K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

3 tháng 5
Đặc điểm kinh tế tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến XIX có một số nét nổi bật sau:
  • Nông nghiệp là ngành kinh tế chính: Người dân chủ yếu sản xuất lúa nước ở các vùng đồng bằng nhỏ hẹp và thung lũng, bên cạnh đó là các hoạt động trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi ở vùng đồi núi.
  • Thủ công nghiệp phát triển: Nổi bật là các nghề truyền thống như khai thác và chế biến lâm sản, làm giấy, dệt vải, và đặc biệt là nghề rèn đúc vũ khí, công cụ sản xuất do nhu cầu cao từ các cuộc chiến tranh và phát triển kinh tế địa phương.
  • Khai thác khoáng sản: Thái Nguyên là vùng đất có nhiều khoáng sản, nổi tiếng với nghề khai thác sắt, than đá và các loại kim loại khác, góp phần quan trọng vào nền kinh tế địa phương và cung cấp nguyên liệu cho các ngành thủ công nghiệp.
  • Thương mại hình thành và phát triển: Hình thành các phiên chợ vùng cao, chợ quê, là nơi trao đổi, mua bán nông sản, công cụ sản xuất và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ giữa người dân địa phương và thương lái từ các vùng khác đến.
1. Nông nghiệp
  • Khai hoang và mở rộng diện tích: Công cuộc khai khẩn đất hoang được đẩy mạnh, hình thành nhiều làng bản mới. Tuy nhiên, do địa hình miền núi nên diện tích đất trồng lúa nước còn hạn chế.
  • Cây trồng đa dạng: Ngoài lúa, người dân còn trồng các loại cây màu (ngô, khoai, sắn) và đặc biệt là các loại cây ăn quả, lâm thổ sản.
2. Thủ công nghiệp
  • Nghề truyền thống: Duy trì và phát triển các nghề thủ công phục vụ đời sống như dệt vải, làm đồ mộc, rèn đúc công cụ sản xuất.
  • Khai thác khoáng sản: Đây là đặc điểm nổi bật nhất. Thái Nguyên nổi tiếng với các mỏ sắt, bạc, chì, đồng. Nhà nước phong kiến (đặc biệt thời Nguyễn) đã cho phép khai thác quy mô lớn tại các vùng như Lưu Xá, Phấn Mễ, tạo việc làm cho hàng vạn dân phu.
3. Thương nghiệp
  • Mạng lưới chợ: Hệ thống chợ làng, chợ huyện phát triển, trở thành nơi trao đổi hàng hóa giữa miền ngược và miền xuôi. Các mặt hàng chủ đạo là lâm sản, khoáng sản đổi lấy muối, vải vóc và đồ dùng gia đình.
  • Giao thương đường thủy: Sông Cầu đóng vai trò là tuyến đường huyết mạch quan trọng giúp vận chuyển hàng hóa từ Thái Nguyên về kinh đô và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
4. Đặc điểm chung
  • Kinh tế tự cung tự cấp: Dù có sự phát triển về khai thác khoáng sản và thương mại, nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất tự cấp tự túc của kinh tế tiểu nông.
  • Sự phân hóa: Kinh tế tập trung mạnh hơn ở vùng đồng bằng, thung lũng ven sông, trong khi vùng cao vẫn còn khá sơ khai.
17 tháng 12 2019

Đáp án: C. Hầu hết các nước châu Á trở thành thuộc địa của các đế quốc Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha,…

Giải thích: Bài 7 SGK trang 21 Địa lí 8.

26 tháng 10 2021

Thanks

 

5 tháng 12 2016

+) nước Anh.

- Đầu thập niên 70 của thế kỷ XIX, nền công nghiệp Anh vẫn đứng đầu thế giới.
Sản lượng than của Anh gấp 3 lần Mĩ và Đức; sản lượng gang gấp 4 lần Mĩ và gần 5 lần Đức. Về xuất khẩu kim loại sản lượng của 3 nước Pháp, Đức, Mĩ gộp lại không bằng Anh.
- Từ cuối thập niên 70, Anh mất dần địa vị độc quyền công nghiệp, mất cả vai trò lũng đoạn thị trường thế giới, bị Mĩ và Đức vượt qua.
Nguyên nhân của sự giảm sút :
+ Máy móc xuất hiện sớm nên cũ và lạc hậu, việc hiện đại hóa rất tốn kém.
+ Một số lớn tư bản chạy sang thuộc địa, vì ở đây lợi nhuận tư bản đẻ ra nhiều hơn chính quốc. Mặt khác, cướp đoạt thuộc địa có lợi nhiều hơn so với đầu tư cải tạo công nghiệp.
- Tuy vậy, Anh vẫn chiếm ưu thế về tài chính, xuất cảng tư bản, thương mại, hải quân và thuộc địa.
- Công nghiệp: Quá trình tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ, nhiều tổ chức độc
quyền ra đời chi phối toàn bộ đời sống kinh tế nước Anh.( 5 ngân hàng ở khu Xi-ti Luân Đôn nắm 70% số tư bản cả nước.)
- Nông nghiệp: khủng hoảng trầm trọng, phải nhập khẩu lương thực.
+) nước Pháp
- Trước 1870, công nghiệp Pháp đứng hàng thứ hai thế giới, cuối thập niên 70 trở đi công nghiệp Pháp bắt đầu chậm lại. tụt xuống hàng thứ tư sau Đức, Mĩ, Anh
- Nguyên nhân:
+ Kĩ thuật lạc hậu
+ Pháp thất bại trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ , mất đất ,phải bồi thường chiến tranh
+ Nghèo tài nguyên và nhiên liệu, đặc biệt là than đá.
+ Giai cấp tư sản chỉ chú trọng đến xuất cảng tư bản, không chú trọng phát triển công nghiệp trong nước.
- Sự thâm nhập của phương thức: sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp ở Pháp diễn ra chậm chạp do đất đai bị chia nhỏ, không cho phép sử dụng máy móc và kĩ thuật canh tác mới.
- Đầu thế kỷ XX quá trình tập trung sản xuất diễn ra trong lĩnh vực công nghiệp, dẫn đến việc hình thành các công ty độc quyền, chi phối nền kinh tế Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng (chậm hơn các nước khác)
Đặc điểm nổi bật của các tổ chức độc quyền ở Pháp:
- Sự tập trung ngân hàng đạt đến mức cao: 5 ngân hàng lớn ở Pa-ri nắm 2/3 tư bản của các ngân hàng trong cả nước.
- Khác với Anh tư bản chủ yếu đầu tư vào thuộc địa, còn ở Pháp tư bản phần lớn đưa vốn ra nước ngoài, cho các nước chậm tiến vay với lãi suất lớn.
- Đặc điểm: Tư bản Pháp phần lớn đưa vốn ra nước ngoài, cho các nước chậm tiến vay với lãi suất lớn. Chủ nghĩa đế quốc cho vay nặng lãi.
 
6 tháng 10 2017

hãy so sánh chính trị kinh tế của anh, đức cuối thế kỉ xix đầu thế kỉ xx

 

6 tháng 9 2023

tình hình kinh tế là có caiconcac

8 tháng 9 2023

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI, thủ đô Hà Nội đã trải qua nhiều biến đổi về kinh tế và chính trị. Dưới đây là một sự tóm tắt về tình hình trong giai đoạn này:

Thế kỷ XI-XIII: Trong thời kỳ này, Hà Nội (khi đó còn được gọi là Thăng Long) đã trở thành thủ đô của Đại Việt - một quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực Đông Nam Á. Kinh tế Thăng Long phát triển mạnh mẽ nhờ vào việc trở thành trung tâm giao thương và công cụ chính sách của triều đình. Thương mại và xã hội nông nghiệp phát triển, thu hút các thương nhân và người lao động từ khắp nơi đến sinh sống và làm việc tại đây.

Thế kỷ XIV-XV: Trong giai đoạn này, thủ đô Thăng Long đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế hàng đầu ở Đông Nam Á. Triều đại Trần đã thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách khuyến khích trồng trọt, thủ công nghiệp và buôn bán. Thăng Long trở thành một cảng biển quan trọng, thu hút sự giao thương với các nước láng giềng và các điểm đến xa hơn như Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ.

Thế kỷ XVI: Trong giai đoạn này, Hà Nội trải qua sự thay đổi chính trị và kinh tế do sự xâm lược của người Mông Cổ. Thành phố đã bị phá hủy và dân số giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, sau khi vượt qua giai đoạn khủng hoảng này, Hà Nội đã được phục hồi nhanh chóng. Việc xây dựng lại và khôi phục hoạt động kinh tế đã làm cho thành phố trở lại với vai trò quan trọng trong khu vực.

Trong thời gian từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI, Hà Nội đã trở thành một trung tâm kinh tế và chính trị quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Thành phố này đã chứng kiến sự phát triển và suy thoái kinh tế, cùng với những biến đổi chính trị do các cuộc xâm lược và sự tăng trưởng của triều đại Đại Việt.

28 tháng 4 2022

Tham khảo:

 

Tình hình kinh tế Đàng Ngoài ở thế kỉ XVII - XVIII:

Nông nghiệp

– Từ cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVII, nông nghiệp sa sút, mất mùa đói kém liên miên, bị chiến tranh tàn phá

– Từ nửa sau thế kỷ XVII, tình hình chính trị ổn định, nông nghiệp ở Đàng Trong và Đàng Ngoài phát triển:

+ Ruộng đất ở cả 2 đàng mở rộng, nhất là ở Đàng Trong.

+ Thủy lợi được củng cố.

+ Giống cây trồng ngày càng phong phú.

+ Kinh nghiệm sản xuất được đúc kết.

Ở Đàng Trong: ruộng đất nhanh chóng mở rộng, đất đai phì nhiêu, thời tiết thuận lợi, trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái.

Ở cả 2 Đàng chế độ tư hữu ruộng đất phát triển. Ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ.

Thủ công nghiệp

Nghề thủ công cổ truyền tiếp tục phát triển đạt trình độ cao: dệt, gốm,rèn sắt, đúc đồng, làm đồ trang sức..

– Một số nghề mới xuất hiện như: khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài.

– Khai mỏ – một ngành quan trọng rất phát triển ở Đàng Trong và Đàng Ngoài.

– Các làng nghề thủ công xuất hiện ngày càng nhiều như làm giấy, gốm sứ, nhuộm vải …..

– Nét mới trong kinh doanh: ở các đô thị thợ thủ công đã lập phường hội, vừa sản xuất vừa bán hàng.

Thương nghiệp

* Nội thương: ở các thế kỷ XVI – XVIII buôn bán trong nước phát triển:

– Chợ làng, chợ huyện… xuất hiện làng buôn và trung tâm buôn bán

– Buôn bán lớn (buôn chuyến, buôn thuyền) xuất hiện.

– Buôn bán giữa miền xuôi và miền ngược phát triển, thóc gạo ở Gia Định được đem ra các dinh miền Trung để bán ….

* Ngoại thương phát triển mạnh.

– Thuyền buôn các nước Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp, Anh đến VN buôn bán tấp nập:

+ Bán vũ khí, thuốc súng, len dạ, bạc, đồng…..

+ Mua: tơ lụa, đường gốm, nông lâm sản.

– Thương nhân nhiều nước đã tụ hội lập phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài.

– Giữa thế kỉ XVIII ngoại thương suy yếu dần do chế độ thuế khóa của nhà nước ngày càng phức tạp.

31 tháng 10 2023

Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVI, kinh thành Thăng Long đã trải qua nhiều biến động về chính trị, kinh tế và văn hóa. Về mặt chính trị, Thăng Long đã trở thành trung tâm chính trị của Đại Việt và được chia thành nhiều phường tập trung theo ngành nghề sản xuất. Trong giai đoạn này, Thăng Long đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế hàng đầu ở Đông Nam Á. Về mặt kinh tế, Thăng Long phát triển mạnh mẽ nhờ trở thành trung tâm giao thương và công cụ chính sách của triều đình. Thương nghiệp và buôn bán tại các chợ diễn ra sôi động, thu hút sự giao thương với các nước láng giềng và các điểm đến xa hơn như Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Về mặt văn hóa, Thăng Long đã chú trọng phát triển giáo dục, lập các trường học và tổ chức các kỳ thi Nho học để chọn ra những người tài giỏi làm quan. Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XVI, Thăng Long đã trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa quan trọng trong lịch sử của Việt Nam.

19 tháng 9 2023

a.

loading...

19 tháng 9 2023

b.

loading...