Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.
BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa trăm ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
(Hoàng Cầm)
Câu 1 ; trong cuộc sống này chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta biết yêu thương vạn vật . Yêu thương vạn vật là yêu những điều nhỏ nhặt bên cạnh chính mình , ta không nên vì nó nhỏ bé mà ghét bỏ nó cũng không nên vì nó to lớn mà sợ hãi nó . Yêu thương vạn vật sẽ dạy cho ta trân trong những gì ta có từ đó chân trọng cuộc sống này giống như hoa hậu nguyễn thúc thùy tiên một người thành công khi còn rất trẻ ở cô chúng ta học được một trong những yếu tố thành công chính là lòng yêu thương từ những điều nhỏ nhất
câu 2 Bên này – bên kia, một dòng sông chia cách hai khoảng trời, chia cách đôi bờ Kinh Bắc một bên là vùng tự do, một bên đã bị giặc chiếm đóng. Cấu trúc “sao nhớ tiếc” “sao xót xa” ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ “sao” như xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hoá như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. “Như rụng bàn tay – một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:
Bằng những câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và hương vị. Lời giới thiệu “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” hết sức mộc mạc, nó như một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hoá tinh hoa của con người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen... chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ “sáng bừng” được dùng khá độc đáo, nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. “Màu dân tộc” trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng Cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim khói lửa, nhà thơ đã diễn tả nồi đau xót căm hờn xen lẫn sự tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:
Câu thơ đầu giống như câu thơ bản lề làm chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc xâm chiến là những ngày “khủng khiếp” cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gọi tả sự khốc liệt này, hình ảnh “lửa hung tàn” gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thòi là tiếng nói tố cáo phê phán gay gắt chiến tranh. Nếu ở khổ thơ phía trên nhịp thơ đều đặn dàn trải ổn định thì đến khổ thơ này những câu thơ ngôn ngắt nhịp mạnh dồn dập liên tiếp chỉ tội ác chồng chất của kẻ thù cùng với niềm căm thù ngút tròi và nổi đau tột cùng của con người Từ láy “ngùn ngụt” không chi là từ gợi hình chi ngọn lửa mà chính là lòng căm thù của con người bị đốt cháy – những câu thơ của Hoàng Cầm rất giàu sắc thái biểu cảm, bao trùm lên không gian là sự hoang tàn, vắng lạnh, xơ xác, không còn cái vẻ thanh bình, cái nét trù phú tươi tắn. Tất cả chi là một cảnh tượng chia li chết chóc. Chữ kiệt cùng được dùng rất hay – không gian càng trở nên sâu thẳm, nỗi đau được biểu hiện tột cùng. Điều đặc biệt là tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về cuộc sống chia li hoang tàn vẫn được biểu hiện rõ, ông đã mượn hình ảnh nhũng con vật vô tri trong bức tranh Đông Hồ để nói về nỗi đau của con người, đây là một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà thơ Hoàng Cầm. Đằng sau nỗi đau là hình ảnh quê hương Kinh Bắc với những phong tục tập quán, những hội hè, đình đám, được gợi nhắc lại hết sức sống động:
Chỉ bằng vài nét phác hoạ, Hoàng Cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống, những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những nỗi ám ảnh trong Hoàng Cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc. Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:
Chữ “Có nhớ” đặt ở đầu câu thơ là lời gợi nhắc đầy ám ảnh, hình ảnh “khuôn mặt búp sen” gợi tả khuôn mặt người con gái vừa đoan trang, trong trắng, phúc hậu vừa dịu dàng, và đây cũng là nét vẽ điển hình nhất của người con gái Kinh Bắc nói riêng và của người con gái Việt Nam nói chung. Và gắn liền với hình ảnh “cô hàng xén ràng đen”, đây lại là một phong tục tập quán cổ truyền, một nét vẽ truyền thống người con gái Kinh Bắc. Cái hay nhất của đoạn thơ trên là biện pháp tu từ so sánh giữa nụ cười thiếu nữ Kinh Bắc với ánh nắng mùa thu. Dường như ở đây có một sự giao hoà giữa vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất trời. Nét rạng ngời tươi tắn trong nụ cười cô gái cũng giống với nét rạng ngời tươi tắn của nắng mùa thu chứ không phải cái nắng nóng bỏng gay gắt của mùa hè hay yếu ớt ảm đạm của mùa đông, nắng thu như toả trong nó một sức sống mạnh mẽ. Đến đây người đọc như không còn thấy dấu tích của chiến tranh, bởi vậy câu thơ ẩn chứa một niềm tin tưởng lạc quan của con người. Một không gian Kinh Bắc nhộn nhịp, tấp nập được gợi tả qua một loạt những câu thơ tiếp, hình ảnh người người đông đúc trong một không khí tưng bừng náo nức đã khẳng định một sức sống mạnh mẽ của quê hương Kinh Bắc. Tình yêu quê hương Kinh Bắc tràn đầy trong những vần thơ. Trong hoài niệm của Hoàng Cầm về con người Kinh Bắc có hình ảnh người mẹ:
Những câu thơ đậm màu sắc tả thực. Từ láy “còm cõi” đã diễn tả rất tinh tế vóc dáng khổ hạnh của người mẹ đồng thời chỉ rõ những vất vả, nhọc nhằn, lo toan mà người mẹ phải chịu đựng, trong lòng người đọc như dâng lên sự cảm thương sâu sắc. Gian hàng của người mẹ chẳng có gì, dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy đã hoen vàng. Các từ “dăm”, “vài” là các từ chỉ số nhiều nhưng trong cảm nhận của người đọc, người ta ngỡ như chỉ những thứ hàng hoá ít ỏi, sơ sài của người mẹ, chữ “hoen” được sử dụng rất hay, “hoen” không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:
Tác giả gọi kẻ thù là “lũ quỷ mắt xanh” – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và dã man của kẻ thù, từ láy “trừng trợn” không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, doạ dẫm của kẻ thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc. Không những thế, chữ “chợt” chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu cảm cao “khua” “đạp”, “xì xồ”, “tan”, “gầy teo” diễn tả những hành động dã man liên tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát đầy xúc động:
Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu lá đa lác đác trước lều” gợi âm điệu buồn tẻ, rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ “vài ba”, loang được sử dụng rất đắt giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đan...
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Suy nghĩ về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.
Trong cuộc sống, con người không tồn tại một cách đơn lẻ mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, muôn loài và môi trường xung quanh. Vì thế, yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà còn là trách nhiệm của mỗi con người. Khi biết yêu thương cây cỏ, động vật và thiên nhiên, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và hài hòa hơn với thế giới. Yêu thương vạn vật giúp con người trân trọng sự sống, hiểu rằng mỗi sinh linh đều có giá trị riêng. Một hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, bảo vệ động vật hay tiết kiệm tài nguyên cũng thể hiện tình yêu với vạn vật. Ngược lại, nếu con người sống ích kỉ, tàn phá thiên nhiên, ngược đãi động vật thì cuối cùng chính con người sẽ phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm môi trường, thiên tai hay dịch bệnh. Trong xã hội hiện đại, việc giáo dục ý thức yêu thương vạn vật càng trở nên cần thiết. Khi con người biết sống chan hòa với thiên nhiên, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bền vững hơn. Yêu thương vạn vật cũng chính là yêu thương cuộc sống và tương lai của chính mình.
Câu 2 (khoảng 600 chữ) Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.
Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là khúc bi ca thấm đẫm nỗi đau và tình yêu quê hương da diết. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đầy xót xa của quê hương Kinh Bắc từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang cảnh điêu tàn, đổ nát bởi chiến tranh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước và nỗi căm thù giặc cháy bỏng của nhà thơ.
Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh lúa nếp không chỉ gợi sự no đủ, ấm êm mà còn mang hương vị thân thương của làng quê Bắc Bộ. Cùng với đó, “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” đã gợi lên một không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, nơi nghệ thuật dân gian gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân. Những “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sắc màu của tranh vẽ mà còn là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho vẻ đẹp thuần khiết, lạc quan của con người Kinh Bắc. Quê hương trong ký ức nhà thơ là một miền đất đẹp đẽ, yên vui, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ trọn vẹn những giá trị văn hóa lâu đời.
Thế nhưng, chiến tranh đã tàn nhẫn phá vỡ tất cả. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” – hai câu thơ như một nhát cắt dữ dội, đánh dấu bước ngoặt bi thương của số phận quê hương. Hàng loạt hình ảnh đau xót hiện ra: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện thực tang thương mà còn cho thấy sự hủy diệt toàn diện của chiến tranh: từ con người đến cảnh vật, từ sự sống đến niềm vui đều bị vùi dập không thương tiếc. Giọng thơ dồn dập, từ ngữ mạnh mẽ đã khắc họa rõ nét bộ mặt tàn bạo của kẻ thù và nỗi đau tột cùng của quê hương bị giày xéo.
Đau đớn hơn cả là chiến tranh không chỉ cướp đi cuộc sống yên bình mà còn làm tan vỡ những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc như tranh Đông Hồ, “đám cưới chuột” – biểu tượng cho đời sống vui tươi, no đủ – giờ đây chỉ còn là hoài niệm. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa khôn nguôi của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp nổi của quê hương.
Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện chân thực hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm đau thương và lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác phẩm đồng thời thức tỉnh trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình, gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước – bởi đó là những điều thiêng liêng không gì có thể thay thế.