cho em xin dàn ý bài văn nghị luận văn học với ạ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Mở bài:
Giới thiệu hai tác phẩm truyện và nét giống nhau cần so sánh, nêu khái quát cảm nhận chung.
Thân bài:
Giới thiệu khái quát từng tác phẩmTác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính.Điểm giống nhau
So sánh về:
đề tài, chủ đề, nhân vật, giá trị nội dung, nghệ thuật,...
Nêu dẫn chứng và phân tích ngắn gọn.Điểm khác nhau
So sánh sự khác biệt về:
cách xây dựng nhân vật, tình huống truyện, ngôn ngữ, kết thúc truyện, phong cách tác giả,...
Giải thích vì sao có sự khác nhau.Đánh giá
Khẳng định giá trị riêng của mỗi tác phẩm, nêu cảm nhận hoặc bài học rút ra.
Kết bài:
Khẳng định lại nét giống và khác của hai tác phẩm, nêu ấn tượng của em về hai truyện.
Phần thân bài có 4 luận điểm chính:
1. Giải thích
2. Bàn luận
- Vai trò ý nghĩa:
+ Với cá nhân
+ Với gia đình, xã hội
- Dẫn chứng: 1-2 ý và phân tích, làm sáng tỏ VĐNL
3. Mở rộng, phản đề
4. Liên hệ, bài học (những câu cầu khiến, lời kêu gọi, thông điệp truyền cảm hứng)
Thân bài của bài nghị luận xã hội thường gồm 3 phần chính:
Giải thích vấn đềNêu khái niệm, ý nghĩa của vấn đề cần nghị luận.Bàn luận vấn đề
Phân tích biểu hiện, nguyên nhân, tác dụng hoặc tác hại, đưa dẫn chứng để làm rõ vấn đề.Mở rộng và rút ra bài học
Phê phán điều sai trái nếu có, liên hệ bản thân và rút ra bài học nhận thức, hành động.
Nói ngắn gọn:
thân bài thường gồm giải thích, bàn luận, mở rộng vấn đề.
nguồn :https://vndoc.com/nghi-luan-xa-hoi-ve-van-de-o-nhiem-moi-truong-110976 Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề cần quan tâm, thậm chí là ở mức báo động như hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... Một đất nước muốn tồn tại và phát triển lâu bền thì vấn đề bảo vệ môi trường sống là rất quan trọng, nhưng thực tế môi trường hiện nay ngày một ô nhiễm trầm trọng, gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân. Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường sống thiếu trong lành, bị nhiễm các chất độc hại tác động lớn đến đời sống. Thực trạng hiện nay, nhiều khu dân cư rác thải chất thành đống, không có biện pháp xử lý. Nước thải, nước ngầm từ các nhà máy xí nghiệp đổ ra sông, ra biển gây ô nhiễm nguồn nước dẫn đến tình trạng cá chết hàng loạt, nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Nước ở các hồ, sông đen ngòm, bẩn thỉu vì chất thải, vì rác, thậm chí các bãi biển, nơi tập trung nhiều khách du lịch đến tham quan cũng xảy ra hiện tượng rác vứt bừa bãi, gây ảnh hưởng lớn đến mỹ quan. Khói bụi, xe cộ tấp nập, nhiều vô kể trong thành phố, đặc biệt từ các nhà máy thải ra khiến bầu không khí bị ô nhiễm nặng nề, kéo theo đó là các hiện tượng nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính,.... Đi khắp các đường làng, ngõ xóm hay các ngóc ngách ở những đô thị lớn, nơi đâu ta cũng thấy rác, dù ngày ngày các công nhân đô thị vẫn chăm chỉ làm việc, thu dọn nhưng vẫn không thể giảm đi lượng rác thải dùng trong ngày của người dân. Nhiều khu vệ sinh công cộng nhiễm bẩn kinh khủng, các công viên, khu vui chơi,... đâu đâu cũng thấy rác. Đó thực sự là một thực trạng đáng buồn hiện nay, khi mà xã hội càng hiện đại thì môi trường lại càng bị ô nhiễm. Điều gì gây nên hiện tượng ô nhiễm nghiêm trọng như vậy? Phải chăng đó là do chính con người. Những hành vi tiêu cực, hành động khai thác rừng bừa bãi, đốt rừng làm nương rẫy chặt phá cây xanh gây hậu quả đến vấn đề điều hoà môi trường sống. Khai thác các nhiên vật liệu quá mức ở các mỏ quặng cũng gây áp lực rất lớn đến môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. Công tác quản lý của nhà nước chưa được thắt chặt, ý thức của người dân còn kém, tiện đâu vứt đó như một thói quen khó bỏ. Nhiều khu công nghiệp, nhà máy vì mục đích thu lợi nhuận, tiết kiệm tiền đầu tư mà bỏ qua các khâu xử lý nguồn nước thải, lợi dụng những kẽ hở, các sông suối biển gần nhà máy thải ra môi trường bao nhiêu nguồn nước bẩn, nhiễm chất độc gây nguy hại môi trường. Việc phân loại, xử lý rác thải chưa được thắt chặt, khó kiểm soát. Ngoài ra, việc người dân sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, trong trồng trọt và chăn nuôi cũng gây áp lực đến môi trường không nhỏ.
Đoạn sau của bài đấy nè tại mih ch kịp nhập á
Vì những nguyên nhân trên, môi trường ô nhiễm để lại những hậu quả vô cùng lớn. Vấn đề sức khoẻ con người bị đe doạ, số người chết sớm tăng lên, xuất hiện nhiều làng ung thư, vùng ung thư trên cả nước. Môi trường tù đọng là nơi trú ngụ của các loại muỗi gây nguy hiểm cho con người, nhiều người bị lao phổi, viêm xoang, dị ứng,... cũng do tác động không nhỉ của ô nhiễm mà ra. Môi trường sống thiếu an toàn khiến cho đời sống sinh vật cũng gặp khó khăn, nhiều loài sinh vật mất đi môi trường sống của mình. Hiện tượng biến đổi khí hậu cũng trở nên cấp thiết bởi môi trường đang bị tàn phá quá nặng nề. Để hạn chế những hậu quả mà ô nhiễm môi trường gây ra. Hơn ai hết, mỗi người dân phải tự ý thức được việc làm của mình. Nhà nước, cơ quan quản lý phải không ngừng tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân. Kiểm tra, xử lý nghiêm minh những nhà máy, xí nghiệp vi phạm quy định về môi trường, thắt chặt công tác cấm xả rác thải bừa bãi ở bất cứ nơi đâu. Cần có các phương pháp, phương tiện xử lý rác thải hiệu quả, tránh đề tình trạng rác ứ đọng, chồng chất từng đống gây ô nhiễm. Sử dụng các phương tiện công cộng hoặc đi xe đạp, xe điện thay thế cho các loại phương tiện gây ô nhiễm đường phố. Phát động trồng nhiều cây xanh tạo sự trong lành, điều hoà môi trường sống. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu khoa học hay mỗi người cần nghiên cứu phát minh ra những thiết bị, công cụ xử lý, tái chế hay phân loại rác thải nhằm giảm công sức và chi phí, đồng thời giảm thiểu lượng rác thải mỗi ngày. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vui không của riêng ai, hãy chung tay hành động vì một thế giới sống xanh - sạch - đẹp và an toàn. Sứ mệnh của chúng ta là xây dựng môi trường sống lành mạnh và an toàn.
* Tương đồng: - Thuộc thể loại văn xuôi tự sự và trữ tình. - Đều mang tính chất hư cấu - Được viết dựa vào cảm xúc thật của người viết khi chứng kiến hoặc trải nghiệm qua cảm xúc ấy * Điểm khác biệt: - Đề tài của tản văn rộng hơn, bao quát hơn đề tài của thể loại tùy bút. - Tản văn không lấy hiệu quả ở tình tiết, cũng không lấy nhân vật để khắc họa sự hiểu biết, đồng thời cũng không yêu cầu có tình cảm đặc biệt mãnh liệt như thơ, đề tài của tản văn là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suy nghĩ, mong muốn, cảm thấy, xúc động và cuộc sống thường nhật cho đến những hiện tượng khác. - Tùy bút lại là một nhánh nhỏ trong đề tài bao la của tản văn. Tùy bút mang đậm cái tôi của nhà văn. Đặc điểm của tùy bút là: Coi trọng và phát huy tối đa cảm xúc, phong cách, quan điểm của người viết, tạo cho độc giả có dấu ấn nhận biết tác phẩm tùy bút của tác giả đó. VD: - Bài Trăng sáng trên đầm sen với nội dung là văn xuôi, ngắn gọn, hàm súc, có cách thể hiện đa dạng (trữ tình, nghị luận…),chủ yếu thể hiện cảm xúc của tác giả với hiện tượng đời sống thường nhật. → Tản văn. Vì tản văn là thể loại văn xuôi mà ở đó, người viết bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc qua các hiện tượng đời sống thường nhật, giàu ý nghĩa xã hội.
Tuỳ bút và tản văn đều thuộc văn xuôi trữ tình, đều thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết, nhưng có thể phân biệt như sau:
Tuỳ bút:
Là thể loại văn xuôi giàu chất trữ tình, thường ghi lại cảm xúc, suy nghĩ của tác giả trước con người, cảnh vật, sự việc.
Tuỳ bút thường có mạch cảm xúc phóng khoáng, tự do, có thể chuyển từ chuyện này sang chuyện khác theo dòng liên tưởng của tác giả.
Ngôn ngữ trong tuỳ bút thường giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, có chất thơ, chất nghệ thuật cao.
Tuỳ bút thường thể hiện rõ cái tôi của tác giả.
Ví dụ: Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, Cô Tô của Nguyễn Tuân.
Tản văn:
Là thể loại văn xuôi ngắn, thường viết về những vấn đề gần gũi trong đời sống hằng ngày.
Tản văn cũng bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của người viết nhưng thường nhẹ nhàng, giản dị, dễ hiểu hơn tuỳ bút.
Nội dung tản văn có thể là một kỉ niệm, một cảnh vật, một con người, một suy nghĩ nhỏ trong cuộc sống.
Tản văn thường ngắn gọn, tự nhiên, ít cầu kì hơn tuỳ bút.
Cách phân biệt nhanh:
Tuỳ bút: giàu chất nghệ thuật, cảm xúc phóng khoáng, cái tôi tác giả rõ, ngôn ngữ đẹp và giàu hình ảnh.
Tản văn: ngắn gọn, gần gũi đời thường, cảm xúc nhẹ nhàng, suy nghĩ giản dị, dễ hiểu.
Bảng so sánh ngắn:
Tuỳ bút:
Thường dài hơnGiàu chất thơ, chất nghệ thuậtCái tôi tác giả rất rõMạch văn tự do, theo dòng cảm xúc, liên tưởngNgôn ngữ trau chuốt, giàu hình ảnhTản văn:
Thường ngắn hơnGần gũi với đời sốngCảm xúc nhẹ nhàng, tự nhiênMạch văn đơn giản hơnNgôn ngữ giản dị, dễ hiểuCâu trả lời ngắn để đi thi:
Tuỳ bút và tản văn đều là văn xuôi trữ tình, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Tuy nhiên, tuỳ bút thường giàu chất nghệ thuật hơn, mạch cảm xúc tự do, phóng khoáng, ngôn ngữ trau chuốt và thể hiện rõ cái tôi của tác giả. Còn tản văn thường ngắn gọn, gần gũi đời thường, cảm xúc nhẹ nhàng, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu hơn.
\(\rarr\) Tham khảo:
Trong cuộc sống, lời khen và tiếng chê luôn song hành như hai mặt của một vấn đề. Chúng tác động trực tiếp đến tâm lý và sự phát triển của mỗi cá nhân.
Lời khen giống như ánh nắng ấm áp, giúp chúng ta cảm thấy hạnh phúc và tự tin hơn. Khi nhận được một lời khen chân thành về một bài kiểm tra tốt hay một hành động đẹp, ta như được tiếp thêm sức mạnh để cố gắng hơn nữa. Ngược lại, tiếng chê lại như một gáo nước lạnh, đôi khi làm ta buồn bã nhưng nếu đó là lời góp ý đúng đắn, nó sẽ là "vị thuốc đắng" giúp ta nhận ra lỗi sai để sửa đổi.
Tuy nhiên, khen và chê đều là con dao hai lưỡi. Một lời khen quá mức dễ khiến người ta trở nên kiêu ngạo, còn một lời chê bai ác ý có thể làm tổn thương lòng tự trọng và gây ra sự tự ti. Vì vậy, chúng ta cần học cách tiếp nhận mọi nhận xét một cách bình tĩnh: không quá đắc ý khi được khen và không gục ngã khi bị chê.
Đối với mỗi học sinh, chúng ta nên học cách khen ngợi để khích lệ bạn bè và góp ý nhẹ nhàng khi bạn mắc lỗi. Biết sử dụng lời khen và tiếng chê đúng lúc, đúng chỗ sẽ giúp chúng ta hoàn thiện bản thân và xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn.
Trong cuộc sống, ai cũng từng được khen và cũng từng bị chê. Lời khen và lời chê đều là những nhận xét, đánh giá của người khác dành cho việc làm, lời nói hoặc kết quả của mỗi người. Nếu biết đón nhận đúng cách, cả lời khen và lời chê đều có thể giúp con người tiến bộ hơn.
Trước hết, lời khen có ý nghĩa rất quan trọng. Khi ta làm được một việc tốt, đạt kết quả cao trong học tập hoặc có hành động đúng đắn, lời khen sẽ giúp ta cảm thấy vui vẻ, tự tin và có thêm động lực để cố gắng. Một học sinh được thầy cô khen vì chăm chỉ sẽ càng muốn học tập tốt hơn. Một người làm việc tốt được mọi người ghi nhận sẽ thấy việc làm của mình có ý nghĩa. Lời khen giống như một nguồn động viên tinh thần, giúp con người tin vào bản thân và tiếp tục phát huy những điểm mạnh của mình.
Tuy nhiên, không nên vì được khen mà trở nên kiêu căng, tự mãn. Có những người khi được khen quá nhiều lại nghĩ rằng mình đã giỏi nhất, không cần cố gắng nữa. Điều đó rất nguy hiểm, vì sự tự mãn có thể khiến con người dừng lại, không chịu học hỏi và dễ mắc sai lầm. Vì vậy, khi được khen, ta nên vui nhưng phải khiêm tốn. Ta cần xem lời khen là động lực để tiếp tục rèn luyện, chứ không phải là lý do để khoe khoang hay coi thường người khác.
Bên cạnh lời khen, lời chê cũng có vai trò rất cần thiết. Khi ta làm sai, còn thiếu sót hoặc chưa hoàn thành tốt công việc, lời chê giúp ta nhận ra khuyết điểm của mình. Ban đầu, nghe lời chê có thể khiến ta buồn, xấu hổ hoặc khó chịu. Nhưng nếu bình tĩnh suy nghĩ, ta sẽ hiểu rằng nhiều lời chê xuất phát từ mong muốn giúp ta tốt hơn. Ví dụ, khi bài văn còn nhiều lỗi, thầy cô góp ý để ta sửa cách dùng từ, cách diễn đạt. Khi ta cư xử chưa đúng, cha mẹ nhắc nhở để ta biết điều chỉnh hành vi. Nhờ những lời chê chân thành, con người có thể nhìn lại bản thân và sửa chữa lỗi lầm.
Dù vậy, không phải lời chê nào cũng đúng và cũng đáng để ta buồn. Có những lời chê mang tính góp ý xây dựng, nhưng cũng có những lời chê chỉ nhằm chế giễu, xúc phạm hoặc làm người khác tổn thương. Vì thế, khi nghe lời chê, ta cần biết phân biệt. Nếu lời chê đúng, ta nên tiếp thu và sửa đổi. Nếu lời chê không đúng hoặc thiếu thiện chí, ta không nên quá buồn bã mà cần bình tĩnh bỏ qua. Quan trọng nhất là phải giữ thái độ cầu thị, không bảo thủ, không nóng giận khi bị góp ý.
Theo em, khen và chê đều cần thiết trong cuộc sống, nhưng phải đúng lúc, đúng cách và đúng sự thật. Lời khen nên chân thành, không tâng bốc quá mức. Lời chê nên nhẹ nhàng, có thiện chí, không làm người khác mất tự tin. Người biết khen đúng sẽ giúp người khác có thêm động lực. Người biết chê đúng sẽ giúp người khác nhận ra thiếu sót mà không cảm thấy bị tổn thương.
Bản thân em cũng cần học cách đón nhận cả lời khen và lời chê. Khi được khen, em sẽ cố gắng khiêm tốn và tiếp tục phát huy. Khi bị chê, em sẽ bình tĩnh lắng nghe, suy nghĩ xem mình sai ở đâu để sửa chữa. Em hiểu rằng không ai có thể hoàn hảo ngay từ đầu. Muốn tiến bộ, mỗi người cần biết học hỏi từ cả sự động viên lẫn sự góp ý của người khác.
Tóm lại, khen và chê là hai điều luôn tồn tại trong cuộc sống. Lời khen giúp ta có thêm niềm tin, còn lời chê giúp ta nhận ra khuyết điểm. Nếu biết đón nhận khen chê một cách đúng đắn, con người sẽ ngày càng trưởng thành, hoàn thiện bản thân và sống tốt đẹp hơn.
Chào em!
- Cách xác định thuật ngữ trong văn bản: Xem từ đó có phải từ ngữ chuyên môn của một lĩnh vực khoa học hay không. Thuật ngữ thường có nghĩa chính xác, cố định.
Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị khái niệm khoa học, công nghệ hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định.
Để xác định thuật ngữ trong văn bản, em có thể làm như sau:
Tìm những từ ngữ thuộc một lĩnh vực cụ thểVí dụ:
Trong môn Sinh học: tế bào, quần thể, hệ sinh thái, di truyền.
Trong môn Toán học: phân số, phương trình, tam giác, đường tròn.
Trong môn Vật lí: lực, nhiệt năng, vận tốc, áp suất.
Xem từ đó có biểu thị một khái niệm chính xác khôngThuật ngữ thường có nghĩa rõ ràng, không mơ hồ.
Ví dụ:
“Quang hợp” là quá trình cây xanh dùng ánh sáng để tạo chất dinh dưỡng.
Xem từ đó có được dùng trong sách giáo khoa hoặc văn bản khoa học khôngCác từ thường xuất hiện trong bài học, định nghĩa, phần kiến thức khoa học thường là thuật ngữ.
Không nhầm thuật ngữ với từ ngữ thông thườngVí dụ:
“Cây” là từ thông thường.
“Thực vật”, “quang hợp”, “diệp lục” là thuật ngữ Sinh học.
Ví dụ trong câu:
“Quần thể sinh vật là tập hợp các cá thể cùng loài sống trong một khu vực nhất định.”
Các thuật ngữ là:
quần thể sinh vật
cá thể
loài
Khi trình bày trích dẫn cần phải ghi rõ, đánh dấu in đậm hoặc in nghiên để nổi rõ tiêu đề trích dẫn.
Chào em!
- Cước chú là phần ghi chú nhỏ trong văn bản để giải thích từ khó, nguồn trích dẫn hoặc bổ sung thông tin.
- Cách ghi cước chú:
* Đánh số hoặc kí hiệu ở chỗ cần chú thích trong bài.
* Ghi phần giải thích ở cuối trang hoặc cuối văn bản.
* Ví dụ:
“Nam quốc sơn hà”¹
→ ¹ Bài thơ thần nổi tiếng thời Lý.
Mở bài:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Dẫn vào vấn đề nghị luận, nêu cảm nhận hoặc nội dung cần phân tích
Thân bài:
Luận điểm 1, giới thiệu khái quát về tác phẩm hoặc đoạn trích, hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính
Luận điểm 2, phân tích nội dung, nhân vật, hình ảnh, cảm xúc hoặc chủ đề của tác phẩm
Luận điểm 3, phân tích nghệ thuật như ngôn ngữ, biện pháp tu từ, cách xây dựng nhân vật, giọng điệu,...
Đánh giá ý nghĩa và giá trị của tác phẩm
Kết bài:
Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Nêu cảm nghĩ hoặc bài học rút ra từ tác phẩm.