Viết Báo cáo nghiên cứu Những xu hướng hay hiện tượng âm nhạc đang được học sinh quan tâm
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
BÁO CÁO
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò của đất đối với thực vật
Họ và tên: Nguyễn Trần Bảo Lan
Học sinh lớp: 7A Trường: THCS Hoàng Hoa Thám.
1. Câu hỏi nghiên cứu: Tại sao lại có thể canh tác thủy canh (Trồng cây trên nước) mà thực vật vẫn có thể sinh trưởng bình thường?
2. Giả thuyết nghiên cứu (hoặc dự đoán):
Đất chỉ đóng vai trò làm giá thể giúp cố định cây trên mặt đất.
3. Kế hoạch thực hiện:
- Nghiên cứu tài liệu:
+ Tìm hiểu các bài báo khoa học liên quan
+ Tham khảo phương pháp thủy canh trong nông nghiệp
- Lên kế hoạch thực hiện:
Bước 1: Lập các ô thí nghiệm: Trồng các cây rau cải (10 cây 1 lô thí nghiệm, sức sống các cây ban đầu là như nhau) trong các điều kiện khác nhau.
+ Ô 1: trồng cây trên cát (đất không chứa khoáng chất) và tưới nước cất
+ Ô 2: trồng cây trên cát (đất không chứa khoáng chất) và tưới nước dinh dưỡng (được bổ sung các chất cần thiết)
+ Ô 3: trồng cây trên môi trường thủy sinh (Nước dinh dưỡng)
Bước 2: Tiến hành quan sát sinh trưởng của cây liên tục trong 10 ngày. Tiến hành xem độ xanh tốt và đo chiều cao của cây 3 ngày 1 lần, ghi chép số liệu.
Bước 3: Phân tích số liệu đã thu được và kết luận.
4. Kết quả triển khai kế hoạch:
+ Ô 1: Cây có hiện tượng héo sau 5 ngày, ngày 10 số cây chết một nửa phần còn lại sinh trưởng yếu.
+ Ô 2: Các cây sinh trưởng tốt bình thường.
+ Ô 3: Các cây sinh trưởng tốt bình thường.
5. Kết luận: Trong tự nhiên đất đóng vai trò là giá thể giúp cố định cây, trong đất canh tác tự nhiên có chứa các chất khoáng, các chất này hòa tan trong nước sau đó được cây hấp thụ, giúp cây sinh trưởng và phát triển.
STT | Nội dung vấn đề | Câu hỏi nghiên cứu |
1 | Hoa hướng dương luôn hướng về phía ánh sáng mặt trời. | Có phải ánh sáng mặt trời đã gây nên tính hướng sáng dương ở hoa? |
2 | Thân cây luôn có xu hướng mọc cong lên phía trên. | Có phải thân cây có tính hướng trọng lực âm? |
3 | Rễ cây luôn hướng về phía có nguồn nước. | Có phải rễ cây có tính hướng nước dương? |
4 | Một số loài thực vật có hiện tượng khép lá khi bị va chạm. | Có phải lá cây bị khép lại khi va chạm là hiện tượng ứng động ở thực vật? |
5 | Bầu, bí sẽ sinh trưởng và phát triển tốt hơn khi làm giàn. | Có phải các cây thân leo có tính hướng tiếp xúc? |
* Bài viết tham khảo:
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HANH VI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH HIỆN NAY
Tóm tắt
Tình trạng bạo lực học đường hiện nay có chiều hướng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp. Vấn nạn bạo lực học đường đã trở thành tình trạng tức gây nhức nhối của ngành giáo dục và toàn xã hội. Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường cũng vô cùng phức tạp từ cá nhân, gia đình, bạn bè, trường học cho đến môi trường bên ngoài xã hội. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra những ảnh hưởng dẫn đến hành vi bạo lực học đường của học sinh hiện nay. Và với một số khảo sát đối với các học sinh khối THCS và THPT về vấn đề này, sau khi phân tích thu được kết quả như sau: hành vi bạo lực từ những học sinh nam chiếm ưu thế nhiều hơn học sinh nữ và xuất hiện đa phần ở khối THPT và THCS thì chiếm ít hơn.
Từ khóa: ảnh hưởng, bạo lực học đường
1. Giới thiệu
Bạo hành học đường được hiểu như là một hành động đối xử thô bạo của giới học sinh. Dưới góc độ pháp luật quy định tại Khoản 5 Điều 2 Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường thì “bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập ”. Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất về bạo hành học đường đó là một hành vi gây thương tích một cách có chủ đích đối với người khác, gây tổn hại về mặt sức khỏe cũng như tinh thần của người bị hại, từ đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, tính cách và tương lai của người đó. Đây là thực trạng phổ biến trên toàn cầu với mức độ, số lượng ngày càng tăng, theo thống kê về số liệu được Bộ Giáo dục và đào tạo đưa ra gần đây nhất, trong một năm học, toàn quốc xảy ra gần 1 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trường học (khoảng 5 vụ/ngày). Cũng theo thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo, cứ khoảng trên 5 học sinh thì có một vụ đánh nhau; cứ hơn 11 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường thì có một trường có học sinh đánh nhau..ông chỉ vậy, bạo lực có thể từ chính thầy cô, nhà trường với học sinh, từ học sinh cùng trường với nhau hoặc học sinh khác trường, có thể từ các mâu thuẫn rất nhỏ. Bạo lực học đường đã trở thành mối lo ngại của rất nhiều gia đình, các nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra.
2. Sơ lược một số nghiên cứu liên quan
BLHĐ (bạo lực học đường) có thể xảy ra giữa GV và HS hoặc giữa các em HS với nhau, có từ 22,4 % đến 66,3 % HS cho biết, đã bị bạn học dùng điện thoại internet đưa tỉn nói xấu xúc phạm hoặc chửi mắng, đe dọa; 2,2 % bị bạn dùng hung khí tấn công. Từ 22,2 % đến 62,5 % HS cho biết, có thực hiện bạo lực với bạn học, trong khi đó , nhiều nhất ( 6,0 % ) HS nói xấu xúc phạm thầy cô. HS cho biết có tình trạng GV xúc phạm HS ( 27,1 % ). 7,1 % HS bị thầy cô nói xấu xúc phạm và 18,3 % bị thầy cô đánh. Như vậy, chủ thể và đối tượng của BLHĐ chủ yếu là HS.
BLHĐ có hình thức rất đa dạng, có thể là chửi mắng sỉ nhục hoặc dùng điện thoại internet đưa tin nói xấu nhau. Mức độ nghiêm trọng là HS đánh nhau và dùng hung khí tấn công bạn học / thầy cô , phổ biến nhất là nói xấu , xúc phạm bạn ( 62,5 % ). đánh nhau cũng khá cao ( 29,8 % ). Cá biệt , có 2,2 % dùng hung khí tấn công bạn , từ 0,6 % đến 6,0 % HS đã thực hiện một số hình thức bạo lực với GV , 18,3 % bị thầy cô đánh , 8,5 % bị thầy cô chửi mắng sỉ nhục và 7,1 % bị thầy cô xúc phạm.
BLHD gồm hai cấp độ chính: (1) Bạo lực bằng ngôn ngữ gây tổn hại về mặt tinh thần , bao gồm các hình thức cụ thể như : Nói xấu xúc phạm ; chửi mắng sỉ nhục; Sử dụng điện thoại internet đưa tỉn nói xấu , xúc phạm đe dọa bạn / thầy cô và (2) bạo lực bằng hành động gây tổn hại thể xác , bao gồm : Có hành động đe dọa ; Đánh; Sử dụng hung khí tấn công bạn / thầy cô. Kết quả điều tra cho thấy , HS bị bạo lực cả bằng ngôn ngữ.
Trong một nghiên cứu mới đây về Đề tài bạo lực học đường - một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia, PGS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết, tình trạng bạo lực học đường (BLHĐ) ở Việt nam xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, mở rộng đối tượng bị bạo lực và gây bạo lực.
Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy tình trạng BLHĐ ở Việt Nam đã tăng gấp 10 lần so với 10 năm trước đó. Một báo cáo về BLHD do UNESCO thực hiện ở Việt Nam năm 2014- 2015 cũng cho thấy, hơn một nửa (51%) số học sinh (HS) tham gia khảo sát (2636 em) cho biết là đã trải qua ít nhất một hình thức bạo lực trong vòng 6 tháng trước cuộc khảo sát.
Và theo điều tra của chuyên gia xã hội học, 80% số vụ xô xát giữa các em học sinh bắt nguồn từ xích mích nhưng thay vì tìm cách giảng hòa, các em đã chọn “nắm đấm” và nguy hiểm hơn là dùng hung khí. Thực ra lớp học, giảng đường là một phần và là tấm gương phản ánh trung thực xã hội bên ngoài, nơi bạo lực dường như đã trở thành một phương thức phổ biến, hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn.
Hậu quả để lại luôn rất nghiêm trọng. Với những nạn nhân là nỗi đau về thể xác và vết thương khó bề liền sẹo về tinh thần. Với gia đình là không khí căng thẳng, là sự đau đớn khi con cái bị thương tích, thậm chí mất mạng. Với trường học là cảm giác nặng nề, bất an luôn bao trùm. Với xã hội là sự lệch lạc của những quy chuẩn đạo đức, an ninh trật tự, an toàn xã hội bị đe dọa.
Theo điều tra của chuyên gia xã hội học, 80% số vụ xô xát giữa các em học sinh bắt nguồn từ xích mích nhưng thay vì tìm cách giảng hòa, các em đã chọn “nắm đấm” và nguy hiểm hơn là dùng hung khí. Thực ra lớp học, giảng đường là một phần và là tấm gương phản ánh trung thực xã hội bên ngoài, nơi bạo lực dường như đã trở thành một phương thức phổ biến, hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn.
Hậu quả để lại luôn rất nghiêm trọng. Với những nạn nhân là nỗi đau về thể xác và vết thương khó bề liền sẹo về tinh thần. Với gia đình là không khí căng thẳng, là sự đau đớn khi con cái bị thương tích, thậm chí mất mạng. Với trường học là cảm giác nặng nề, bất an luôn bao trùm.
Với xã hội là sự lệch lạc của những quy chuẩn đạo đức, an ninh trật tự, an toàn xã hội bị đe dọa.
3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến bạo lực học đường
3.1. Những yếu tố thuộc về chính bản thân học sinh
3.1.1. Yếu tố sinh lý
Thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 12 đến 18 đang ở trong giai đoạn dậy thì với những dấu hiệu rất rõ nét và diễn ra hết sức nhanh chóng ở hệ thống thần kinh, hệ thống các cơ quan trong cơ thể, sự phát triển nhanh chóng của các cơ quan tế bào màng não, bộ phận sinh dục bắt đầu hoàn thiện, và bắt đầu có những cảm giác tò mò muốn tìm hiểu về giới tính. Những điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến tâm lí, cảm xúc, tinh thần, hành vi của thanh thiếu niên.
3.1.2. Yếu tố tâm lý
Thanh thiếu niên trong giai đoạn tuổi dậy thì, hệ thống thần kinh ở vào trạng thái chưa ổn định, về nhận thức, tình cảm, ý chí có sự thay đổi, điều này dễ khiến cho các em dễ hưng phấn, dễ hành động và làm việc theo cảm tính, dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động từ bên ngoài.
3.1.3. Sự không cân bằng trong phát triển tâm sinh lí
Do thời kì thanh thiếu niên có sự phát triển không đồng bộ và không cân bằng về tâm sinh lí, cùng với những hạn chế về kiến thức xã hội, do đó ở giai đoạn này thanh niên dễ nảy sinh những hành vi bạo lực.
3.1.4. Một số yếu tố khác từ bản thân học sinh
Học sinh có tiền án, tiền sự vi phạm pháp luật; học sinh có sử dụng các chất kích thích; học sinh có những vấn đề về tâm lý như hiếu động, giảm tập trung chú ý, lo âu, trầm cảm,…; học sinh tham gia vào các hiệp hội, băng nhóm bạo lực hoặc có liên quan đến các đường dây bạo lực;…
3.2. Những yếu tố ảnh hưởng thuộc về gia đình, nhà trường và xã hội
3.2.1. Ảnh hưởng từ gia đình
a. Sự buông lỏng trong quản lý và giáo dục con cái của gia đình
b. Môi trường gia đình phức tạp
c. Nhân cách, đạo đức của cha mẹ chưa tốt
d. Những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế gia đình
3.2. Ảnh hưởng từ trường học
a. Sự phân bổ trình độ học sinh chưa hợp lý
b. Quan niệm giáo dục thiên lệch
c. Mối quan hệ giữa thầy và trò chưa tốt
d. Vai trò quản lý của nhà trường chưa chặt chẽ
e. Giáo dục luật pháp chưa triệt để và thiếu sót hỗ trợ tâm lý, giáo dục kỹ năng mềm
3.2.3 Ảnh hưởng từ xã hội
a. Những nhân tố tiêu cực và các yếu tố văn hóa không lành mạnh trong xã hội
b. Những ảnh hưởng của môi trường xung quanh trường học.
4. Phương pháp và số liệu dùng cho nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
- Tổng số HS trung học được chọn vào mẫu khảo sát định lượng là 496 trường hợp tại 8 trường.
- Sử dụng các phương pháp chọn mẫu đảm bảo tính đại diện.
- Sử dụng các phương pháp thu thập thông tin.
- Phương pháp phân tích dữ liệu.
5. Kết luận và một số kiến nghị nhằm hạn chế hành vi bạo lực học đường
5.1. Kết luận
Bao lực học đường là một hiện tượng phổ biến ở học sinh. Hai phần ba học sinh được khảo sát đã trải nghiệm qua hành vi bạo lực này ở vị trí là người đi bắt nạt hoặc bị bắt nạt. Hành vi bạo lực học đường xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Hành vi bạo lực học đường và bắt nạt học đường có mối tương quan với nhau. Hành vi bạo lực học đường không chỉ xảy ra trong khuôn viên trường học, theo phản ánh của học sinh hành vi này xảy ra cả trong và ngoài trường học, nhất là những nơi kín đáo không có giáo viên vàngười lớn qua lại. Hành vi bao lực học đường liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý cá nhân và xã hội của học sinh. Mức độ căng thẳng tâm lý ở trường học,khó khăn trong giao tiếp, mức độ thay đổi cảm xúc, m...
- Nghiên cứu về hiệu quả của các giải pháp đứa điệu hò Nam Bộ dến gần với giới trẻ
- Văn bản trên gồm 4 phần:
Tóm tắt: Nêu tên đề tài/ nhan đề báo cáo Bảo tồn đa dạng sinh học chim ở một số khu bảo tồn vùng Đông Bắc Việt Nam và tóm tắt mục tiêu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu.
Mở đầu: Nêu vấn đề nghiên cứu; Nêu lí do thực hiện nghiên cứu; Nêu nhiệm vụ, câu hỏi, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo
Nội dung nghiên cứu: Nêu cơ sở lý luận, trình bày kết quả khảo sát và lí giải, phân tích ý nghĩa của các dữ liệu, đề xuất giải pháp dựa trên kết quả khảo sát thực trạng.
Kết luận: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và trình bày danh mục tài liệu tham khảo.
- Nội dung nghiên cứu gồm:
+ Về điều kiện học tập trực tuyến.
+ Về các hoạt động học tập của học sinh trong thời gian học trực tuyến.
+ Về hiệu quả của hoạt động trực tuyến.
- Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua các đề mục:
+ Điều kiện học tập trực tuyến: thiết bị học tập và đường truyền internet, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và kĩ năng học tập trực tuyến của học sinh.
+ Thực trạng học tập trực tuyến: thời lượng học, các môn học trực tuyến, hoạt động học trực tuyến của học sinh.
+ Khó khăn gặp phải trong quá trình học trực tuyến.
+ Hiệu quả học tập trực tuyến.
- Việc đưa các biểu đồ vào báo cáo nhằm mục đích: tăng tính khoa học, dễ nhìn, rõ ràng.

I. Mở đầu
Trong những năm gần đây, âm nhạc không chỉ là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng và sở thích của giới trẻ, đặc biệt là học sinh. Âm nhạc trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động giải trí hàng ngày và là phương tiện để thể hiện cảm xúc, cá tính. Báo cáo này nhằm mục đích khảo sát các xu hướng âm nhạc hiện nay được học sinh quan tâm, từ đó đưa ra những nhận định về sự phát triển của thị hiếu âm nhạc trong cộng đồng học sinh.
II. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát qua bảng câu hỏi, phỏng vấn và quan sát hành vi âm nhạc của học sinh trong các trường học. Thông tin được thu thập từ 300 học sinh ở các độ tuổi khác nhau từ 14 đến 18 tuổi, đến từ các trường phổ thông tại các khu vực thành phố và nông thôn.
III. Những xu hướng âm nhạc đang được học sinh quan tâm
Nhạc K-pop:
K-pop (nhạc pop Hàn Quốc) đang là một hiện tượng âm nhạc cực kỳ phổ biến trong giới học sinh. Các nhóm nhạc như BTS, BLACKPINK, EXO, TWICE… đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ và thu hút đông đảo học sinh yêu thích. Các nhóm nhạc này không chỉ nổi bật về âm nhạc mà còn có sức ảnh hưởng lớn qua các vũ đạo, phong cách thời trang và câu chuyện cá nhân của các thành viên, điều này giúp tạo dựng một cộng đồng người hâm mộ toàn cầu, trong đó có nhiều học sinh.
Nhạc rap/hip-hop:
Nhạc rap và hip-hop cũng đang ngày càng được học sinh ưa chuộng, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Các nghệ sĩ như Sơn Tùng M-TP, Binz, Đen Vâu, và những rapper quốc tế như Eminem, Travis Scott đã tạo ra những bản hit đình đám thu hút sự chú ý của giới trẻ. Nhạc rap không chỉ nói về cuộc sống, tình yêu, mà còn phản ánh các vấn đề xã hội, điều này khiến nhiều học sinh cảm thấy gần gũi và dễ dàng kết nối với nội dung của bài hát.
Nhạc EDM (Electronic Dance Music):
Nhạc EDM, đặc biệt là các bản nhạc sôi động từ các DJ quốc tế như Marshmello, Calvin Harris, Alan Walker… cũng rất phổ biến trong cộng đồng học sinh. Nhạc EDM mang đến những trải nghiệm âm nhạc sôi động, vui tươi và mang tính giải trí cao, phù hợp với các buổi tiệc, lễ hội âm nhạc và các hoạt động ngoài trời của giới trẻ.
Nhạc indie và acoustic:
Một số học sinh yêu thích các thể loại âm nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng như nhạc indie, acoustic, đặc biệt là những nghệ sĩ như Vũ, Hiền Hồ, Phan Mạnh Quỳnh… Những ca khúc này thường mang lại cảm giác thư giãn, yên bình và dễ dàng gắn kết với cảm xúc cá nhân của người nghe.
Nhạc Việt Nam:
Không thể không nhắc đến sự phát triển mạnh mẽ của nhạc Việt Nam trong những năm gần đây. Các nghệ sĩ như Sơn Tùng M-TP, Ngọc Anh, Hồ Ngọc Hà, và các ca sĩ trẻ khác đã tạo ra những bài hát được học sinh yêu thích, mang đậm âm hưởng hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Những ca khúc này không chỉ phổ biến trong nước mà còn được yêu thích ở các cộng đồng người Việt tại nước ngoài.
IV. Các yếu tố ảnh hưởng đến sở thích âm nhạc của học sinh
Ảnh hưởng từ mạng xã hội: Mạng xã hội như YouTube, TikTok, Facebook, Instagram là những nền tảng giúp học sinh dễ dàng tiếp cận với các bài hát mới và các xu hướng âm nhạc. Những video âm nhạc viral trên các nền tảng này nhanh chóng thu hút sự chú ý của giới trẻ.
Ảnh hưởng từ bạn bè và cộng đồng: Các nhóm nhạc, các nghệ sĩ nổi tiếng và những trào lưu âm nhạc được chia sẻ rộng rãi trong các nhóm bạn bè, nhóm lớp. Học sinh thường có xu hướng nghe những bài hát mà bạn bè yêu thích, từ đó tạo ra sự lan tỏa trong cộng đồng học sinh.
Ảnh hưởng từ các sự kiện âm nhạc: Các chương trình âm nhạc như The Voice, Rap Việt, hay các lễ hội âm nhạc như EDM Festival cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy học sinh tìm hiểu và yêu thích các dòng nhạc mới.
V. Kết luận
Nhìn chung, âm nhạc hiện nay đối với học sinh không chỉ là một phương tiện giải trí mà còn là công cụ để thể hiện cá tính và cảm xúc. Các xu hướng âm nhạc như K-pop, rap/hip-hop, EDM, và nhạc Việt Nam đang dần chiếm lĩnh thị trường âm nhạc học đường. Điều này phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp âm nhạc, cũng như sự giao thoa văn hóa giữa các quốc gia. Để nắm bắt được sở thích của học sinh, ngành công nghiệp âm nhạc cần tiếp tục đổi mới và sáng tạo, mang đến những sản phẩm âm nhạc phù hợp với nhu cầu và xu hướng của giới trẻ hiện nay.