K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản sau: NHỚ MÙA XUÂN BIÊN GIỚI Năm xưa ra trận lên biên giới Tết đến xuân về vẫn có hoa Những giò phong lan bên bờ suối Treo ở cửa hầm, lối vào ra. Bánh chưng, giò chả rồi mứt kẹo Hậu phương gửi tặng luôn kịp thời Đài phát vẫn đủ các làn điệu Báo thì đủ loại...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

NHỚ MÙA XUÂN BIÊN GIỚI

Năm xưa ra trận lên biên giới

Tết đến xuân về vẫn có hoa

Những giò phong lan bên bờ suối

Treo ở cửa hầm, lối vào ra.


Bánh chưng, giò chả rồi mứt kẹo

Hậu phương gửi tặng luôn kịp thời

Đài phát vẫn đủ các làn điệu

Báo thì đủ loại bao tin vui.


Vui nhất vẫn là những lá thư

"Bay lên" bất chấp cả sương mù

Những lời động viên như có cánh

Tiếp thêm nghị lực − chẳng đắn đo.


Các đoàn đại biểu dưới xuôi lên

Chớp nhoáng nhưng mà thật ấm êm

Nghe tiếng các chị, các em đến

Căn hầm nào cũng thấy vui thêm.


Chỉ súng với người luôn cảnh giác

Không để một giây bị bất ngờ

Bình yên Tổ quốc là hạnh phúc

Là đất trời trọn vẹn ước mơ!

(Nguyễn Đức Việt, Nhớ mùa xuân biên giới, Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, số 517 + 518 + 519 (1 + 2/2026))

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Bài thơ được viết theo dòng hồi tưởng của ai?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.

Câu 4 (1,0 điểm). Theo bài thơ, vì sao những lá thư được xem là niềm vui lớn nhất đối với người lính? Từ đó, anh/ chị có suy nghĩ gì về giá trị của sự động viên, sẻ chia trong cuộc sống?

Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung của văn bản, anh/ chị rút ra được những bài học gì? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

19
17 tháng 10

câu 1: thơ 7 chữ

câu 2: viết theo hồi tưởng của nhân vật trữu tình

câu 3:gợi liên tưởng về các hình ảnh món ăn hay những loại đồ ăn ngày tết

câu 4:vì ngày xưa chưa có các loại điện thoại mà chỉ gửi thư tay

câu 5:cố gắng cống hiến hết sức vì tổ quốc

17 tháng 10

Câu 1 : thể thơ 7 chữ

Câu 2 : bài thơ được viết theo dòng hồi tưởng của người lính từng ra chận làm nhiệm vụ nơi biên giới

Câu 3 : biện pháp tu từ liệt kê “bánh trưng, dò chả rồi mứt kẹo “ , “đài phát “ , “các làn điệu “ , “đủ loại bao tin vui “ .

Tác dụng :

+ làm cho câu văn tăng tính hấp dẫn, sinh động và giàu sức thuyết phục.

+ nhấn mạnh sự quan tâm, chăm lo của hậu phương dành cho những người lính nơi biên giới , qua đó thể hiện tình yêu thương sâu sắc và tiếp thêm niềm tin ,ý chí để người lính vững tâm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới tổ quốc.

Câu 4 : theo bài thơ, những lá thư là niềm vui lớn nhất vì chứa đựng tình yêu thương, sự quan tâm từ hậu phương, giúp người lính vơi nỗi nhớ nhà và có thêm động lực hoàn thành nhiệm vụ. Sự động viên, sẻ chia giúp con người có thêm niềm tin, sức mạnh để vượt qua khó khăn. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu thương, quan tâm và chia sẻ với những người xung quanh.

Câu 5 : Qua bài thơ, em nhận thức được cần trân trọng hòa bình, biết ơn những người lính bảo vệ Tổ quốc. Mỗi người cần biết yêu thương, sẻ chia và động viên những người xung quanh. Là học sinh, em cần chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức và có trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Đọc văn bản sau:CỦ KHOAI NƯỚNG Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn. Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút.  Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau:

CỦ KHOAI NƯỚNG

Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn. Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói. Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu. Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút. 

Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được một việc gì đó trong khi con trâu đang mải miết gặm cỏ. Cậu bèn ngồi đếm từng con sáo mỏ vàng đang nhảy kiếm ăn trên cánh đồng màu đã thu hoạch. Thỉnh thoảng chúng lại nghiêng ngó nhìn cậu, ý chừng muốn dò la xem "anh bạn khổng lồ" kia có thể chơi được không. Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng lên trời. Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót. Với bất cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu. Nó bị sót lại từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt. Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp bên dưới chỉ là một mẩu khoai. Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng tượng đến món khoai nướng. Ruột nó trong như thạch. Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này. Thật may là mình đem theo lửa − cậu lẩm bẩm. Sợ niềm hy vọng đi veo mất nên cậu rón rén bới lớp đất mềm lên. Khi cậu hoàn toàn tin nó là một củ khoai thì cậu thọc sâu tay vào đất, sâu nữa cho đến khi những ngón tay cậu ôm gọn củ khoai khá bự, cậu mới từ từ lôi nó lên. Chà, thật tuyệt vời. Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu. 

Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức. Trong chốc lát đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi củ khoai vào. Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật. Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở nên vô cùng huyền diệu. Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan toả, xoắn xuýt. Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói và sau đó làm nên sự nghiệp. Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật. Nào, để xem sau đây cậu sẽ làm nên công trạng gì.

Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới. Ông già ôm theo bọc tay nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng. Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên. Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ. Vài lần giáp mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa. Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó chỉ trông cậy vào người ông mù loà. Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần. Có thể thấy rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó. Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh thoảng lén nhìn Mạnh. 

− Mùi gì mà thơm thế − ông cậu bé lên tiếng − Hẳn ai đang nướng khoai. Ngồi nghỉ một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu. 

Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào. Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ xíu. Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa. Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa. Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ khoai cháy mất. Đã có mùi vỏ cháy. Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành đen thui mới thôi. Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo: 

− Tôi chỉ xin lửa thôi...

Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên. Nhưng ông lão mắt loà không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.

− Thôi, chào cậu nhé. Ta đi tiếp đi cháu! 

Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước. Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu. Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống. Ôi, giá như có ba củ khoai, chí ít cũng là hai củ. Đằng này chỉ có một... Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa dần. Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất. Giờ đây củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó. Dù Mạnh có dối lòng rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào củ khoai... Hình như đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó. Có thể ông nội cậu đã từng nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy. 

Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà. Giờ đây mới là lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng một món quà vô giá. Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra. Nửa củ khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?

(Trích Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có những ai đi đến?

Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn sau: "Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót. Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.".

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh từ khi hai ông cháu người ăn mày xuất hiện cho đến khi họ bỏ đi. Tại sao Mạnh lại cảm thấy "củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn"?

Câu 5 (1,0 điểm). Kết thúc truyện, Mạnh cảm thấy "lâng lâng", "ngây ngất" dù bụng vẫn đói. Từ cảm giác này của nhân vật, em rút ra bài học gì về mối quan hệ giữa sự sẻ chia và hạnh phúc? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

30
18 tháng 10

Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Khi Thường Mạnh đang nướng khoai thì có một ông già bị mù loà cùng một câu bá đi đến.

Câu 3.

- Biện pháp tu từ so sánh ví "củ khoai"

("Nó") như một món "quà tặng".

- Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm hình ảnh củ khoai trở nên sinh động, giàu sức gợi.

+ Về mặt nội dung: Nhấn mạnh niềm vui, sự háo hức của Mạnh trước món quà nhỏ bé nhưng quý giá, qua đó thể hiện vẻ đẹp của những niềm vui giản dị trong cuộc sống.

Câu 4.

- Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:

+ Ban đầu (khi thấy ông lão và cậu bé đi đến): Mạnh lo lắng, căng thẳng, "lén trút ra tiếng thở dài", không dám động cựa vì sợ bị phát hiện và xin mất củ khoai.

+ Khi ông lão xin lửa: Mạnh xấu hồ, bối rối, giống như "bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm".

+ Khi hai ông cháu rời đi: Mạnh cảm thấy day dứt, hối hận và lòng tự trọng đã đượcđánh thức; sự háo hức ban đầu tiêu tan, thay vào đó là cảm giác tội lỗi.

- Mạnh thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì nó chính là lý do khiến Mạnh có những suy nghĩ ích kỉ, hẹp hòi trước những người nghèo khổ nhưng giàu lòng tự trọng.

Câu 5.

- Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lý giải phù hợp.

- Gợi ý trả lời:

+ Hạnh phúc không đơn thuần đến từ việc sở hữu vật chất hay thoa mãn nhu cầu cá nhân, mà nó nảy nở khi ta biết chiến thắng sự ích kỷ để trao đi yêu thương.

+ Sự sẻ chia giúp con người trở nên tử tế, giàu lòng nhân ái và biết sống vì người khác.

+ Khi sẻ chia, ta không hề mất đi mà ngược lại, tâm hồn được bồi đắp bởi niềm vui

"lâng lâng" của lòng nhân ái.

20 tháng 10

Câu 1 :

• Ngôi kể: Văn bản được kể theo ngôi thứ ba (người kể tự giấu mình và gọi tên các nhân vật như Mạnh, ông lão, cậu bé,...).

Câu 2 (0,5 điểm)

• Khi Mạnh đang nướng khoai thì có hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên đi đến.

Câu 3 (1,0 điểm)

• Biện pháp tu từ so sánh: "Nó [củ khoai sót] y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu."

• Tác dụng:

• Về nghệ thuật: Làm tăng tính hình tượng, sinh động và sức biểu cảm cho lời văn.

• Về nội dung: Nhấn mạnh giá trị đặc biệt và ý nghĩa vô giá của củ khoai sót đối với Mạnh; đồng thời thể hiện niềm vui sướng, háo hức và sự nâng niu, trân trọng tột cùng của cậu bé trước món quà từ thiên nhiên.

Câu 4 (1,0 điểm)

• Diễn biến tâm lý của nhân vật Mạnh:

• Khi hai ông cháu ăn mày xuất hiện: Mạnh nảy sinh tâm lý ích kỷ, nhỏ nhen và sợ hãi. Cậu "ngồi chết gí, không dám động cựa" vì lo sợ họ phát hiện và xin mất củ khoai duy nhất của mình.

• Khi hai ông cháu rời đi: Khi thấy ông lão chỉ xin lửa hút thuốc chứ không xin khoai, rồi lật đật dắt cháu đi sớm vì sự tự trọng và để tránh làm cậu bối rối, tâm trạng Mạnh lập tức đảo chiều. Cậu cảm thấy vô cùng hổ thẹn, áy náy và day dứt khi nhận ra sự ích kỷ của bản thân trước cái nghèo nhưng giàu lòng tự trọng của hai ông cháu.

• Mạnh cảm thấy củ khoai là "nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn" vì: Củ khoai chính là nguồn cơn khơi dậy tính toán ích kỷ lúc đầu của Mạnh. Việc cậu giữ khư khư củ khoai cho riêng mình đối lập hoàn toàn với sự tự trọng của hai người ăn xin khổ cực. Sự hiện diện của củ khoai lúc này như một lời nhắc nhở, chất vấn lương tâm khiến Mạnh cảm thấy xấu hổ với chính mình.

Câu 5 (1,0 điểm)

Cảm giác "lâng lâng", "ngây ngất" của Mạnh đã đem đến một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa sự sẻ chia và hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực không nằm ở việc sở hữu hay giữ khư khư cho riêng mình, mà nảy sinh khi ta biết mở lòng, trao đi và san sẻ với người khác. Khi Mạnh vượt qua lòng ích kỷ để tặng nửa củ khoai cho cậu bé ăn mày, dù bụng vẫn đói nhưng tâm hồn cậu lại được lấp đầy bởi niềm vui sướng vô hạn. Bản chất của sự sẻ chia là một hành trình kỳ diệu: khi ta mang lại hơi ấm và nụ cười cho người khác, chúng ta cũng đồng thời nhận lại sự thanh thản và hạnh phúc trọn vẹn cho chính mình.

Trong văn bản nghị luận, các yếu tố phụ trợ như miêu tả, biểu cảm, thuyết minh được kết hợp nhằm tăng hiệu quả diễn đạt và sức thuyết phục cho lập luận.

1. Yếu tố miêu tả

  • Giúp tái hiện sự việc, con người, hiện tượng một cách cụ thể, sinh động.
  • Làm cho vấn đề nghị luận trở nên rõ ràng, gần gũi hơn với người đọc.
  • Góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài viết.

Ví dụ: miêu tả cảnh đói khổ trong Vợ nhặt giúp làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.


2. Yếu tố biểu cảm

  • Bộc lộ tình cảm, thái độ, cảm xúc của người viết trước vấn đề nghị luận.
  • Tạo sự đồng cảm, tác động vào tình cảm người đọc.
  • Làm cho bài văn nghị luận không khô khan mà giàu cảm xúc hơn.

Ví dụ: khi phân tích nhân vật Chí Phèo, yếu tố biểu cảm giúp thể hiện sự xót thương đối với số phận người nông dân.


3. Yếu tố thuyết minh

  • Cung cấp thông tin, giải thích, giới thiệu đặc điểm của sự vật, hiện tượng hoặc vấn đề được bàn luận.
  • Giúp người đọc hiểu chính xác nội dung nghị luận.
  • Tăng tính khách quan và tính khoa học cho bài viết.

Ví dụ: thuyết minh về hoàn cảnh sáng tác của Tuyên ngôn Độc lập giúp làm rõ giá trị lịch sử của văn bản.


Khái quát:

Các yếu tố miêu tả, biểu cảm và thuyết minh giúp văn bản nghị luận trở nên sinh động, giàu cảm xúc, dễ hiểu và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.

1. Yếu tố Tự sự và Miêu tả
  • Tác dụng: Giúp luận điểm, luận cứ trở nên cụ thể, sinh động và dễ hình dung hơn. Thay vì chỉ nói lý thuyết suông, việc kể lại một câu chuyện hoặc miêu tả một hình ảnh sẽ giúp người đọc "thấy" được vấn đề.
  • Ví dụ: Khi nghị luận về lòng hiếu thảo, việc kể một câu chuyện ngắn về sự chăm sóc của con cái dành cho cha mẹ sẽ làm bài viết chân thực hơn.
2. Yếu tố Biểu cảm
  • Tác dụng: Giúp bộc lộ tình cảm, thái độ của người viết, từ đó dễ dàng tác động đến cảm xúc và khơi gợi sự đồng cảm của người đọc. Yếu tố này làm cho bài nghị luận có sức truyền cảm mạnh mẽ.
  • Ví dụ: Sử dụng những câu văn bộc lộ sự trăn trở, xót xa trước một hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
3. Yếu tố Thuyết minh
  • Tác dụng: Cung cấp những tri thức khách quan, chính xác về đối tượng đang được bàn luận, giúp luận điểm có cơ sở khoa học và đáng tin cậy hơn.
14 tháng 6

tốt bụ ng

1. Bi kịch tha hóa (Bi kịch bị lưu manh hóa) Từ một nông dân hiền lành, giàu tự trọng, Chí Phèo bị đẩy vào nhà tù thực dân. Sau khi ra tù, Chí bị biến đổi hoàn toàn cả về nhân hình (mặt đầy sẹo, vằn dọc vằn ngang) lẫn nhân tính (trở thành "con quỷ dữ của làng Vũ Đại", chuyên đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ). 2. Bi kịch bị từ chối quyền làm người Đây là bi kịch đau đớn và sâu sắc nhất, xuất hiện sau khi Chí gặp Thị Nở và khao khát hoàn lương:
  • Sự thức tỉnh: Bát cháo hành của Thị Nở đánh thức bản chất lương thiện trong Chí. Chí thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người.
  • Sự khước từ: Bà cô Thị Nở (đại diện cho định kiến xã hội) đã ngăn cản, khiến cánh cửa trở lại cuộc đời lương thiện của Chí bị đóng sập.
  • Kết cục bi thảm: Chí Phèo nhận ra mình không thể làm người lương thiện được nữa. Anh chọn cái chết (giết Bá Kiến và tự sát) để giải thoát và bảo vệ phần lương thiện vừa thức tỉnh.

Nhân vật Chí Phèo thể hiện bi kịch của người nông dân bị tha hóa và bị cự tuyệt quyền làm người trong xã hội thực dân phong kiến trước Cách mạng tháng Tám.

18 tháng 6
Thứ nhất, Tràng là một người hiền lành, chất phác và có phần ngây ngô. Tràng sống bằng nghề đẩy xe bò thuê, tính tình vô tư, hay đùa cợt với trẻ con trong xóm ngụ cư. Giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang diễn ra, Tràng chỉ hò một câu cho đỡ nhọc chứ không hề có ý định trêu ghẹo ai, nhưng khi thị bám vào câu hò đó đòi ăn, Tràng vẫn sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc.Thứ hai, Tràng là người giàu tình thương và lòng nhân hậu. Dù bản thân và mẹ già cũng đang mấp mé bên bờ vực của cái chết vì đói, nhưng khi thấy người đàn bà rách rưới, đói khát, Tràng đã không nỡ bỏ mặc. Tràng chấp nhận đưa thị về làm vợ, cưu mang một mạng người trong hoàn cảnh khó khăn nhất. Hành động này xuất phát từ lòng thương người thực sự của một người lao động nghèo.Thứ ba, Tràng luôn khao khát hạnh phúc gia đình và có ý thức trách nhiệm. Sau đêm thành vợ thành chồng, Tràng có sự thay đổi lớn về nhận thức. Tràng cảm thấy mình trưởng thành hơn, thấy yêu thương và gắn bó với ngôi nhà của mình. Tràng tự thấy bản thân có trách nhiệm phải cùng vợ con lo cho tương lai, không còn là anh chàng vô lo vô nghĩ như trước nữa.Qua nhân vật Tràng, nhà văn Kim Lân đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của những người nông dân nghèo Việt Nam: dù trong hoàn cảnh khốn cùng, họ vẫn yêu thương nhau và luôn hướng về sự sống, hướng về tương lai.
20 tháng 5

Văn bản thông tin là văn bản dùng để cung cấp, giới thiệu hoặc giải thích thông tin về một sự vật, hiện tượng, con người hay vấn đề trong đời sống.

Để nhận biết văn bản thông tin, em có thể dựa vào các dấu hiệu:
Nội dung chủ yếu nhằm cung cấp tri thức, thông tin khách quan,
Ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, ít cảm xúc,
Thường có số liệu, dẫn chứng, hình ảnh, sơ đồ,
Bố cục mạch lạc với các đề mục như tiêu đề, mục nhỏ, chú thích,… Ví dụ: bản tin, bài báo, sách khoa học, hướng dẫn sử dụng.


20 tháng 5

Tác giả bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là Nguyễn Đình Chiểu. Đây là tác phẩm nổi tiếng viết để ca ngợi tinh thần chiến đấu và sự hi sinh của những nghĩa sĩ nông dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

19 tháng 5

Nhan đề “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” (trích từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ) thể hiện khát vọng sống chân thật, mãnh liệt của con người. Nhan đề này là tuyên ngôn khẳng định giá trị cốt lõi về sự hài hòa giữa tâm hồn và thể xác.