình Dương

VOV.VN - Cả quân chủng không quân và hải quân của quân đội Mỹ đều nhất trí rằng họ đang có nhu cầu ngày càng tăng về máy bay không người lái (UAV), đặc biệt là ở Thái Bình Dương, dùng cho nhiệm vụ trinh sát và thu thập thông tin tình báo.

Quân đội Mỹ tận dụng và tái chế tên lửa

VOV.VN - Áp dụng các giải pháp mới, Quân đội Mỹ không chỉ tiết kiệm được chi phí và thời gian để thay thế các cấu phần thay vì mua mới trong khi các tên lửa đẩy cũ có giá cả phải chăng nhưng cũng hiệu quả hơn và có thể được sử dụng trong thử nghiệm vũ khí.

Quân đội Mỹ chưa đủ sức đương đầu cùng lúc với cả Trung Quốc và Nga

20 tháng 7 2021

máy bay b52

tên lửa xịn xò

bom nguyên tử cực khủng 

nhưng mà thắng thế đíu nào đc VN

20 tháng 7 2021

Nhà Thanh hay Trung Hoa Đại Thanh quốcĐại Thanh Đế Quốc,[note 3] còn được gọi là Mãn Thanh (chữ Hán: 满清, tiếng Mông Cổ: Манж Чин Улс)[note 4], là một triều đại Trung Quốc do người Mãn Châu thành lập nên, cũng là triều đại cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc. Người thống trị của nhà Thanh là dòng họ Ái Tân Giác La.

Nguồn gốc của người Mãn Châu là người Nữ Chân, hoàng tộc Ái Tân Giác La là một bộ tộc của Kiến Châu Nữ Chân, thuộc sự quản lý của Kiến Châu vệ của nhà Minh. Kiến Châu vệ là một vệ sở được nhà Minh thiết lập tại Đông Bắc Trung Quốc, thuộc đơn vị hành chính biên phòng triều Minh, từng thuộc sự quản lý của Nô Nhi Càn Đô ty, mà Ái Tân Giác La thị nhiều đời là Đô chỉ huy sứ của Kiến Châu tả vệ. Năm 1616, một người Nữ Chân là Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã dựng quốc xưng Hãn, thành lập nhà nước "Đại Kim" (chữ Hán: 大金; bính âm: Dà Jīn) ở vùng Đông Bắc Trung Quốc - sử sách gọi là Hậu Kim để phân biệt với nhà Kim cũng của người Nữ Chân từng tồn tại vào thế kỷ 12-13; đóng đô ở Hách Đồ A Lạp - còn gọi là "Hưng Kinh". Đến năm 1636, người thừa kế Nỗ Nhĩ Cáp Xích là Hoàng Thái Cực xưng Đế ở Thịnh Kinh, đổi quốc hiệu thành Đại Thanh (chữ Hán: 大清; bính âm: Dà Qīng), lúc ấy, lãnh thổ chỉ dừng lại ở vùng Đông Bắc Trung Quốc và khu vực Mạc Nam, nhưng cũng đã gây đe dọa lớn với nhà Minh, vốn đã rút lui về phía nam Vạn Lý Trường Thành. Năm 1644, Lý Tự Thành xuất quân đánh chiếm Bắc Kinh, nhà Minh diệt vong. Cùng năm đó, Ngô Tam Quế vốn là tướng tàn dư của nhà Minh, vì để đối kháng Lý Tự Thành mà đã đầu hàng nhà Thanh. Quân Thanh dễ dàng tiến qua Sơn Hải quan, đánh bại Lý Tự Thành, chính thức dời đô về Bắc Kinh, cũng mở động một cuộc nam hạ quy mô lớn. Trong vòng thời gian mấy chục năm sau, nhà Thanh lần lượt tiêu diệt thế lực đối địch còn sót lại như tàn dư nhà Minh ở Hoa Bắc, quân Đại Thuận của Lý Tự Thành, Đại Tây của Trương Hiến Trung, Nam Minh và nhà nước Minh Trịnh của Trịnh Thành Công; thống nhất toàn bộ Trung Quốc. Nhà Thanh chinh phục và trở thành triều đình cai trị lãnh thổ của: Trung Quốc bản thổ (1644-1662), đảo Đài Loan (1683), Ngoại Mông (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cương (1759); hoàn thành cuộc chinh phục của người Mãn Châu. Vào giai đoạn cực thịnh cuối thế kỷ 18, nhà Thanh kiểm soát lãnh thổ rộng tới 13 triệu km2 (lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng 9,6 triệu km2), là thời kỳ mà lãnh thổ Trung Quốc đạt mức rộng lớn nhất trong lịch sử. Trải qua ba đời Hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, quốc lực của nhà Thanh cùng với kinh tế, văn hóa đều được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, thống trị lãnh thổ rộng lớn và các phiên thuộc, sử gọi "Khang - Càn thịnh thế", là thời kỳ phát triển đỉnh cao của nhà Thanh, là một trong những thời kỳ huy hoàng nhất của các vương triều phong kiến trong lịch sử Trung Quốc.[6][7][note 5]

Trong thời gian trị vì, nhà Thanh đã củng cố quyền quản lý hòa bình của họ đối với Trung Quốc, hoà nhập và hòa hợp văn hoá của các dân tộc thiểu số với văn hoá Trung Quốc, và xã hội Trung Quốc đã đạt tới tầm ảnh hưởng cao nhất của Đế quốc Trung Hoa. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự của Thanh đã suy giảm trong thế kỷ 19 và phải đối mặt với sức ép từ bên ngoài, nhiều cuộc nổi loạn bên trong và những thất bại trong chiến tranh, khiến nhà Thanh tàn tạ từ sau nửa cuối thế kỷ 19. Việc lật đổ triều Mãn Thanh sau cuộc Cách mạng Tân Hợi khi hoàng hậu nhiếp chính khi ấy là Hiếu Định Cảnh hoàng hậu, đối mặt với phản kháng của phong trào cách mạng Tân Hợi nên bà buộc phải thoái vị nhân danh vị hoàng đế Mãn Thanh cuối cùng là Phổ Nghi ngày 12 tháng 2 năm 1912. Tàn dư của chế độ Mãn Thanh cũng đã bị tiêu diệt tại vùng Tân Cương và Tây Tạng của Trung Quốc cũng vào năm 1912.

Tại đất tổ là vùng Mãn Châu, tàn dư nhà Thanh của cựu hoàng đế Phổ Nghi thiết lập Mãn Châu Quốc nhưng thực chất chỉ là chính phủ bù nhìn của Nhật Bản, tồn tại đến năm 1945 thì người Nga (Liên Xô) tiêu diệt quân Nhật ở vùng Mãn Châu tại Thế chiến 2, Mãn Châu Quốc cũng bị diệt vong và Mãn Châu quay trở về Trung Quốc.

Năm 1636 Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu thành Đại Thanh nghĩa là thanh ... và không  bất kỳ một đóng góp quân sự  cho tới khi chiến tranh kết thúc.