(4 điểm) Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)
(1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
- Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
(2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản?
Câu 2. Phát biểu chủ đề của văn bản.
Câu 3. Vì sao người cha lại ngăn cản mối hôn sự của chàng trai với con gái mình? Nhận xét về cách hành xử của người cha.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo trong đoạn (2).
Câu 5. Từ nội dung của văn bản, hãy trình bày suy nghĩ của em về khát vọng tình yêu thời phong kiến (khoảng 5 - 7 dòng).
C1:truyện truyền kì
Câu1:
-Thể loại của văn bản: truyện truyền kì.
Câu2:
-Chủ đề của văn bản: Ca ngợi tình yêu son sắt, thủy chung của đôi trai gái, đồng thời thể hiện sự cảm thương về bi kịch tình yêu trước hoàn cảnh và địa vị trong xã hội xưa.
Câu3:
-Người cha ngăn cản mối hôn sự vì chàng trai có gia cảnh nghèo khó, không tương xứng với gia đình mình.
-Cách hành xử của người cha có phần khắt khe, gia trưởng , quá coi trọng giàu nghèo mà không tôn trọng tình yêu của các con.
Câu 4:
-Chi tiết kì ảo: Khối đá đỏ tan thành nước, những giọt nước biến thành máu tươi khi chàng trai rơi lệ.
-Tác dụng:
+Làm tăng sức sinh động và hấp dẫn cho văn bản.
+Thể hiện nỗi đau đớn, sự xúc động của chàng trai trước tình yêu đầy sóng gió.
+Đồng thời tác giả ca ngợi tình yêu son sắt, thủy chung và sức mạnh của tình yêu có thể vượt qua mọi khó khăn.
Câu 5:
Trong xã hội phong kiến, tình yêu đôi lứa luôn là khát vọng đẹp đẽ nhưng cũng đầy trắc trở. Những người yêu nhau mong muốn được gắn bó, sống hạnh phúc bên người mình yêu. Tuy nhiên, tình yêu của họ thường bị ngăn cản bởi lễ giáo phong kiến, sự sắp đặt của cha mẹ và quan niệm môn đăng hộ đối. Điều đó khiến nhiều đôi lứa phải chịu đau khổ, thậm chí rơi vào bi kịch. Qua câu chuyện, em càng trân trọng tình yêu chân thành, thủy chung và khát vọng hạnh phúc của con người. Mỗi người cần biết tôn trọng tình cảm, sự lựa chọn chính đáng của người khác.