nêu cách người xưa tìm ra số pi ( ít nhất 2 cách)
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Giải tam giác là việc đi tìm một số yếu tố của tam giác khi đã biết các yếu tố khác của tam giác đó.
Trong trường hợp này, giải tam giác ABC được hiểu là tìm cạnh AC khi biết cạnh AB, góc A và góc B.
Áp dụng định lí sin ta có:
\(\frac{{AC}}{{\sin B}} = \frac{{AB}}{{\sin C}}\)
Mà \(AB=d, \hat {B} =\beta; \hat {C} =180^o-\alpha -\beta \)
\(\Rightarrow AC = \sin \beta \frac{d}{{\sin \left( {{{180}^o} - \alpha - \beta } \right)}}\)
Dựa vào sự quan sát và tính toán, người xưa đã tính được thời gian mọc, lặn, di chuyển của Mặt Trời, Mặt Trăng và làm ra lịch.
Người xưa đã phân chia thời gian theo ngày, tháng, năm và sau đó chia thành giờ, phút,...
Tuy nhiên, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực có cách làm lịch riêng. Nhìn chung có hai cách chính: theo sự di chuyển của Mặt Trăng quanh Trái Đất (âm lịch) và theo sự di chuyển của Trái Đất quanh Mặt Trời (dương lịch).
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/nguoi-xua-da-tinh-thoi-gian-nhu-the-nao-c81a14104.html#ixzz6KDPVtSRV
Lời giải:
$\frac{1}{10}=\frac{9}{90}=\frac{18}{180}$
$\frac{1}{9}=\frac{10}{90}=\frac{20}{180}$
Phân số lớn hơn $\frac{1}{10}$ và nhỏ hơn $\frac{1}{9}$ là $\frac{19}{180}$
Dựa vào sự quan sát và tính toán, người xưa đã tính được thời gian mọc, lặn, di chuyển của Mặt Trời, Mặt Trăng và làm ra lịch.
Người xưa đã phân chia thời gian theo ngày, tháng, năm và sau đó chia thành giờ, phút...
Tuy nhiên, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực có cách làm lịch riêng. Nhìn chung có hai cách chính : theo sự di chuyển của Mặt Trăng quanh Trái Đất (âm lịch) và theo sự di chuyển của Trái Đất quanh Mặt Trời (dương lịch).
Người xưa đã phân chia thời gian theo ngày, tháng, năm và sau đó chia thành giờ, phút...
Tuy nhiên, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực có cách làm lịch riêng. Nhìn chung có hai cách chính : theo sự di chuyển của Mặt Trăng quanh Trái Đất (âm lịch) và theo sự di chuyển của Trái Đất quanh Mặt Trời (dương lịch).

Người xưa tìm ra số π bằng hai cách chính: Thứ nhất, các nhà toán học Ai Cập và Babylon cổ đại ước lượng π thông qua đo đạc thực tế các hình tròn, cho giá trị khoảng 3,125 đến 3,16. Thứ hai, Archimedes của Hy Lạp sử dụng phương pháp đa giác nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn, tính toán với đa giác 96 cạnh để ước lượng π nằm giữa 3,1408 và 3,1429, đạt độ chính xác cao thời bấy giờ.
- Cách làm: Archimedes vẽ một đa giác đều nội tiếp (bên trong) và một đa giác đều ngoại tiếp (bên ngoài) một đường tròn.
- Nguyên lý: Chu vi của đường tròn sẽ nằm giữa chu vi của đa giác nội tiếp (nhỏ hơn) và chu vi của đa giác ngoại tiếp (lớn hơn).
- Thực hiện: Ông bắt đầu với hình lục giác (6 cạnh) và liên tục gấp đôi số cạnh lên (12, 24, 48, và cuối cùng là 96 cạnh).
- Kết quả: Với đa giác 96 cạnh, ông xác định được giá trị của \(\pi \) nằm trong khoảng \(\frac{223}{71} < \pi < \frac{22}{7}\), tức là khoảng 3,1408 - 3,1429. [1, 2, 3]
2. Phương pháp đo đạc và tỷ lệ thực tế (Babylon/Ai Cập) Trước Archimedes, các nền văn minh cổ đại đã biết đến sự tồn tại của số \(\pi \) thông qua việc đo đạc thủ công các vật thể tròn.