K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:PHƠI SÁCH, PHƠI BỤNG Làng Quỳnh có một lão trọc phú. Lão này đã dốt lại thích học làm sang, thỉnh thoảng mò đến nhà Trạng, đòi mượn sách. Tất nhiên lão có mượn được sách về thì cũng biết gì đâu mà đọc. Quỳnh bực lắm, một bận, thấy lão lấp ló đầu cổng, Quỳnh vội vác ngay chiếc chõng tre ra sân, cởi áo nằm phơi bụng. Lão trọc phú bước vào,...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

PHƠI SÁCH, PHƠI BỤNG

Làng Quỳnh có một lão trọc phú. Lão này đã dốt lại thích học làm sang, thỉnh thoảng mò đến nhà Trạng, đòi mượn sách. Tất nhiên lão có mượn được sách về thì cũng biết gì đâu mà đọc. Quỳnh bực lắm, một bận, thấy lão lấp ló đầu cổng, Quỳnh vội vác ngay chiếc chõng tre ra sân, cởi áo nằm phơi bụng. Lão trọc phú bước vào, thấy lạ, hỏi:

– Thầy làm gì thế?

Quỳnh đáp:

– À! Có gì đâu! Hôm nay được cái nắng tôi đem phơi sách cho khỏi khô mốc.

– Sách ở đâu?

Quỳnh chỉ vào bụng:

– Sách chứa đầy trong này!

Biết mình bị đuổi khéo, trọc phú lủi thủi ra về.

Bận khác, lão cho người mời Quỳnh đến nhà. Để rửa mối nhục cũ, lão bắt chước, đánh trần, nằm giữa sân đợi khách…

Quỳnh vừa bước vào, lão cất giọng con vẹt, bắt chước…

– Hôm nay được cái nắng tôi nằm phơi sách cho khỏi mốc.

Bất ngờ Quỳnh cười toáng, lấy tay vỗ bình bịch vào cái bụng phệ mà nói:

– Ruột nhà ông toàn chứa những của ngon chưa tiêu hết phải đem phơi, chứ làm cóc gì có sách mà phơi!

Lão trố mắt kinh ngạc:

– Sao thầy biết?

Quỳnh lại cười toáng lên, lấy tay lắc lắc cái bụng béo ụ ị của lão:

– Ông nghe rõ chứ? Bụng ông nó đang kêu "ong óc" đây này! Tiếng cơm, tiếng gà, tiếng cá, lợn… Chứ có phải tiếng chữ, tiếng sách đâu. Thôi ngồi dậy, mặc áo vào nhà đi.

Lão trọc phú lủi thủi làm theo lời Quỳnh, và ngồi tiếp khách một cách miễn cưỡng.

(Theo http//sachhay2h.com)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5.

Câu 1. Xác định yếu tố gây cười trong văn bản trên.

Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 3. Nhận xét về nhân vật lão trọc phú trong văn bản trên.

Câu 4. Theo em, tác giả sáng tạo câu chuyện trên nhằm mục đích gì? Em có nhận xét gì về thái độ của người xưa đối với thói khoe khoang và sự dốt nát?

Câu 5. Qua văn bản trên, em rút ra được bài học gì? (Lí giải ngắn gọn trong 3 − 5 dòng)

5

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?


  • Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh (hoặc Thông tin/Giải thích).
  • Lý do: Văn bản tập trung vào việc cung cấp thông tin khách quan, định nghĩa (Hạn hán là gì, biểu hiện), phân loại (4 loại hạn hán), và chỉ ra nguyên nhân (khách quan, chủ quan) của hiện tượng hạn hán.


Câu 2. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), hạn hán được chia thành mấy loại? Hãy kể tên các loại đó.


Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), hạn hán được chia thành 4 loại.

  • Các loại đó là:
    1. Hạn hán khí tượng
    2. Hạn hán thủy văn
    3. Hạn hán nông nghiệp
    4. Hạn hán kinh tế, xã hội


Câu 3. Có thể xếp văn bản trên vào kiểu văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên được không? Vì sao?


  • Trả lời: Có thể xếp văn bản trên vào kiểu văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
  • Vì sao?
    • Văn bản thông tin: Mục đích chính là cung cấp kiến thức, định nghĩa, số liệu (ví dụ: hạn hán đứng thứ tư về mức độ thiệt hại).
    • Giải thích hiện tượng tự nhiên: Văn bản trình bày rõ ràng về biểu hiện của hạn hán, phân loại chi tiết các khía cạnh của nó, và phân tích nguyên nhân (khách quan và chủ quan) gây ra hiện tượng này.


Câu 4. Chỉ ra 01 phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên và nêu tác dụng.


  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh/Chú thích ảnh ("Hạn hán ở Cà Mau năm 2020").
  • Tác dụng:
    • Minh họa, trực quan hóa: Giúp người đọc hình dung được sự khốc liệt và thực tế của hiện tượng hạn hán.
    • Tăng tính xác thực: Cung cấp dẫn chứng cụ thể, thời sự (Cà Mau năm 2020) cho hiện tượng đang được giải thích.
    • Tăng sức hấp dẫn: Làm cho văn bản không bị khô khan, thu hút sự chú ý của người đọc.


Câu 5. Viết đoạn văn khoảng 8 – 10 dòng đề xuất các biện pháp phòng chống hạn hán.


Hạn hán là thách thức lớn đối với sản xuất và đời sống, đòi hỏi những biện pháp phòng chống đồng bộ. Biện pháp cốt lõi là nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nước. Cần xây dựng, tu sửa các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương để tích trữ nước tối đa vào mùa mưa và dẫn nước linh hoạt vào mùa khô. Đồng thời, phải tích cực trồng rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn nhằm duy trì và bổ sung nguồn nước ngầm. Về mặt nông nghiệp, cần áp dụng công nghệ tưới tiên tiến (như tưới nhỏ giọt, tưới phun sương) và chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các giống chịu hạn tốt hơn. Cuối cùng, chính quyền cần nâng cao ý thức cộng đồng về việc tiết kiệm nước và ban hành quy hoạch sử dụng nước hợp lý, tránh lãng phí và cạn kiệt nguồn tài nguyên.

Phân tích và Trả lời

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?

Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là thuyết minh. Văn bản tập trung vào việc cung cấp thông tin, định nghĩa, phân loại và giải thích về hiện tượng hạn hán một cách khách quan, khoa học để người đọc hiểu rõ về nó.

Câu 2. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), hạn hán được chia thành mấy loại? Hãy kể tên các loại đó.

Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), hạn hán được chia thành 4 loại:

  1. Hạn hán khí tượng
  2. Hạn hán thủy văn
  3. Hạn hán nông nghiệp
  4. Hạn hán kinh tế, xã hội

Câu 3. Có thể xếp văn bản trên vào kiểu văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên được không? Vì sao?

Có thể. Văn bản này hoàn toàn có thể xếp vào kiểu văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.

  • Vì sao: Văn bản cung cấp đầy đủ thông tin về một hiện tượng tự nhiên là hạn hán, bao gồm: khái niệm, biểu hiện, phân loại chi tiết theo một tổ chức uy tín (WMO), và các nguyên nhân gây ra hạn hán (cả khách quan lẫn chủ quan). Mục đích chính của văn bản là cung cấp kiến thức, giải thích rõ ràng về hiện tượng này cho người đọc.

Câu 4. Chỉ ra 01 phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Một phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là hình ảnh. Cụ thể là các hình ảnh:

  • "Hạn hán ở Cà Mau"
  • "Hạn hán ở Cà Mau năm 2020"
  • Tác dụng: Các hình ảnh này giúp minh họa trực quan cho vấn đề hạn hán, giúp người đọc dễ dàng hình dung mức độ nghiêm trọng và ảnh hưởng thực tế của nó tại một địa phương cụ thể (Cà Mau). Nó làm cho thông tin trở nên sinh động, thuyết phục và dễ ghi nhớ hơn.

Câu 5. Viết đoạn văn khoảng 8 - 10 dòng đề xuất các biện pháp phòng chống hạn hán

Để đối phó với tình trạng hạn hán ngày càng diễn biến phức tạp, chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều biện pháp. Về phía nhà nước, cần đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống thủy lợi, bao gồm hồ chứa, đập, kênh mương để tích trữ và phân phối nước hiệu quả. Đồng thời, chú trọng công tác bảo vệ và phát triển rừng, bởi rừng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước và điều hòa khí hậu. Đối với nông nghiệp, cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thích ứng với điều kiện khô hạn, ưu tiên các giống cây trồng ngắn ngày, chịu hạn tốt. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm, tránh lãng phí trong sinh hoạt hàng ngày. Việc quy hoạch sử dụng nước hợp lý cũng là yếu tố then chốt để đảm bảo nguồn nước bền vững.

5 tháng 2 2016

- Biện pháp:

+ Cần quy hoạch các điểm dân cư tránh các vùng có thể xảy ra lũ quét nguy hiểm, quản lí sử dụng đất đai hợp lí.

+ Thực hiện các biện pháp kĩ thuật thủy lợi, trồng rừng, kĩ thuật nông nghiệp trên đất dốc nhằm hạn chế dòng chảy mặt và chống xói mòn đất.

13 tháng 12 2017

Đáp án C

- Bão, lũ lụt, hạn hán là thiên tai chủ yếu ở đồng bằng => loại trừ đáp án B. Tây Bắc

- Gió tây khô nóng là thiên tai xảy ra chủ yếu ở duyên hải miền Trung, đặc biệt là Bắc Trung Bộ (phía Nam của Tây Bắc chịu ảnh hưởng ít hơn). Khu vực “ĐBSH và Tây Nguyên” ít hoặc hầu như không chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng.

-> Loại đáp án A, D

21 tháng 12 2017

Đáp án: C

Giải thích: SGK/34, địa lí 12 cơ bản.

3 tháng 9 2019

Đáp án C

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc văn bản: VĂN BIA VĨNH LĂNGNăm Thuận Thiên thứ sáu, năm Quí Sửu tháng 8 nhuận ngày 22, Thái tổ Cao hoàng đế chầu trời. Cùng năm ấy, tháng 10 ngày 23, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn. Vua họ Lê, húy là Lợi, tằng tổ của vua Húy là Hối, người phủ Thanh Hóa. Một ngày kia đi chơi Lam Sơn thấy có đàn quạ bay lượn quanh ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

VĂN BIA VĨNH LĂNG

Năm Thuận Thiên thứ sáu, năm Quí Sửu tháng 8 nhuận ngày 22, Thái tổ Cao hoàng đế chầu trời. Cùng năm ấy, tháng 10 ngày 23, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn. Vua họ Lê, húy là Lợi, tằng tổ của vua Húy là Hối, người phủ Thanh Hóa. Một ngày kia đi chơi Lam Sơn thấy có đàn quạ bay lượn quanh ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt, liền dời nhà đến ở đấy, được ba năm thì thành sản nghiệp. Con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều. Việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy. Từ bấy giờ làm chủ một miền. Tổ của vua húy là Ðinh, nối dõi nghiệp nhà, theo chí người trước, bộ hạ có đến hàng nghìn người. Tổ mẫu của vua họ Nguyễn, rất có đức hạnh, sinh được hai con trai, con trưởng là Tùng, con thứ là Khoáng, tức là thân phụ của vua. Người vui vẻ, dễ dãi, hiền lành, thích làm thiện, mến đãi khách, đối với dân cõi láng giềng cũng coi như người một nhà, cho nên người ta chẳng ai là không cảm ơn mà phục nghĩa. Thân mẫu của vua họ Trịnh, húy là Thương, chăm đạo đàn bà, cửa nhà hòa vui, gia đạo thêm thịnh, sinh ba con trai, trưởng là Học, thứ là Trừ, út là vua.  Người con trưởng được cha truyền nghiệp, không may chết non. Vua vâng thừa nghiệp của ông cha, một lòng kính cẩn. Tuy thời gặp loạn lớn mà chí càng thêm bền, giấu mình ở Lam Sơn, làm nghề cày cấy. Vì giận giặc tàn bạo, càng chuyên tâm vào sách lược thao, dốc hết của nhà khoản đãi tân khách.
         Năm Mậu Tuất (1418) dấy hưng nghĩa binh đóng trên sông Lạc Thủy, trước sau hơn hai mươi trận, đều đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh mũi nhọn, thừa chỗ hư, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.. Năm Bính Ngọ (1426) đánh ở Ninh Ðộng (tức Ninh Kiều và Tốt Ðộng) đại thắng liền tiến vây Ðông Ðô.  Năm Ðinh Mùi (1427) giặc gửi viện binh. An Viễn hầu Liễu Thăng đem mười vạn quân do Quảng Tây tiến, Kiềm Quốc công Mộc Thạnh đem năm vạn quân do Vân Nam tiến. Một trận Chi Lăng, Liễu Thăng nộp đầu, chém quân giặc hơn mấy vạn tên, bắt sống bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ hơn ba trăm người và hơn vạn binh sĩ. Sắc mệnh và binh phù bắt được của Liễu Thăng gửi đến quân Vân Nam, Mộc Thạnh trông thấy nhân đêm chạy trốn, giặc bị chém đầu và bị bắt sống không biết bao nhiêu mà kể. Bấy giờ trấn thủ thành Ðông Quan là bọn Thành Sơn hầu Vương Thông trước đã cùng quân ta giảng hòa mà chưa xong, đến đây, xin thề ở trên sông Nhị, những thành trì trấn thủ các xứ đều mở cửa ra hàng. Những quân giặc bị bắt và những quân đầu hàng có đến mười vạn người, đều tha cho về cả. Ðường thủy thì cấp cho hơn năm trăm thuyền, đường bộ thì cấp cho lương ăn và ngựa; răn cấm quân sĩ (của ta) không được xâm phạm mảy may (đến quân giặc). Hai nước từ đấy giao hảo, Bắc Nam vô sự. Mường Lễ và Ai Lao dần vào bản đồ, Chiêm Thành và Chà-và vượt biển đến cống. Vua thức khuya dậy sớm sáu năm mà trong nước thịnh trị, đến nay băng.
            Thuận Thiên năm thứ sáu, Quí Sửu tháng 10 ngày  tốt,
            Vĩnh Lộc đại phu nhập nội hành khiển tri tam quán sự, thần Nguyễn Trãi vâng soạn.

(Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1976)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Lòng khoan dung độ lượng của vua Lê Lợi thể hiện qua chi tiết nào?

Câu 2. Chi tiết “Tuy thời gặp loạn lớn mà chí càng thêm bền, giấu mình ở Lam Sơn, làm nghề cày cấy. Vì giận giặc tàn bạo, càng chuyên tâm vào sách lược thao, dốc hết của nhà khoản đãi tân khách” cho thấy những phẩm chất gì của vua Lê Lợi ?
Câu 3. Khái quát nội dung chính của văn bản.

Câu 4. Nêu  những bài học mà người đời sau có thể nhận ra từ bài văn bia.

GIÚP MÌNH VS CẦN GẤP

0
4 tháng 12 2021

D

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: VĂN BIA VĨNH LĂNG Năm Thuận Thiên thứ sáu, năm Quí Sửu tháng 8 nhuận ngày 22, Thái tổ Cao hoàng đế chầu trời. Cùng năm ấy, tháng 10 ngày 23, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn. Vua họ Lê, húy là Lợi, tằng tổ của vua Húy là Hối, người phủ Thanh Hóa. Một ngày kia đi chơi Lam Sơn thấy có đàn quạ bay lượn quanh ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: VĂN BIA VĨNH LĂNG Năm Thuận Thiên thứ sáu, năm Quí Sửu tháng 8 nhuận ngày 22, Thái tổ Cao hoàng đế chầu trời. Cùng năm ấy, tháng 10 ngày 23, táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn. Vua họ Lê, húy là Lợi, tằng tổ của vua Húy là Hối, người phủ Thanh Hóa. Một ngày kia đi chơi Lam Sơn thấy có đàn quạ bay lượn quanh ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt, liền dời nhà đến ở đấy, được ba năm thì thành sản nghiệp. Con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều. Việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy. Từ bấy giờ làm chủ một miền. Tổ của vua húy là Ðinh, nối dõi nghiệp nhà, theo chí người trước, bộ hạ có đến hàng nghìn người. Tổ mẫu của vua họ Nguyễn, rất có đức hạnh, sinh được hai con trai, con trưởng là Tùng, con thứ là Khoáng, tức là thân phụ của vua. Người vui vẻ, dễ dãi, hiền lành, thích làm thiện, mến đãi khách, đối với dân cõi láng giềng cũng coi như người một nhà, cho nên người ta chẳng ai là không cảm ơn mà phục nghĩa. Thân mẫu của vua họ Trịnh, húy là Thương, chăm đạo đàn bà, cửa nhà hòa vui, gia đạo thêm thịnh, sinh ba con trai, trưởng là Học, thứ là Trừ, út là vua. Người con trưởng được cha truyền nghiệp, không may chết non. Vua vâng thừa nghiệp của ông cha, một lòng kính cẩn. Tuy thời gặp loạn lớn mà chí càng thêm bền, giấu mình ở Lam Sơn, làm nghề cày cấy. Vì giận giặc tàn bạo, càng chuyên tâm vào sách lược thao, dốc hết của nhà khoản đãi tân khách. Năm Mậu Tuất (1418) dấy hưng nghĩa binh đóng trên sông Lạc Thủy, trước sau hơn hai mươi trận, đều đặt mai phục, dùng kỳ binh, tránh mũi nhọn, thừa chỗ hư, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.. Năm Bính Ngọ (1426) đánh ở Ninh Ðộng (tức Ninh Kiều và Tốt Ðộng) đại thắng liền tiến vây Ðông Ðô. Năm Ðinh Mùi (1427) giặc gửi viện binh. An Viễn hầu Liễu Thăng đem mười vạn quân do Quảng Tây tiến, Kiềm Quốc công Mộc Thạnh đem năm vạn quân do Vân Nam tiến. Một trận Chi Lăng, Liễu Thăng nộp đầu, chém quân giặc hơn mấy vạn tên, bắt sống bọn Hoàng Phúc, Thôi Tụ hơn ba trăm người và hơn vạn binh sĩ. Sắc mệnh và binh phù bắt được của Liễu Thăng gửi đến quân Vân Nam, Mộc Thạnh trông thấy nhân đêm chạy trốn, giặc bị chém đầu và bị bắt sống không biết bao nhiêu mà kể. Bấy giờ trấn thủ thành Ðông Quan là bọn Thành Sơn hầu Vương Thông trước đã cùng quân ta giảng hòa mà chưa xong, đến đây, xin thề ở trên sông Nhị, những thành trì trấn thủ các xứ đều mở cửa ra hàng. Những quân giặc bị bắt và những quân đầu hàng có đến mười vạn người, đều tha cho về cả. Ðường thủy thì cấp cho hơn năm trăm thuyền, đường bộ thì cấp cho lương ăn và ngựa; răn cấm quân sĩ (của ta) không được xâm phạm mảy may (đến quân giặc). Hai nước từ đấy giao hảo, Bắc Nam vô sự. Mường Lễ và Ai Lao dần vào bản đồ, Chiêm Thành và Chà-và vượt biển đến cống. Vua thức khuya dậy sớm sáu năm mà trong nước thịnh trị, đến nay băng. Thuận Thiên năm thứ sáu, Quí Sửu tháng 10 ngày tốt, Vĩnh Lộc đại phu nhập nội hành khiển tri tam quán sự, thần Nguyễn Trãi vâng soạn. (Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,1976) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản. Câu 2. Chỉ ra tên ba trận thắng lớn của vua Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn được nêu trong văn bản. Câu 3. Lòng khoan dung độ lượng của vua Lê Lợi thể hiện qua chi tiết nào? Câu 4. Chi tiết “Tuy thời gặp loạn lớn mà chí càng thêm bền, giấu mình ở Lam Sơn, làm nghề cày cấy. Vì giận giặc tàn bạo, càng chuyên tâm vào sách lược thao, dốc hết của nhà khoản đãi tân khách” cho thấy những phẩm chất gì của vua Lê Lợi ? Câu 5. Khái quát nội dung chính của văn bản. Câu 6. Nêu những bài học mà người đời sau có thể nhận ra từ bài văn bia. Giúp em với

0