(4 điểm) Đọc văn bản sau:
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ.
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Vùi nông một nấm(8), mặc dầu cỏ hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!"
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa(10):
"Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chú thích:
(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.
(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.
(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.
(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.
(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).
(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.
(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.
(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.
(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời.
(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra một điển tích, điển cố được sử dụng trong văn bản.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ sau:
Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Câu 4. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.
Câu 5. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thúy Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thúy Kiều là người con gái như thế nào?

Câu1
Văn bản sử dụng thể thơ:lục bát
Câu2
"Châu sa": nước mắt hóa thành ngọc,thể hiên những giọt nước mắt đau thương
Câu3
Biện pháp tu từ:từ láy"sè sè""dầu dầu "
Tác dụng:
- làm cho bài thơ thêm sinh động hấp dẫn tăng sức gợi hình gợi cảm thu hút người đọc người nghe
- nhấn mạnh sự lạnh lẽo,hoang vắng của một ngôi mộ nhỏ,đồng thời thể hiện nỗi buồn,niềm sót sa của tác giả
Câu4
Trong văn bản được sử dụng nhiều từ lấy như:sè sè , dầu dầu , xôn xao , mong manh ,...
Hệ thống từ láy có khả năng gợi hình gợi cảm,gợi thanh điệu.giúp khung cảnh hiện lên cụ thể , sinh động nhưng vẫn mang vẻ hoang vắng , lạnh lẽo . Đồng thời chúng còn góp phần diễ tả tâm trạng đau sót,bâng khuâng của Thúy Kiều giúp cho bài thơ trở nên giàu tính biểu cảm
Câu5
Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên,Thúy Kiều thể hiện nỗi xót xa,thương cảm,và sự đồng cảm sâu sắc . Kiều không chỉ thương cho một con người tài sắc bạc mệnh mà c òn lo lắng về số phận của chính mình. Tuy chưa từng gặp mặt nhưng Kiều vẫn dành cho Đạm Tiên sự thương cảm chân thành nhất
Điều đó cho thấy Thúy Kiều là một người giàu lòng nhân ái , tình cảm và có sự đồng cảm,trân trọng chân thành,sâu sắc cho những số phận bất hạnh khác
Èbhjjjju
E