anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 - 800 chữ) so sánh, đánh giá (giống và khác nhau) của hai đoạn thơ "Tự hát" của Xuân Quỳnh và "Tương tư, chiều.... " của Xuân Diệu
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Sóng là bài thơ ngũ ngôn hiện đại, Mặt trăng là thơ ngũ ngôn truyền thống, hai bài thơ có những điểm giống và khác nhau:
a. Giống nhau:
- Mỗi câu có năm tiếng.
- Đều có thể dùng vần chân, vần liền, vần lưng, vẫn cách, …
- Các thanh bằng trắc cũng có thể đối nhau, nhất là những vị trí quan trọng.
b. Khác nhau:

Biển từ lâu là nguồn cảm hứng thi ca bất tận. Trong bài thơ “Biển” của Puskin, biển hiện lên hùng vĩ, mênh mông, vừa dữ dội vừa bí ẩn. Đối với thi sĩ, biển là “người bạn tự do”, là tri âm để gửi gắm khát vọng vượt thoát khỏi những ràng buộc tầm thường, khẳng định tinh thần lãng mạn và khao khát phiêu lưu. Còn trong “Biển” của Xuân Diệu, biển trở thành ẩn dụ cho tình yêu đôi lứa. Nhà thơ say sưa ca ngợi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, sâu thẳm như biển khơi, luôn dào dạt sóng vỗ. Nếu biển trong thơ Puskin gợi tầm vóc sử thi, khát vọng tự do, thì biển trong thơ Xuân Diệu lại đậm chất trữ tình, gắn với trái tim yêu tha thiết của con người. Dẫu khác biệt về góc nhìn, cả hai bài thơ đều gặp gỡ ở điểm chung: mượn hình tượng biển để bộc lộ những cảm xúc lớn lao, những khát vọng cháy bỏng của con người. Hai tác phẩm đã đem đến hai cách cảm nhận khác nhau, làm phong phú thêm vẻ đẹp của biển trong thơ ca nhân loại.
--Chúc bạn học tốt nha!!!--
Mở bài:
- Giới thiệu đề tài: Trong văn học, đặc biệt là trong thơ ca, "Đất nước" luôn là một chủ đề bao la, thiêng liêng và sâu sắc. Hai đoạn thơ dưới đây đều viết về đất nước nhưng thể hiện theo những cách khác nhau, từ hình ảnh đất nước gắn liền với thiên nhiên, con người cho đến những suy ngẫm về Tổ quốc qua lịch sử và thời gian.
- Nêu vấn đề cần so sánh, đánh giá: Hai đoạn thơ được chọn là của Nam Hà và Nguyễn Tiến Đường, mỗi tác phẩm đều mang trong mình một tình yêu đất nước sâu sắc, nhưng cách thức thể hiện và các yếu tố được nhấn mạnh lại khác biệt.
Thân bài:
I. So sánh về hình ảnh đất nước trong hai đoạn thơ
- Đoạn thơ của Nam Hà:
- Đất nước là hình ảnh của thiên nhiên:
- "Đất Nước của thơ ca / Của bốn mùa hoa nở": Đất nước gắn liền với cảnh sắc thiên nhiên, mùa màng, hoa nở, tượng trưng cho sự sống mãnh liệt và sự tươi mới của đất nước.
- "Đất Nước của những dòng sông / Gọi tên nghe mát rượi tầm hồn": Sông ngòi mang lại sự bình yên, mát mẻ cho tâm hồn con người, nhấn mạnh sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.
- Đất nước gắn liền với con người:
- "Đất Nước của những người mẹ / Mặc áo thay vai": Tác giả tôn vinh những người phụ nữ Việt Nam, những người mẹ hiền hậu, tần tảo, hy sinh cho gia đình và cho đất nước.
- "Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu": Hình ảnh người mẹ hy sinh thầm lặng, làm nền tảng vững chắc cho sự chiến đấu và bảo vệ đất nước.
- Đoạn thơ của Nguyễn Tiến Đường:
- Đất nước qua hình ảnh lịch sử và truyền thống:
- "Tổ quốc trải bao mùa binh biến": Đoạn thơ nhấn mạnh đất nước đã trải qua bao cuộc chiến tranh, thể hiện sự gian nan, khắc nghiệt trong quá trình dựng nước và giữ nước.
- "Tổ quốc sáng ngời... “Đại cáo bình Ngô”": Gợi lại chiến thắng lịch sử, khẳng định sức mạnh của dân tộc qua những trang sử hào hùng.
- Đất nước qua sự hi sinh của con người:
- "Tổ quốc mình chỉ một mẹ thôi / Chân lấm bùn áo nâu sồng vẫn vậy": Hình ảnh người mẹ Việt Nam giản dị nhưng cao quý, không chỉ là người mẹ của gia đình mà còn là mẹ của dân tộc, gắn liền với sự hy sinh trong chiến đấu.
- "Dạy con biết ngọn nguồn sau trước / Qua cay đắng tìm đến ngọt ngào": Nhấn mạnh giá trị của sự kiên trì, kiên cường trong cuộc sống và lịch sử dân tộc.
II. So sánh về hình thức biểu đạt và cảm xúc trong hai đoạn thơ
- Đoạn thơ của Nam Hà:
- Tình yêu đất nước thể hiện qua hình ảnh cụ thể và gần gũi: Thiên nhiên, sông núi, con người được miêu tả theo cách mượt mà, ấm áp, tạo nên một cảm giác bình yên và tự hào.
- Sử dụng những hình ảnh giàu sức gợi: "Ngọt lịm những giọng hò xứ sở", "mượt mà như nhung lụa" mang lại sự mềm mại, dễ chịu khi nghĩ về đất nước.
- Phong cách thơ nhẹ nhàng, giàu cảm xúc: Thể hiện tình yêu đất nước một cách lãng mạn, ngọt ngào.
- Đoạn thơ của Nguyễn Tiến Đường:
- Tình yêu đất nước qua hình ảnh lịch sử và truyền thống: Tác giả nhấn mạnh đến sức mạnh ý chí, sự kiên cường và những cuộc chiến tranh mà dân tộc ta đã trải qua. Đoạn thơ mang tính sử thi, mạnh mẽ và kiên định.
- Sử dụng hình ảnh mẹ Việt Nam: Hình ảnh người mẹ trong thơ Nguyễn Tiến Đường không chỉ là người mẹ trong gia đình mà còn là biểu tượng cho dân tộc, sự hy sinh và cống hiến của nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ.
- Phong cách thơ mang tính sử thi, đầy chất anh hùng: Thơ mang âm hưởng sử thi, mạnh mẽ và quyết liệt, phản ánh ý chí bất khuất của dân tộc.
III. Đánh giá về ý nghĩa và thông điệp của mỗi đoạn thơ
- Đoạn thơ của Nam Hà:
- Thông điệp về tình yêu quê hương, đất nước: Đoạn thơ của Nam Hà mang đến một hình ảnh đất nước đầy sức sống, tươi đẹp, gắn bó mật thiết với thiên nhiên và con người. Thông điệp của tác giả là tình yêu đất nước cần được nuôi dưỡng từ những điều giản dị nhất, từ thiên nhiên, con người và những giá trị truyền thống.
- Tinh thần đoàn kết và bảo vệ đất nước: Thơ ca không chỉ là sự yêu mến mà còn là sự tôn vinh những giá trị nhân văn, của những con người thầm lặng hy sinh cho đất nước.
- Đoạn thơ của Nguyễn Tiến Đường:
- Thông điệp về lòng yêu nước, sự kiên cường và bất khuất: Đoạn thơ thể hiện hình ảnh đất nước qua chiều dài lịch sử và những hy sinh của dân tộc trong các cuộc chiến tranh, từ đó khẳng định Tổ quốc thiêng liêng và bất diệt. Thông điệp của tác giả là một lời kêu gọi tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước mạnh mẽ và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc.
- Tinh thần chiến đấu và hi sinh: Thông điệp của đoạn thơ mang tính anh hùng, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào sức mạnh của đất nước.
Kết bài:
- Tóm tắt đánh giá: Cả hai đoạn thơ đều bày tỏ tình yêu đất nước, nhưng mỗi tác giả lại có cách thể hiện riêng biệt. Nam Hà đưa người đọc vào thế giới thiên nhiên tươi đẹp, dịu dàng của đất nước, còn Nguyễn Tiến Đường lại khắc họa hình ảnh đất nước qua những cuộc chiến tranh, những hy sinh của nhân dân, với tinh thần anh hùng và bất khuất.
- Khẳng định giá trị chung: Mặc dù khác nhau về cách thức thể hiện, nhưng cả hai đoạn thơ đều chung một thông điệp: tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với đất nước, qua đó khơi dậy lòng tự hào, sự trân trọng và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng của mỗi con người.
Xin lỗi mình chỉ biết làm câu 3 thôi !
Mùa xuân thật là đẹp ! Mới sớm mai , ông mặt trời còn chưa lên mà chú gà trống đã cất tiếng gáy " Ò ,ó ,O " gọi mọi người dậy . Trước sân làng mọi người tập trung lại ,tổ chức một trò chơi liên quan đến sức khoẻ để mừng mùa xuân đến . Còn chúng em thì ở nhà chuẩn bị để đi đón tết . Mọi người đều rất vui và náo nhiệt ! Mặt đất như dung chuyển. Lúc này vật hay thiên nhiên , cây cỏ như đang ca múa , nói chuyện cùng chúng em .
- Một số bài thơ dùng hình tượng “sóng” và “biển” để nói về tình yêu:
+ Bài thơ “Biển” – Xuân Diệu
… Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt…
+ Bài thơ Biển nhớ - Minh Lý
Em một mình trên biển
Khung trời của riêng anh
Tình em như con sóng
Cuồn cuộn mỗi chiều hè.
Em muốn gửi cho anh
Tình muôn đời thắm mãi
Như bến bờ hoang dại
Yêu mãi biển trong xanh.
Em chờ anh về nhé
Biển mãi gọi tên anh
Gió buồn ru khe khẽ
Lời riêng em ngọt lành.
Về biển khơi anh nhé
Tình nồng bên biển xanh
Con sóng hiền vỗ mãi
Em vẫn hoài chờ anh.
- Qua các bài thơ nói mượn hình tượng “sóng” và “biển” để nói về tình yêu, ta càng thấy rõ nét được những sáng tạo đặc sắc của Nhà thơ Xuân Quỳnh khi viết bài thơ Sóng: âm điệu tự nó tạo thành một hình tượng sóng, phù hợp với nhịp điệu tâm trạng của người con gái đang yêu; hồn thơ của Xuân Quỳnh luôn tự bộc lộ những khát vọng, những say đắm rạo rực, những suy tư day dứt, trăn trở của lòng mình trong tình yêu.
Tham khảo:
“Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh là một bài thơ giàu ý nghĩa, đặc biệt là khổ thơ nói về sự thay đổi của trái đất khi trẻ con được sinh ra. Trước đó, trái đất thật là trần trụi: không một dáng cây ngọn cỏ, cũng như không có ánh sáng hay màu sắc. Thì sau khi trẻ con ra đời, trái đất đã hoàn toàn thay đổi. Đầu tiên là sự xuất hiện của mặt trời xuất hiện giúp trẻ con nhìn rõ. Màu xanh của cây cỏ, màu đỏ bông hoa giúp trẻ con nhận biết màu sắc. Và tiếng chim hót, tiếng gió thổi cho trẻ con cảm nhận âm thanh. Sông xuất hiện giúp trẻ con tắm rửa sạch sẽ. Biển lại giúp trẻ con suy nghĩ, cung cấp cá tôm và phương tiện là tàu thuyền để khám phá khắp nơi. Khi trời nắng, những đám mây đem bóng mát cho trẻ em. Và khi trẻ em bắt đầu tập đi thì con đường xuất hiện. Mọi sự việc xuất hiện đều xoay quanh trẻ em. Điều đó đã giúp người đọc hiểu hơn về tầm quan trọng của trẻ em trong cuộc sống.
So sánh và đánh giá hai đoạn thơ “Tự hát” của Xuân Quỳnh và “Tương tư, chiều...” của Xuân Diệu
Thơ tình Việt Nam hiện đại có sự góp mặt của nhiều tác giả nổi tiếng, trong đó Xuân Quỳnh và Xuân Diệu là hai cây bút tiêu biểu với những áng thơ trữ tình sâu sắc và giàu cảm xúc. Hai đoạn thơ “Tự hát” của Xuân Quỳnh và “Tương tư, chiều...” của Xuân Diệu tuy khác nhau về giọng điệu và phong cách, nhưng đều thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, chân thật về tình yêu. Bài viết này sẽ so sánh và đánh giá những điểm giống và khác nhau của hai đoạn thơ để làm rõ nét đặc sắc trong cảm xúc và nghệ thuật của từng tác giả.
Trước hết, về điểm giống nhau, cả hai đoạn thơ đều bộc lộ tình yêu nồng nàn, cháy bỏng, đồng thời phản ánh những cung bậc tâm trạng đa dạng của người đang yêu. Ở “Tự hát”, Xuân Quỳnh thể hiện tâm trạng người con gái yêu thương sâu sắc, tự nhiên và ngây thơ. Câu thơ vừa dịu dàng vừa dạt dào cảm xúc, như lời tâm sự chân thành: “Em hát cùng anh nghe, bài hát yêu đời”. Trong khi đó, “Tương tư, chiều...” của Xuân Diệu cũng tràn ngập cảm xúc yêu thương mãnh liệt, nhưng mang sắc thái nồng nhiệt, say đắm hơn. Câu thơ thể hiện sự khát khao, trăn trở của người đang yêu trong không gian hoàng hôn đầy mộng mơ: “Chưa chiều, mưa chưa ngừng rơi”. Cả hai đoạn thơ đều cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa tình yêu với thiên nhiên, cảm xúc thường được soi chiếu qua hình ảnh thiên nhiên đầy biểu cảm.
Về sự khác biệt, trước hết phải kể đến giọng điệu và phong cách của mỗi đoạn thơ. “Tự hát” của Xuân Quỳnh mang nét nữ tính, dịu dàng, trong sáng và gần gũi. Ngôn từ được sử dụng nhẹ nhàng, mộc mạc mà vẫn tinh tế, tạo cảm giác thân thuộc, chân thành. Tình yêu trong thơ như một bài hát vang lên nhẹ nhàng, thanh thản và đầy hy vọng. Ngược lại, “Tương tư, chiều...” của Xuân Diệu lại có giọng điệu nồng nàn, thiết tha pha chút bồn chồn, day dứt. Hình ảnh và ngôn từ của Xuân Diệu giàu tính tượng trưng và biểu cảm, mang hơi hướng hiện đại, phức tạp hơn. Bài thơ mang không khí mơ hồ, đượm buồn của chiều tà, cùng với nỗi nhớ khôn nguôi về người yêu, tạo nên sự kịch tính cảm xúc.
Về hình ảnh nghệ thuật, Xuân Quỳnh sử dụng các hình ảnh gần gũi, chân thực như “bài hát yêu đời” để biểu đạt niềm tin vào tình yêu và cuộc sống, thể hiện sự lạc quan và tràn đầy sức sống của người con gái trẻ. Trong khi đó, Xuân Diệu lại tạo nên những hình ảnh thiên nhiên đầy tính thơ mộng và biểu tượng như “mưa”, “chiều”, “tương tư” nhằm khắc họa tâm trạng ngập tràn nỗi nhớ và những giằng xé nội tâm. Sự khác biệt này phản ánh cá tính nghệ thuật của mỗi nhà thơ: Xuân Quỳnh nhẹ nhàng, dịu dàng, còn Xuân Diệu mãnh liệt, đa cảm.
Ngoài ra, hai đoạn thơ còn thể hiện cách tiếp cận và diễn đạt tình yêu khác nhau. Xuân Quỳnh chú trọng thể hiện tình yêu một cách chân thành, giản dị và trong sáng, tập trung vào cảm xúc thân mật, gần gũi giữa hai người. Còn Xuân Diệu lại khám phá những cảm xúc mãnh liệt, sâu sắc và đa chiều hơn, đưa người đọc vào một không gian tình yêu vừa đẹp đẽ, vừa day dứt. Điều này phản ánh sự khác biệt trong thế hệ và quan niệm về tình yêu giữa hai nhà thơ.
Tóm lại, “Tự hát” của Xuân Quỳnh và “Tương tư, chiều...” của Xuân Diệu đều là những tác phẩm tiêu biểu thể hiện vẻ đẹp của tình yêu trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Hai đoạn thơ có điểm chung là đều bộc lộ tình cảm yêu thương chân thành, đậm đà, nhưng cũng có sự khác biệt rõ rệt về giọng điệu, hình ảnh và cách thể hiện cảm xúc. Xuân Quỳnh mang đến một tình yêu dịu dàng, giản dị mà sâu sắc, trong khi Xuân Diệu lại khắc họa tình yêu nồng nàn, mãnh liệt và đầy trăn trở. Hai phong cách thơ ấy bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú thêm bức tranh thơ tình Việt Nam hiện đại.