K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

20 tháng 5

Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương.

Bảo Ninh xuất bản truyện ngắn đầu tiên vào khoảng đầu những năm 1980.

Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” khi in lần đầu có tên là “Thân phận của tình yêu”.

24 tháng 4 2023

Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Quốc âm thi tập.

 

25 tháng 4 2023

Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Gia huấn ca, Quân trung từ mệnh tập, ...

25 tháng 10 2017

- Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi là Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na.

    - Đến thời Gúp – ta có Ka-li-đa-sa – ngôi sao sáng của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.

19 tháng 5 2021

THAM KHẢO

- Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na.

- Đến thời Gúp-ta có Ka-li-đa-sa - ngôi sao của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.

19 tháng 5 2021

#TK:

- Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na.

- Đến thời Gúp-ta có Ka-li-đa-sa - ngôi sao của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.

13 tháng 10 2021

Tham khảo :

- Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na.

- Đến thời Gúp-ta có Ka-li-đa-sa - ngôi sao của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.

13 tháng 10 2021

 

- Nổi tiếng nhất ở Ấn Độ thời cổ đại là hai bộ sử thi Ma-ha-bha-ra-ta và Ra-ma-ya-na.

- Đến thời Gúp-ta có Ka-li-đa-sa - ngôi sao của sân khấu và văn học Ấn Độ, tác giả của nhiều vở kịch nổi tiếng, trong đó có vở Sơ-kun-tơ-la luôn là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong suốt 15 thế kỉ qua.

18 tháng 4 2022

Làng tranh Đông Hồ ?

18 tháng 4 2022

thank you

20 tháng 9 2019

Lời giải:

Tác phẩm lịch sử nổi tiếng được Phan Huy Chú viết có tên là: Lịch triều hiến chương loại chí.

Đáp án cần chọn là: C

4 tháng 2 2017

(Gợi ý: Sử dụng tính chất tỉ lệ thức để tìm số còn lại trong ô vuông)

Ô chữ N :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ H :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ C :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ I :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ Ư :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ Ế :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ Y :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ Ợ :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ B :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ U :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ L :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Ô chữ T :

Giải bài 50 trang 27 Toán 7 Tập 1 | Giải bài tập Toán 7

Điền các chữ cái vào các ô trống có kết quả tương ứng ta được tên tác phẩm là : « BINH THƯ YẾU LƯỢC ».

Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng (1835 -1909). Ông quê ở xã Bình An,tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nho học, sớm nổi tiếng thông minh, đỗ đạt cao trong khoa cử và từng làm quan, nhưng sau đó cáo quan về quê khi đất nước rơi vào tay thực dân Pháp.Trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Khuyến giữ vị trí quan trọng, được xem là một trong những nhà thơ lớn của văn...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng (1835 -1909). Ông quê ở xã Bình An,tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nho học, sớm nổi tiếng thông minh, đỗ đạt cao trong khoa cử và từng làm quan, nhưng sau đó cáo quan về quê khi đất nước rơi vào tay thực dân Pháp.

Trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Khuyến giữ vị trí quan trọng, được xem là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ông vừa là nhà thơ trữ tình sâu lắng, gắn bó tha thiết với làng cảnh quê hương, vừa là nhà thơ trào phúng sắc bén, đả kích mạnh mẽ những thói hư danh, giả dối trong xã hội đương thời.

Đề tài sáng tác của Nguyễn Khuyến rất phong phú, nhưng nổi bật nhất vẫn là làng quê, thiên nhiên và cuộc sống bình dị của người nông dân. Bên cạnh đó, ông còn gửi gắm tình cảm yêu nước, nỗi đau thời thế, tình bạn chân thành và thái độ phê phán gay gắt đối với bọn quan lại nịnh hót, bất tài.

Phong cách sáng tác của ông giản dị, trong sáng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giàu cảm xúc và đậm đà chất dân gian. Thơ ông vừa tha thiết, trữ tình, vừa sâu cay, châm biếm. Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái bình dị và cái tinh tế, giữa chất trữ tình và chất trào phúng đã làm nên giá trị đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Những tác phẩm chính của Nguyễn Khuyến được nhiều thế hệ độc giả yêu thích có thể kể đến chùm thơ thu nổi tiếng: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh; bài Bạn đến chơi nhà thể hiện tình bạn chân thành, hồn hậu; Khóc Dương Khuê bộc lộ nỗi xót thương trước sự ra đi của bạn tri kỉ; cùng nhiều bài thơ trào phúng sắc sảo như Tiến sĩ giấy, Mừng ông nghè mới… Tất cả đã khẳng định Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn, có đóng góp to lớn cho văn học dân tộc.

0
20 tháng 5 2016

Nghệ thuật cũng có những bước phát triển mới. Trong các thế kỉ X- XIV, những công trình nghệ thuật Phật giáo được xây dựng ở khắp mọi nơi như chùa Một Cột (Diên Hựu), chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh. Chuông, tượng cũng được đúc, tạc rất nhiều. Cuối thế kỉ XIV, thành nhà Hổ (Vĩnh Lộc - Thanh Hoá) được xây dựng và trở thành một điển hình của nghệ thuật xây thành ở nước ta. Ở phía nam,  nhiều đền tháp Chăm được xây dựng thêm mang phong cách nghệ thuật đặc sắc.

Xuất hiện nhiều tác phẩm điêu khắc mang những hoạ tiết hoa văn độc đáo như rồng mình trơn cuộn trong lá đề, bỏng cúc nhiều cánh, bệ chân cột hình hoa sen nở... cùng nhiều bức phù điêu có hình các cô tiên, các vũ nữ vừa múa vừa đánh đàn.

Nghệ thuật sân khấu như chèo, tuồng, ra đời từ sớm và ngày càng phát triển. Múa rối nước là một nghệ thuật đặc sắc, phát triển từ thời Lý.

Văn bia Sùng Thiện diên linh (ở Hà Nam, khắc năm 1121) viết: “Hàng nghìn chiếc thuyền bơi giữa dòng nhanh như chớp... Làn nước rung rinh, rùa vàng nổi lên đội ba quả núi... lộ vân trên vỏ và xoè bốn chân, nhe răng trợn mắt... Các thần tiên xuất hiện, nét mặt nhuần nhị thanh tâm há phải đâu vẻ đẹp của người trần thế, tay nhỏ nhắn mềm mại múa điệu hồi phong...”

Âm nhạc phát triển với nhiều nhạc cụ như trống cơm, sáo, tiêu, đàn cầm, đàn tranh, chiêng cổng v.v... Các na;hệ nhấn sáng tác nhiều bản nhạc đế tấu hát trong các buổi lễ hội.

Ca múa được tổ chức trong các lễ hội, ngày mùa ờ khắp các làng bản miền xuôi cũng như miền ngược. Cùng với các điệu ca, điệu múa, còn có các cuộc đua tài như đấu vật, đua thuyền, đá cầu...


 

20 tháng 5 2016

- Thiên nam ngữ lục, dài hơn 8000 câu

- Truyện Trạng Quỳnh, là truyện tiếu lâm

- Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp ( Bắc Binh)

-.........