Giúp mk bà nay với nha! xin cảm ơn
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Ta có sơ đồ sau:(cách đây 5 năm)
..........................
giá trị 1 phần là: 63:( 8 +1)= 7(tuổi)
tuổi hà 5 năm trước là: 7*1 =7( tuổi)
''''''''''''''''''''hiện nay là: 7 + 5=12 (tuổi)
tuổi bà hiện nay là: ( 63- 7)+5=61(tuổi)
Cách đây 5 năm tuổi của bà là : 63/(8+1)x8=56(tuổi)
Cách đây 5 năm tuổi của Hà là : 63-56=7(tuổi)
Tuổi của bà hiện nay là: 56+5=61(tuổi)
Tuổi của Hà hiện nay là:7+5=12(tuổi)
Đáp số :Tuổi bà :61
Tuổi Hà :12
- Chi tiết chia tay của Thủy với lớp học làm cô giáo bàng hoàng:
+ Cô giáo tặng Thủy quyển số và chiếc bút máy nắp vàng nhưng: “Em không dám nhận… Em không đi học nữa”. “Nhà bà ngoại em ở xa trường học lắm. Mẹ em bảo sẽ sắm cho em một thúng hoa để ra chợ ngồi bán”.
+ Ý nghĩa: Sự đau xót của số phận tuổi thơ, Thủy phải mất mát quá lớn: xa bố, xa anh, thiếu thốn tình thương. Phải chịu cảnh thất học. Phải lăn lộn vào đường đời để kiếm sống lúc còn quá nhỏ.
“Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài là một tác phẩm hay và đầy ý nghĩa. Nó khiến cho em xúc động không chỉ bởi vì tình cảm hồn nhiên và dễ thương của hai anh em Thành và Thủy mà còn bởi vì cuộc chia ly đột ngột giữa hai anh em, hai tâm hồn nhạy cảm và trong sáng.
Người ta thường nói búp bê thì không biết khóc bao giờ. Búp bê chỉ là một đồ vật vô tri vô giác mà thôi. Nhưng con người bằng xương bằng thịt thì khác. Họ có thể vui, buồn, giận dỗi và khóc khi mình gặp phải những biến cố hay mất mát nào đó trong đời, cũng có thể khóc khi vui sướng. Thành và Thủy cũng chính là những con người như vậy. Hai anh em không chỉ rất yêu thương nhau mà còn muốn ba mẹ hai em không chia tay để trong hai trái tim bé nhỏ ấy không biết bao lần thổn thức. Thành là một người anh trai yêu thương em gái hết mực, dù cho đồ chơi của chúng chẳng có gì nhiều nhưng anh vẫn dành hết đồ chơi cho đứa em gái ngây thơ của mình. Thủy tuy còn nhỏ và khá trẻ con, nhưng hành động “võ trang cho con Vệ Sĩ”, đem đặt đầu giường để gác đêm cho anh để anh không chiêm bao thấy ma nữa xuất phát từ tình anh em. Thủy không thể chịu đựng nổi khi thấy Thành đem chia hai con búp bê, con Vệ Sĩ và con Em nhỏ ra, em càng không thể cầm lòng khi em biết chỉ trong một thời gian ngắn ngủi thôi, em phải xa người anh trai mà em hết lòng tôn sùng và yêu mến. Hai anh em cũng chỉ là hai con búp bê có cảm xúc phải chia tay nhau khi còn quá nhỏ để luyến lưu một góc trời ký ức đầy dư âm và kỷ niệm. Hai em không phải là người quyết định cuộc chia tay ấy mà chính quyết định ly hôn của ba mẹ hai em đã khiến cho hai em phải xa nhau, xa những tháng ngày hạnh phúc và đầy những ký ức đẹp như cổ tích. Khi biết chuyện, cô và các bạn của Thủy đã rất đau lòng, càng đau lòng hơn khi phải đối mặt với một sự thật phũ phàng rằng từ nay Thủy sẽ không còn được đi học nữa. Sự thật vẫn là sự thật. Em chỉ ước một điều là cái tổ ấm nhỏ bé ấy sẽ không bị tan vỡ và nụ cười lại nở trên mối hai anh em tội nghiệp. Người lớn thì có bao giờ hiểu được con trẻ nghĩ gì khi tuy còn nhỏ mà chúng phải chứng kiến cảnh ba mẹ bỏ nhau và phải nói lời chia xa với những người mà mình yêu thương nhất. Hai con búp bê cũng phải chúng kiến cảnh tượng đau lòng đó. Em không biết là chúng có khóc không nếu chúng phải chia tay nhau sau một thời gian dài bên nhau, chơi đùa cùng hai con người đáng yêu và dễ thương như hai thiên thần. Có thể chúng sẽ không khóc đâu vì búp bê làm gì có nước mắt. Nhưng cuộc chia tay đã làm nhói đau Thành và Thủy, để lại trong tim hai em một vết thương rất lớn không gì hàn gắn nổi. Dù vậy thì cuộc sống vẫn tiếp tục trôi, “mọi người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn vàng um trùm lên cảnh vật”. Hai em có thể xa rời nhau, nhưng tôi tin chắc một điều là chúng vẫn luôn nhớ về nhau, nhớ khung trời tuổi thơ với những cảnh vật quen thuộc, mãi mãi không quên. Em thấy lòng mình đau đớn khi trong phút giây nói lời tạm biệt, Thủy bắt thành phải hứa là sẽ không bao giờ để hai con búp bê ngồi xa nhau, cũng giống như hai sinh linh ấy sẽ mãi dõi theo nhau trên mọi nẻo đường đời.
– Đối tượng nghiên cứu:
1. Khái niệm chung về sự phát triển tâm lý trẻ em.
a) . Quan niệm về trẻ em.
Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em vận động và phát triển theo quy luật riêng.
b) Quan điểm duy tâm về sự phát triển tâm lý trẻ em:
– Thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến, đánh giá không đúng vai trò của giáo dục, phủ nhận tính tích cực của họat động cá nhân
– Thuyết tiền định: yếu tố di truyền/gen quyết định sự phát triển tâm lý.
– Thuyết duy cảm: môi trường xung quanh quyết định sự phát triển tâm lý à muốn nghiên cứu con người chỉ cần phân tích cấu trúc môi trường của họ.
– Thuyết hội tụ hai yếu tố: Sự tác động qua lại giữa di truyền và môi trường quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em, trong đó di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường là điều kiện để biến những đặc điểm tâm lý đã được định sẵn thành hiện thực.
c) Quan điểm duy vật biện chứng:
– Sự phát triển tâm lý của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng. Đó là một quá trình không phẳng lặng mà có khủng hoảng và có đột biến. Chính hoạt động của đứa trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của nó được hình thành và phát triển.
2. Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em.
– Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý
– Tính toàn vẹn của tâm lý
– Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ:
3. Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý:
– Giáo dục,dạy học giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ em.
– Tâm lý học Mácxít (Vưgotxki) coi lứa tuổi là một thời kỳ phát triển nhất định đóng kín một cách tương đối, mà ý nghĩa của nó được quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung và ở đó những quy luật phát triển chung bao giờ cũng được thể hiện một cách độc đáo về chất.
– Sự chuyển tiếp từ giai đọan lứa tuổi này sang lứa tuổi khác gắn liền với việc thay đổi tình huống xã hội, xuất hiện cấu tạo tâm lý mới, thay đổi dạng họat động chủ đạo.
– Có sự đan xen giữa các giai đọan bình ổn và khủng hoảng.
CHƯƠNG 2:
TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THIẾU NIÊN (HS TRUNG HỌC CƠ SỞ)
1. Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi học sinh THCS:
– Phát triển nhanh, mạnh nhưng không đồng đềuà biểu hiện tâm lý khó chịu
Hệ xương
Hệ tim mạch
Tuyến nội tiết
Hệ thần kinh
Thời kỳ phát dục
– Được thừa nhận cao hơn nhi đồng.
– Từ vị trí “trẻ con” chuyển dần sang vị trí mới “vừa là trẻ con, vừa là người lớn”
1/ Giao tiếp với người lớn
– Cấu tạo tâm lý mới: “cảm giác mình là người lớn”.
– Nhu cầu được độc lập, tự khẳng định trong quan hệ với người lớn.
– Xuất hiện nhiều mâu thuẫn.
– Có xu hướng cường điệu hóa.
2/ Giao tiếp với bạn bè
– Nguyện vọng hòa mình vào tập thể, tìm chỗ đứng trong tập thể.
– Quan hệ bạn bè thân thiết “sống chết có nhau”, xây dựng trên bộ luật tình bạn. Trò chuyện tâm tình giữ vị trí quan trọng.
– Xuất hiện tình bạn khác giới quan tâm lẫn nhau, ưa thích lẫn nhau nhưng ở các em nam còn bộc lộ rất vụng về. Tình bạn lành mạnh trong sáng là động lực giúp nhau học tập.
– Tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức: tri giác, trí nhớ, chú ý,tư duy, tưởng tuợng.
– Phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập.
– Một số nhận xét còn cảm tính.
– Phong phú cả về nội dung và hình thức biểu hiện.
– Còn mang tính bồng bột, sôi nổi, dễ bị kích động, dễ thay đổi, đôi khi còn mâu thuẫn.
– Nội dung và mức độ tự nhận thức không diễn ra cùng lúc.
– Khả năng đồng nhất với giới tính.
– Bắt đầu có khả năng nhận xét, đánh giá về hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức nhưng còn chịu ảnh hưởng nhiều từ nhận xét của người khác.
CHƯƠNG 3:
TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI THANH NIÊN HỌC SINH (HS TRUNG HỌC PHỔ THÔNG)
1/ Đặc điểm cơ thể:
– Cơ thể phát triển cân đối, khoẻ và đẹp.
– Đa số các em đã qua thời kỳ phát dục và đạt được những thành tích về cơ thể như người lớn.
2/ Điều kiện xã hội của sự phát triển:
– Hoạt động của thanh niên phong phú, phức tạp về nội dung và hình thức.
– Hứng thú mở rộng, quan hệ giao tiếp sâu rộng.
– Giữ vị trí như người lớn, có tính độc lập, tinh thần trách nhiệm hơn thiếu niên.
– Có vị trí bình đẳng trong gia đình.
– Xu hướng nghề nghiệp là nét cấu tạo tâm lý mới trung tâm.
– Chi phối tới tình cảm , tự ý thức, năng lực và tính cách.
– Tính suy luận, hệ thống, thực tiễn và chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức (tri giác, ghi nhớ, chú ý,…).
– Phát triển tư duy lý luận, óc phê phán độc lập.
– Một số nhận xét còn cảm tính.
1/ Xúc cảm:
– Có tính ổn định. Khả năng làm chủ tang.
2/ Tình cảm gia đình:
– Có trách nhiệm, yêu quý gia đình hơn à giao tiếp với các em theo nguyên tắc: tình thương, tôn trọng, trách nhiệm, thẳng thắn và thiện chí.
3/ Tình bạn:
– Có nhu cầu kết bạn tâm tình. Chủ động tìm hiểu và chọn bạn.
– Mang tính xúc cảm cao
4/ Tình yêu:
– Xuất hiện nhu cầu yêu đương. Hồn nhiên, thầm kín, dễ vỡ.
–> Không vẽ đường cho hươu chạy và cũng không làm ngư khi hươu đã muốn chạy hoặc đang chạy.
1/ Sự phát triển tự ý thức
– Có nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá, xây dựng hình ảnh bản thân
– Thông qua so sánh à Biết đánh giá mình trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách.
– Tuy nhiên, có lúc còn đánh giá chưa đúng do thiếu kinh nghiệm, kỹ năng phân tích.
2/ Xu hướng của nhân cách:
2.1. Nhu cầu:
– Nhu cầu được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân.
2.2. Sự hình thành thế giới quan
– Xây dựng quan điểm sống đã đi vào bản chất và mang tính hệ thống.
2.3. Lý tưởng sống:
– Đang trong quá trình quan tâm tìm kiếm và lựa chọn.
CHƯƠNG 4: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
– Hoạt động dạy là hoạt động của thầy cô giáo tổ chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm giúp họ lĩnh hội nền VH-XH, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng.
– Phân biệt dạy và hoạt động dạy:
|
Dạy |
Hoạt động dạy |
| Tính mục đích:– MĐ không định trước, chỉ xuất phát do một số tình huống bất ngờ thông qua đó, dạy một số điều trong cuộc sống. Kiến thức có được không phải là mục đích cuối cùng mà là hệ quả của quá trình song song diễn ra trong hoạt động khác.Nội dung:
– Kinh nghiệm sống Phương thức: – Diễn ra mọi lúc mọi nơi – Không tuân theo phương pháp nào cả |
– MĐ được xác định từ trước một cách rõ rang, nội dung được xây dựng và hoàn chỉnh
– Kiến thức khoa học, hệ thống
– Diễn ra theo phương thức nhà trường. – Có phương pháp, phương tiện hỗ trợ. |
Đặc điểm của họat động Dạy
Mục đích của hoạt động dạy: Giúp trẻ lĩnh hội nền VH-XH để tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách.
G chỉ tổ chức và điều khiển việc tái tạo lại nền VH-XH vào đầu đứa trẻ để tạo ra cái mới trong tâm lý trẻ chứ không có nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới hay tái tạo tri thức cho mình.
Con đường thực hiện: Tổ chức, điều khiển quá trình tái tạo năng lực loài người cho từng trẻ dựa trên cơ sở hoạt động tích cực của trẻ.
Họat động học là họat động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi,…một cách khoa học và hệ thống.
Phân biệt Học và Hoạt động học
|
Học một cách ngẫu nhiên |
Hoạt động học |
| Tính mục đích:– MĐ không được định trước, chỉ xuất phát do một số tình huống ngẫu nhiên.Nội dung:
– Kiến thức rời rạc, ngẫu nhiên, đơn giản, không khái quát. Phương pháp, phương tiện: –Ít cần Chủ thể: – Bất kỳ Thời g...
|
Bài 4:
a: Xét tứ giác ABDC có
M là trung điểm của BC
M là trung điểm của AD
Do đó: ABDC là hình bình hành
Suy ra: BD=AC
b: Ta có: ABDC là hình bình hành
nên AB//DC