Thưa cô, em là Hoàng Thị Oanh Tuyết lớp 11a7
Cho em hỏi: Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam có thể tận dụng những lợi thế nào về vị trí địa lí để phát triển kinh tế và mở rộng giao lưu quốc tế hiệu quả hơn ạ?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nổi tiếng nhất là nông nghiệp (vựa lúa, vựa trái cây) và thủy hải sản (nuôi trồng, đánh bắt). Đây là vùng sản xuất lương thực chủ lực, đóng góp lượng lớn nông sản xuất khẩu cho cả nước.
- Thu hút vốn đầu tư: Các khu công nghiệp tập trung giúp tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, cơ sở hạ tầng được đầu tư sẵn sàng, giúp thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước dễ dàng hơn.
- Tận dụng nhân công giá rẻ: Các nước này thường có nguồn lao động dồi dào với chi phí thấp, phù hợp cho các ngành công nghiệp tập trung cần sử dụng nhiều lao động.
- Hỗ trợ chính sách: Chính phủ thường có các chính sách ưu đãi về thuế, thuê đất và thủ tục hành chính tại các khu công nghiệp để thúc đẩy công nghiệp hóa.
Tham khảo !
Hình thức khu công nghiệp tập trung phổ biến ở các nước đang phát triển vì:
-Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.
-Tập trung cơ sở hạ tầng, thuận lợi cho sản xuất.
-Tạo nhiều việc làm cho lao động.
-Dễ quản lí và bảo vệ môi trường hơn sản xuất phân tán.
-Thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Dân cư Nam Phi tập trung đông đúc ở vùng ven biển chủ yếu vì các lý do sau:
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi: Vùng ven biển thường có khí hậu ôn hòa, mát mẻ hơn và lượng mưa dồi dào hơn so với vùng nội địa (nơi có nhiều hoang mạc và bán hoang mạc khô hạn).
- Phát triển kinh tế: Đây là nơi tập trung các thành phố lớn, các hải cảng quan trọng giúp thuận tiện cho việc giao thương quốc tế, xuất nhập khẩu hàng hóa và phát triển công nghiệp, dịch vụ.
- Tài nguyên và nông nghiệp: Đất đai ở vùng ven biển thường màu mỡ hơn, nguồn nước dồi dào, thuận lợi cho việc định cư và sản xuất nông nghiệp.
- Lịch sử khai thác: Quá trình thực dân hóa và khai thác lãnh thổ trước đây cũng bắt đầu từ các vùng ven biển, tạo nên nền tảng hạ tầng và đô thị hóa sớm tại đây.
Do ảnh hưởng của ĐKTN (đặc biệt khí hậu) và yếu tố lịch sử - KTXH.
Do diện tích tài nguyên đất có hạn, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thay đổi cơ cấu cây trồng.
Câu 1. Việc mở rộng diện tích trồng lúa không còn phù hợp vì quỹ đất nông nghiệp ngày càng hạn chế, nhiều diện tích cần dành cho công nghiệp và đô thị hóa, hiệu quả kinh tế của lúa không cao bằng nhiều loại cây trồng khác, ngoài ra biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn cũng làm giảm hiệu quả sản xuất lúa nên hiện nay cần chú trọng nâng cao năng suất và chất lượng thay vì chỉ mở rộng diện tích.
Nhà thám hiểm người Na Uy Roald Amundsen cùng đội của ông là những người đầu tiên đặt chân đến Cực Nam
Câu 1. Roald Amundsen là người đầu tiên đặt chân đến Châu Nam Cực vào ngày 14 tháng 12 năm 1911. Ông cùng đoàn thám hiểm Na Uy đã đến được điểm Nam Cực trước đoàn của Robert Scott.
\(\rarr\) Bưu chính và viễn thông khác biệt chủ yếu ở đối tượng vận chuyển và hình thức truyền tin: ngành bưu chính tập trung gửi các vật phẩm hữu hình (thư từ, hàng hóa) thông qua mạng lưới vận tải, trong khi ngành viễn thông truyền tải thông tin vô hình (dữ liệu, âm thanh, hình ảnh) bằng các thiết bị điện tử và mạng internet. Do đó, bưu chính phụ thuộc nhiều vào hạ tầng giao thông, còn viễn thông đòi hỏi cao về trình độ công nghệ số.
- Tính liên thông và lan tỏa: Môi trường biển đảo không thể chia cắt. Một khu vực biển hay đảo bị ô nhiễm sẽ dễ dàng lan rộng ra các khu vực lân cận, gây tác động đến cả vùng ven bờ.
- Độ nhạy cảm sinh thái: Môi trường đảo nhỏ thường biệt lập và rất nhạy cảm trước tác động của con người, hệ sinh thái dễ bị tổn thương và khó phục hồi hơn trên đất liền.
- Khí hậu và hải văn: Khí hậu biển đảo mang tính nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ nước biển cao (trung bình >\(23^{\circ }C\)) và độ muối (30 - 33‰). Thời tiết biển thường biến động nhanh, mưa lớn và bão cường độ mạnh.
- Tài nguyên và hệ sinh thái: Biển đảo giàu tài nguyên sinh vật và khoáng sản, nhưng cũng chịu áp lực lớn từ hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản và giao thông vận tải, dễ gây ô nhiễm.
Châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long đều được hình thành do phù sa sông bồi đắp, nhưng có quá trình hình thành khác nhau:
1. Châu thổ sông Hồng
- Được hình thành bởi phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình.
- Quá trình bồi đắp diễn ra tương đối nhanh nhưng bị chi phối mạnh bởi đê điều.
- Con người đã xây dựng hệ thống đê từ lâu, nên phù sa chủ yếu bồi đắp trong đê, ít mở rộng ra biển.
- Địa hình tương đối cao, bị chia cắt nhiều.
2. Châu thổ sông Cửu Long
- Do phù sa của sông Mê Kông bồi đắp.
- Quá trình hình thành tự nhiên, ít bị cản trở bởi đê điều.
- Phù sa được phân bố rộng, liên tục lấn ra biển.
- Địa hình thấp, bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi dày đặc. Điểm khác biệt lớn nhất:
Châu thổ sông Hồng bị ảnh hưởng mạnh bởi hệ thống đê điều nên ít được bồi đắp tự nhiên ra ngoài, còn châu thổ sông Cửu Long phát triển tự nhiên, phù sa bồi đắp rộng và liên tục ra biển.
Châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Cửu Long đều được hình thành do phù sa sông bồi đắp qua thời gian dài.
Giống nhau:
Cả hai đều là đồng bằng châu thổ lớn của nước ta.
Đều được hình thành chủ yếu do phù sa của hệ thống sông bồi tụ.
Đều có đất phù sa màu mỡ, thuận lợi cho trồng lúa nước và phát triển nông nghiệp.
Khác nhau:
Châu thổ sông Hồng:
Được hình thành do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.
Có lịch sử khai thác lâu đời.
Có hệ thống đê điều phát triển để ngăn lũ.
Do có đê nên phù sa ít được bồi đắp tự nhiên hằng năm trên mặt ruộng.
Địa hình cao hơn, ít bị ngập hơn so với đồng bằng sông Cửu Long.
Châu thổ sông Cửu Long:
Được hình thành do phù sa của sông Mê Công bồi đắp.
Địa hình thấp, bằng phẳng hơn.
Có nhiều sông ngòi, kênh rạch chằng chịt.
Không có hệ thống đê lớn bao bọc như đồng bằng sông Hồng.
Hằng năm vẫn được bồi đắp phù sa tự nhiên nhiều hơn, nhưng cũng thường chịu ảnh hưởng của ngập lũ, triều cường và xâm nhập mặn.
Điểm khác biệt lớn nhất:
Châu thổ sông Hồng có hệ thống đê điều lớn nên ít được bồi đắp phù sa tự nhiên hằng năm, còn châu thổ sông Cửu Long không có đê bao lớn như vậy nên vẫn thường xuyên được phù sa bồi đắp và chịu tác động mạnh của sông nước, ngập lũ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiều lợi thế về vị trí địa lí để phát triển kinh tế và mở rộng giao lưu quốc tế như:
nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, gần các tuyến hàng hải và hàng không quốc tế nên thuận lợi giao thương với nhiều nước, giáp biển Đông giúp phát triển kinh tế biển, cảng biển, du lịch và xuất nhập khẩu, ngoài ra Việt Nam còn là cầu nối giữa đất liền và biển, giữa các nước Đông Nam Á với khu vực châu Á, nhờ đó dễ thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường và tăng cường hợp tác quốc tế.