các triều đại phương bắc đã thi hành những chính sách nào đối với nhân dân ta ? theo em chính sách nào thâm độc nhất? vì sao?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đề thi đánh giá năng lực
- Phát triển tiềm năng: Mỗi cá nhân đều có những tiềm năng riêng. Việc nỗ lực cải thiện bản thân giúp khám phá và phát huy tối đa những khả năng đó, từ đó đạt được thành công và hạnh phúc lớn hơn trong cuộc sống.
- Thích nghi với thay đổi: Thế giới luôn vận động và thay đổi không ngừng. Trở thành phiên bản tốt hơn giúp chúng ta linh hoạt hơn, dễ dàng thích nghi với những hoàn cảnh mới, thách thức mới.
- Tạo ra giá trị: Khi chúng ta tốt hơn, chúng ta có thể đóng góp nhiều hơn cho gia đình, cộng đồng và xã hội, tạo ra những giá trị tích cực và lan tỏa cảm hứng đến mọi người xung quanh.
- Hạnh phúc và sự hài lòng: Quá trình vượt qua chính mình, học hỏi điều mới và tiến bộ mỗi ngày mang lại cảm giác thỏa mãn, tự tin và hạnh phúc đích thực.
Câu 1
Mọi thứ trên cuộc đời này luôn không ngừng thay đổi không có gì đứng quá một khoảnh khắc.Và con người cũng vậy chúng ta không thể sống mãi trong quá khứ của ngày hôm qua , điều ta có thể làm thay vì nuối tiếc là hãy coi nó giống như một bản thảo và hoàn thiện nó tốt hơn ở hiện tại, rũ bỏ tư duy cũ kỹ bắt kịp với thế giới mới.Tuy nhiên việc đổi mới tư tưởng và làm mới con người không đồng nghĩa với việc biến đổi tràn lan không nhìn nhận đúng hay sai, điều này càng tạo ra một môi trường , cá nhân sai lệch, việc cần làm trước khi đưa ra một quyết định phải cân nhắc và tìm hiểu kỹ lưỡng.Mỗi cá nhân dám tiến về phía trước, sống đúng, không ngừng học hỏi hoàn thiện bản thân chính là những hạt mầm tươi tốt tạo nên sự xanh cho đời.Tóm lại không chỉ trong suy nghĩ của em mà còn của rất nhiều người việc thay đổi đúng về tư tưởng lối sống, phẩm chất chính là góp phần tạo nên một xã hội vững mạnh , văn minh.
1. Xác định mục đích nghị luận của văn bản Answer: Mục đích nghị luận của văn bản là nhằm thuyết phục người đọc về ý nghĩa của việc bắt đầu từ những hành động nhỏ bé để đạt được thành công lớn trong cuộc sống và sự nghiệp. 2. Điều gì khiến cho Elon Musk trở nên khác biệt Answer: Theo văn bản, điều khiến Elon Musk trở nên khác biệt với phần còn lại của thế giới là việc ông luôn bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt nhất, tỉ mỉ trong từng chi tiết, và không ngừng học hỏi từ những thất bại để cải tiến sản phẩm và dịch vụ của mình.
- Nhan đề nêu lên luận điểm chính, là kim chỉ nam cho toàn bộ nội dung bài viết.
- Nội dung văn bản sử dụng dẫn chứng từ cuộc đời và sự nghiệp của Elon Musk để làm sáng tỏ luận điểm này, chỉ ra rằng chính sự chú tâm vào những việc nhỏ đã tạo nên thành công phi thường.
- Ngôn ngữ biểu cảm giúp bộc lộ thái độ, cảm xúc của người viết đối với vấn đề nghị luận.
- Nó tạo sự đồng cảm, khiến người đọc dễ dàng tiếp nhận và ghi nhớ thông điệp về sự kiên trì và tầm quan trọng của những hành động nhỏ bé.
- Quan điểm của Dế Mèn (Tô Hoài) thể hiện khao khát thoát khỏi sự ràng buộc, khuôn khổ chật hẹp, tầm thường để sống một cuộc đời phiêu lưu, có ý nghĩa lớn lao hơn.
- Quan điểm của Đỗ Thành Long nhấn mạnh việc mỗi cá nhân cần đặt mình trong khuôn khổ chung của xã hội, đóng góp bằng những hành động cụ thể, dù nhỏ.
- Sự bổ sung nằm ở chỗ: để thực hiện được khao khát lớn (thoát khỏi khuôn khổ tầm thường), con người vẫn cần tuân thủ những khuôn khổ đạo đức, pháp luật chung của xã hội và hành động bằng những việc làm thiết thực, bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt.
- Cả hai đều hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa, có bản lĩnh, nhưng tiếp cận từ hai góc độ khác nhau: một bên là khát vọng vươn lên, một bên là phương thức thực hiện trong thực tế.
Câu 1: Mục đích của văn bản nghị luận trên là: Hãy rèn luyện , tập trung phát triển bản thân mỗi ngày, không cần trở nên vĩ đại nhưng mỗi cá nhân nên sống và trở thành những hạt giống có ích cho bản thân và xã hội
Câu 2: Điều khiến elon musk trở thành 1 phần khác biệt với thế giới là nhờ độ tập trung đến mức ám ảnh và khả năng giải quyết vấn đề ở cấp kỹ thuật 1 cách chi tiết , Cho thấy ông là một người kiên nhẫn, bền bỉ hoàn thành tốt công việc của mình
Câu 3: Mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung: Nhan đề của bài viết nhằm nhấn mạnh việc tích lũy xây dựng bản thân từ những điều nhỏ bé nhất, cũng giống như nội dung văn bản này cũng nói đến việcc hãy bắt đầu hành trình hoàn thiện cá nhân từ những việc nhỏ bé và góp gió thành bão từ đó mới tạo nên 1 cá nhân vững chãi
Câu 4: Ngôn ngữ biểu cảm được sử dụng trong đoạn (2) (3) :là những từ ngữ thể hiện cảm xúc quyết tâm, sẵn sàng cho công cuộc xây dựng hoàn thiện cá nhân bản thân.
- Tác dụng nhằm: Biểu lộ thái độ tình cảm của người nói, tác động đến tinh thần người nghe, truyền cảm hứng cho người nghe, để thể hiện được việc xây dựng hoàn thành bản thân không chỉ cho riêng 1 người mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội.
Câu 5:Theo em nghĩ 2 quan điểm này đúng là có mâu thuẫn với nhau .Vì có lẽ 2 cái khuôn mẫu trong 2 quan điểm này có sự khác biệt trong Dế mèn phiêu lưu ký khuôn khổ có thể là sự giam lỏng tù túng đối với người trẻ thì đây đúng là 1 cực hình đang sức sống phơi phới việc bị kẹt lại trong 1 không gian chật hẹp đúng là bí bách, nhưng trong quan điểm thứ 2 việc tác giả nói mỗi người nên tự đặt mình trong khuôn khổ là một cách thể hiện khác của việc tự cá nhân mỗi người sống trong kỷ luật, khuôn phép, sự nghiêm túc chứ kh phải giam lỏng. Người trẻ có quyền được tự do và thoa sức làm điều mình thích nhưng phải đúng không trật tự , đúng đắn của xã hội.
II. VIẾT
Câu 1:
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà còn là không gian sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của mỗi người. Khi môi trường bị ô nhiễm hay tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về mặt cảm xúc, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh. Bên cạnh đó, nhà nước và các tổ chức cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau.
Câu 2:
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi và tìm về với thiên nhiên. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt, thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của mỗi tác giả.
Trước hết, điểm gặp gỡ giữa hai nhà thơ là ở lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa cuộc sống giản dị với “một mai, một cuốc, một cần câu”, tự do, ung dung giữa cảnh quê thanh bình. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên hiện lên với bầu trời thu xanh, làn nước trong và không gian tĩnh lặng. Cả hai đều thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tâm hồn, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống. Điều đó cho thấy vẻ đẹp chung của người ẩn sĩ: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và không bị cuốn theo vòng xoáy danh lợi.
Tuy nhiên, đằng sau sự tương đồng ấy lại là những khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc lựa chọn cuộc sống “nhàn” là một sự chủ động và đầy bản lĩnh. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại” của người khôn, biết tránh xa danh lợi để giữ trọn khí tiết. Giọng thơ của ông vì thế mang vẻ ung dung, nhẹ nhàng và có phần triết lí. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn dật lại gắn với tâm trạng buồn bã, bất lực trước thời cuộc. Là một người từng làm quan nhưng chứng kiến xã hội rối ren, ông lui về quê sống ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu nỗi niềm. Cảnh thu trong thơ ông tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn và tiếc nuối. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thấy sự an nhiên thực sự trong cuộc sống ẩn dật, thì Nguyễn Khuyến lại mang theo nỗi đau thời thế vào trong từng vần thơ.
Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, giọng điệu thơ có sự khác biệt: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí, nhẹ nhàng; còn thơ Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, sâu lắng và man mác buồn.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, biết giữ mình trước danh lợi, đồng thời cũng phản ánh những tâm trạng khác nhau của các nhà nho trước thời cuộc. Điều đó không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về con người và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, mà còn gợi nhắc về giá trị của một lối sống giản dị, thanh sạch và giàu ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.
C1:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn nhân loại. Môi trường là không gian sống của con người và muôn loài sinh vật, cung cấp không khí, nước, đất và các nguồn tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Khi môi trường bị ô nhiễm hoặc tàn phá, không chỉ thiên nhiên bị tổn hại mà sức khỏe và đời sống tinh thần của con người cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Những hiện tượng như biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng hay ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiếu ý thức. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh, phân loại rác thải hay nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Khi mỗi cá nhân thay đổi nhận thức và hành động tích cực, môi trường sống sẽ dần được cải thiện. Như vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính con người hôm nay và cả các thế hệ mai sau, vì thế mỗi chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp.
C2:
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một hình tượng quen thuộc, thể hiện nhân cách thanh cao và thái độ sống của các nhà nho trước những biến động của xã hội. Khi con đường công danh không còn phù hợp với lý tưởng đạo đức, nhiều trí thức đã lựa chọn lối sống ẩn dật, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Qua hai tác phẩm, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng về lối sống và nhân cách, vừa có những nét khác biệt về tâm trạng và cảm xúc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của các trí thức xưa.
Trước hết, trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, thanh thản và chủ động lựa chọn cuộc sống xa rời danh lợi. Ngay từ những câu thơ mở đầu:
“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”
Những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê. Điệp từ “một” được lặp lại ba lần không chỉ tạo nhịp điệu khoan thai mà còn nhấn mạnh sự đơn sơ trong cuộc sống của người ẩn sĩ. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm trạng ung dung, tự tại, không bị ràng buộc bởi những bon chen nơi chốn quan trường. Đặc biệt, quan niệm sống của tác giả được thể hiện sâu sắc qua hai câu thơ:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”
Ở đây, cách nói “ta dại” là một lối nói ngược, thể hiện sự tự ý thức của tác giả. Người đời cho rằng tìm nơi vắng vẻ là “dại”, nhưng thực chất đó lại là lựa chọn khôn ngoan của người hiểu rõ giá trị của sự thanh thản. Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế hiện lên với tư thế chủ động, coi thường danh lợi và hướng đến đời sống tinh thần trong sạch.
Cuộc sống của người ẩn sĩ trong bài thơ còn gắn bó mật thiết với thiên nhiên bốn mùa:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”
Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi đã khắc họa cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giản dị mà thanh cao. Người ẩn sĩ tìm niềm vui trong những sinh hoạt bình thường, không bị chi phối bởi vật chất hay danh vọng. Điều này được khẳng định rõ hơn trong hai câu thơ cuối:
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
Qua hình ảnh “phú quý tựa chiêm bao”, tác giả thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi, xem giàu sang chỉ là điều phù phiếm, không đáng để đánh đổi sự bình yên của tâm hồn. Như vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của sự ung dung, tự tại và lạc quan.
Nếu người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung và thanh thản thì trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại gắn liền với tâm trạng sâu lắng và nỗi niềm riêng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng và trong trẻo:
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”
Không gian mùa thu được mở ra với màu sắc trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác vắng lặng. Những từ ngữ như “lơ phơ”, “hắt hiu” đã tạo nên không khí buồn nhẹ, gợi lên tâm trạng cô đơn của người ẩn sĩ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là nơi để sống mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng của con người.
Những câu thơ tiếp theo tiếp tục khắc họa vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh vật:
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.”
Cảnh vật hiện lên mờ ảo, yên tĩnh, mang vẻ đẹp tinh tế và giàu chất trữ tình. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là tâm trạng suy tư của tác giả. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”
Hình ảnh “thẹn với ông Đào” (Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng với lối sống ẩn dật) cho thấy sự tự ý thức về nhân cách và lý tưởng sống. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ thưởng thức thiên nhiên mà còn suy ngẫm về bản thân, mang trong lòng nỗi niềm trăn trở trước cuộc đời.
So sánh hai bài thơ, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả hai đều lựa chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách thanh cao. Thiên nhiên trong hai bài thơ đều trở thành không gian sống lý tưởng, giúp con người tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Đồng thời, cả hai tác giả đều thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao giá trị của đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ cũng có những nét khác biệt rõ rệt. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, lạc quan và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, thể hiện thái độ sống tích cực và bình thản. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng trầm lắng, có phần cô đơn và suy tư. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm màu tâm trạng, thể hiện nỗi buồn trước thời cuộc và sự bất lực trước thực tại.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ đều mang vẻ đẹp của nhân cách cao quý và tâm hồn thanh sạch. Qua đó, các tác giả đã thể hiện quan niệm sống đề cao sự thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Đồng thời, hai tác phẩm cũng góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.
Nhìn chung, hai bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người. Hình tượng người ẩn sĩ qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lối sống và nhân cách của các nhà nho xưa. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp mà cha ông đã để lại cho nền văn học dân tộc.
Câu 1.
Theo bài viết, “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau buồn, mất mát của con người trước sự suy giảm hoặc biến mất của môi trường tự nhiên và hệ sinh thái do biến đổi khí hậu gây ra.
Câu 2.
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự: nêu hiện tượng → giải thích khái niệm → đưa ra dẫn chứng thực tế → cung cấp số liệu khảo sát để mở rộng và làm rõ vấn đề.
Câu 3.
Tác giả sử dụng các bằng chứng như: ý kiến và nghiên cứu của các nhà khoa học; dẫn chứng thực tế về các cộng đồng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (người Inuit ở Canada, nông dân ở Australia, các tộc người bản địa ở Brazil); và số liệu khảo sát về cảm xúc của trẻ em, thanh thiếu niên ở nhiều quốc gia.
Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc nhìn tâm lí và đời sống tinh thần của con người, cho thấy biến đổi khí hậu không chỉ gây tổn hại môi trường mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cảm xúc và sức khỏe tinh thần của con người.
Câu 5.
Thông điệp sâu sắc nhất là biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường mà còn tác động mạnh đến đời sống tinh thần của con người. Vì vậy mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và có trách nhiệm hơn với Trái Đất.
Câu 1:
Theo bài viết, hiện tượng tiếc thương sinh thái là trạng thái cảm xúc buồn bã, lo lắng hoặc đau buồn của con người khi nhận thấy môi trường tự nhiên bị suy thoái, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và hệ sinh thái bị tổn hại.
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự từ việc nêu thực trạng, sau đó đưa ra dẫn chứng và số liệu cụ thể. Tác giả trước hết đề cập đến hiện tượng tiếc thương sinh thái do biến đổi khí hậu, rồi dẫn kết quả khảo sát để làm rõ mức độ ảnh hưởng của vấn đề này đối với giới trẻ.
Câu 3:
Tác giả sử dụng các bằng chứng như kết quả khảo sát, số liệu thống kê và dẫn chứng khoa học (Cuộc thăm dò của Caroline Hickman và cộng sự với 1.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở 10 quốc gia).
Câu 4:
Cách tiếp cận vấn đề của tác giả mang tính khách quan và khoa học. Tác giả không chỉ nêu hiện tượng mà còn đưa ra số liệu khảo sát cụ thể, giúp người đọc hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cảm xúc và đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ.
Câu 5:
Từ bài viết trên thông điệp sâu sắc nhất đối với em là: Con người cần nhận thức về những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với thiên nhiên và đời sống. Thông điệp này có ý nghĩa với em vì biến đổi khí hậu không chỉ gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác động mạnh mẽ đến tâm lý và cuộc sống của con người. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và chung tay hành động để giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Tóm lại thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng em mà còn đối với tất cả mọi người.
Số mol của urani hiện tại là nU=mUAU=46.97×10-3238≈1.97378×10-4mol𝑛𝑈=𝑚𝑈𝐴𝑈=46.97×10−3238≈1.97378×10−4mol.
Số mol của chì hiện tại là nPb=mPbAPb=23.15×10-3206≈1.12378×10-4mol𝑛𝑃𝑏=𝑚𝑃𝑏𝐴𝑃𝑏=23.15×10−3206≈1.12378×10−4mol. Step 2: Tính số mol urani ban đầu Do tất cả chì đều là sản phẩm phân rã của urani, số mol urani đã phân rã bằng số mol chì tạo thành.
Số mol urani ban đầu là n0=nU+nPb≈1.97378×10-4+1.12378×10-4≈3.09756×10-4mol𝑛0=𝑛𝑈+𝑛𝑃𝑏≈1.97378×10−4+1.12378×10−4≈3.09756×10−4mol. Step 3: Áp dụng công thức tính tuổi của khối đá Sử dụng công thức định luật phân rã phóng xạ N=N0e−λt𝑁=𝑁0𝑒−𝜆𝑡, hay N0N=eλt𝑁0𝑁=𝑒𝜆𝑡.
Với λ=ln(2)T𝜆=ln(2)𝑇, ta có eln(2)Tt=n0nU𝑒ln(2)𝑇𝑡=𝑛0𝑛𝑈.
Lấy logarit tự nhiên hai vế: ln(2)Tt=ln(n0nU)ln(2)𝑇𝑡=ln𝑛0𝑛𝑈.
Tuổi của khối đá là t=Tln(2)ln(n0nU)𝑡=𝑇ln(2)ln𝑛0𝑛𝑈. Thay số: t=4.47×109ln(2)ln(3.09756×10-41.97378×10-4)≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm𝑡=4.47×109ln(2)ln3.09756×10−41.97378×10−4≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm
Số mol của urani hiện tại là nU=mUAU=46.97×10-3238≈1.97378×10-4mol𝑛𝑈=𝑚𝑈𝐴𝑈=46.97×10−3238≈1.97378×10−4mol.
Số mol của chì hiện tại là nPb=mPbAPb=23.15×10-3206≈1.12378×10-4mol𝑛𝑃𝑏=𝑚𝑃𝑏𝐴𝑃𝑏=23.15×10−3206≈1.12378×10−4mol. Step 2: Tính số mol urani ban đầu Do tất cả chì đều là sản phẩm phân rã của urani, số mol urani đã phân rã bằng số mol chì tạo thành.
Số mol urani ban đầu là n0=nU+nPb≈1.97378×10-4+1.12378×10-4≈3.09756×10-4mol𝑛0=𝑛𝑈+𝑛𝑃𝑏≈1.97378×10−4+1.12378×10−4≈3.09756×10−4mol. Step 3: Áp dụng công thức tính tuổi của khối đá Sử dụng công thức định luật phân rã phóng xạ N=N0e−λt𝑁=𝑁0𝑒−𝜆𝑡, hay N0N=eλt𝑁0𝑁=𝑒𝜆𝑡.
Với λ=ln(2)T𝜆=ln(2)𝑇, ta có eln(2)Tt=n0nU𝑒ln(2)𝑇𝑡=𝑛0𝑛𝑈.
Lấy logarit tự nhiên hai vế: ln(2)Tt=ln(n0nU)ln(2)𝑇𝑡=ln𝑛0𝑛𝑈.
Tuổi của khối đá là t=Tln(2)ln(n0nU)𝑡=𝑇ln(2)ln𝑛0𝑛𝑈. Thay số: t=4.47×109ln(2)ln(3.09756×10-41.97378×10-4)≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm𝑡=4.47×109ln(2)ln3.09756×10−41.97378×10−4≈4.47×1090.693ln(1.57)≈6.45×109×0.45≈2.9×109năm
Với H0=2μCi𝐻0=2𝜇Ci, T=15gi𝑇=15gi, t=7,5gi𝑡=7,5gi. H=2⋅2−7,515=2⋅2-0,5=2⋅12=2μCi𝐻=2⋅2−7,515=2⋅2−0,5=2⋅12√=2√𝜇Ci Step 2: Chuyển đổi đơn vị độ phóng xạ Độ phóng xạ ban đầu H0=2μCi=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq𝐻0=2𝜇Ci=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq(phân rã/giây).
Độ phóng xạ sau 7,5 giờ: H=2μCi≈1,414μCi𝐻=2√𝜇Ci≈1,414𝜇Ci.
Độ phóng xạ của mẫu máu lấy ra: H′=502phân rã/phút=50260Bq𝐻′=502phânrã/phút=50260Bq(phân rã/giây). Step 3: Tính thể tích máu Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Độ phóng xạ H′𝐻′đo được từ thể tích mẫu V′=1cm3𝑉′=1cm3phải tương ứng với độ phóng xạ H𝐻trong toàn bộ thể tích V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=H′V′𝐻𝑉=𝐻′𝑉′ V=H⋅V′H′=2μCi⋅1cm3502phân rã/phút𝑉=𝐻⋅𝑉′𝐻′=2√𝜇Ci⋅1cm3502phânrã/phút Để tính toán, sử dụng đơn vị Bq cho độ phóng xạ: V=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3𝑉=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3 Hoặc sử dụng đơn vị μCi𝜇Cicho độ phóng xạ: H′=502phân rã/phút=50260⋅3,7⋅104μCi≈0,000226μCi𝐻′=502phânrã/phút=50260⋅3,7⋅104𝜇Ci≈0,000226𝜇Ci
H0=7,4×104×60=4,44×106𝐻0=7,4×104×60=4,44×106phân rã/phút. Step 2: Tính độ phóng xạ còn lại của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ Sử dụng công thức độ phóng xạ: H=H0×2−tT𝐻=𝐻0×2−𝑡𝑇.
Với H0=4,44×106𝐻0=4,44×106phân rã/phút, t=7,5𝑡=7,5giờ, T=15𝑇=15giờ:
H=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2-0,5=4,44×1062≈3,1397×106𝐻=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2−0,5=4,44×1062√≈3,1397×106phân rã/phút. Step 3: Tính thể tích máu của người đó Độ phóng xạ của 1cm31cm3máu sau 7,5 giờ là h=502ℎ=502phân rã/phút.
Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=h1cm3𝐻𝑉=ℎ1cm3 V=Hh×1cm3𝑉=𝐻ℎ×1cm3 V=3,1397×106502≈6254,4cm3𝑉=3,1397×106502≈6254,4cm3 V≈6,25L𝑉≈6,25L
Câu 1 Hình tượn người phụ nữ trong bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" của nguyễn quan thiều hiện lên đầy ám ảnh với vẻ đẹp lam lũ, vất vả nhưng vô cùng kiên cường. Qua những chi tiết tả thực như "ngón chân xương xẩu", "móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái", tác giả khắc họa sâu sắc sự nhọc nhằn của những người phụ nữ lao động nghèo. Đôi chân ấy không chỉ gánh nước mà còn gánh cả gánh nặng cuộc đời, thời gian "năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm". Vẻ đẹp của họ không nằm ở sự kiều diễm mà ở sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, thầm lặng cống hiến sức mình cho cuộc sống. Hình ảnh hoán dụ "gánh nước sông" vừa nhấn mạnh công việc vất vả, vừa gợi lên thân phận trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ nông thôn Việt Nam. Đoạn thơ không chỉ thể hiện nỗi xót xa, thương cảm trước những kiếp người "đàn bà gánh nước" mà còn ngợi ca phẩm chất chịu đựng, sức sống tiềm tàng và tình yêu thương gia đình cao quý của họ. Tóm lại, hình tượng người phụ nữ trong bài thơ là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng, chịu thương chịu khó.
Câu 2 Hội chứng "burnout" (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng báo động trong giới trẻ hiện nay, không chỉ ở môi trường làm việc mà còn cả học tập. Đó là trạng thái kiệt quệ về thể chất, tâm lý và cảm xúc, dẫn đến mất động lực, giảm năng suất và cảm giác tách biệt. Nguyên nhân sâu xa đến từ áp lực thành tích, sự kỳ vọng của xã hội và áp lực đồng trang lứa, khiến người trẻ không ngừng chạy đua trong xã hội hiện đại. Burnout không chỉ là mệt mỏi thông thường mà là sự "cháy sạch" năng lượng bên trong. Biểu hiện dễ thấy là việc người trẻ mất hứng thú với những đam mê trước đây, luôn trong trạng thái căng thẳng, lo âu, hay quên, giảm khả năng tập trung và thường xuyên muốn tách biệt khỏi xã hội. Nhiều bạn trẻ cảm thấy mình phải "hoàn hảo", luôn phải bận rộn để chứng tỏ giá trị bản thân, dẫn đến tình trạng làm việc quá sức.Nguyên nhân của hội chứng này phần lớn đến từ môi trường xã hội cạnh tranh khốc liệt. Sự phát triển của mạng xã hội tạo ra "áp lực đồng trang lứa", khi thấy người khác thành công sớm, giới trẻ cảm thấy tự ti và ép buộc mình phải chạy nhanh hơn. Ngoài ra, việc thiếu cân bằng giữa thời gian học tập/làm việc và nghỉ ngơi cũng là yếu tố chính.Hậu quả của burnout là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ gây ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, công việc mà còn dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm về tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu và suy giảm thể chất nghiêm trọngĐể vượt qua burnout, giới trẻ cần học cách lắng nghe cơ thể và tâm trí mình. Cần dám sống chậm lại, thiết lập ranh giới rõ ràng giữa công việc và cuộc sống, dành thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục và tìm kiếm sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình hoặc chuyên gia tâm lý. Hãy nhớ rằng: "Sức khỏe tinh thần là nền tảng của mọi thành công".
Tóm lại, burnout là một căn bệnh thời đại của giới trẻ. Chúng ta cần thay đổi tư duy về thành công, trân trọng sức khỏe bản thân và dũng cảm đối mặt với áp lực để có thể sống một cuộc sống cân bằng và hạnh phúc hơn
\(\)
Câu1 thể thơ tự do
Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông
Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải
Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài
câu 1.
bài thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ.
câu 2.
nhịp thơ trong bài khá linh hoạt, chủ yếu ngắt theo nhịp 3/5 hoặc 4/4, tạo cảm giác dồn nén, day dứt. điệp khúc “yêu, là chết ở trong lòng một ít” được lặp lại nhiều lần, tạo âm hưởng ám ảnh, xoáy sâu vào cảm xúc đau đớn của nhân vật trữ tình.
câu 3.
- đề tài: tình yêu.
- chủ đề: bài thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của xuân diệu – yêu là sự hi sinh, là nỗi đau, là cảm giác mất mát và cô đơn khi tình cảm không được đáp lại trọn vẹn. qua đó cho thấy tâm hồn nhạy cảm, mãnh liệt và đầy khát khao yêu thương của nhà thơ.
câu 4.
hình ảnh “cảnh đời là sa mạc cô liêu” là một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng mạnh. “sa mạc” gợi sự khô cằn, rộng lớn nhưng trống trải, thiếu sức sống. kết hợp với “cô liêu” càng nhấn mạnh cảm giác lạc lõng, bơ vơ của con người khi yêu mà không được đáp lại. hình ảnh này cho thấy tình yêu có thể khiến con người rơi vào trạng thái cô đơn tột cùng, giữa cuộc đời mênh mông nhưng không tìm được sự đồng điệu.
câu 5.
bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về tình yêu. yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn có thể mang đến đau khổ và tổn thương. tuy vậy, con người vẫn luôn khao khát được yêu và được sống hết mình với cảm xúc. điều đó cho thấy tình yêu là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, giúp con người trưởng thành hơn, dù đôi khi phải đánh đổi bằng những “cái chết ở trong lòng”.
Câu 1:
Bài thơ Yêu được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2:
Nhịp thơ linh hoạt, tự do, biến đổi theo cảm xúc.
Nhiều câu thơ có nhịp 2/3, 3/3 hoặc ngắt nhịp tự nhiên, tạo giọng điệu tâm tình, tha thiết.
Nhịp thơ khi thì chậm, trầm lắng, khi lại dồn dập, mãnh liệt, thể hiện những cung bậc cảm xúc phức tạp trong tình yêu.
Câu 3:
Đề tài của bài thơ là tình yêu đôi lứa.
Chủ đề:
Bài thơ thể hiện những suy tư, cảm xúc sâu sắc của tác giả về tình yêu. Qua đó, nhà thơ cho thấy tình yêu vừa đẹp đẽ, say mê nhưng cũng chứa đựng nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát. Con người khi yêu luôn cho đi nhiều hơn nhận, dễ rơi vào cô đơn, lo âu và tổn thương. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định khát vọng yêu thương mãnh liệt và quan niệm về tình yêu chân thành, hết mình của nhà thơ.
Câu 4:
Một hình ảnh tượng trưng gây ấn tượng trong bài thơ là hình ảnh “sa mạc cô liêu”.
Hình ảnh này tượng trưng cho cảm giác cô đơn, trống trải và lạc lõng của con người trong tình yêu. Khi yêu, con người luôn khao khát được thấu hiểu, được đáp lại, nhưng không phải lúc nào cũng nhận được tình cảm tương xứng. Vì thế, họ có thể rơi vào trạng thái buồn bã, cô độc, giống như đang đi giữa một sa mạc rộng lớn, hoang vắng, không có điểm tựa. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh nỗi đau, sự hi sinh và những tổn thương mà tình yêu mang lại. Đồng thời, hình ảnh này cũng cho thấy tình yêu là hành trình đầy thử thách, đòi hỏi con người phải mạnh mẽ, chân thành và biết trân trọng những giá trị cảm xúc sâu sắc.
Câu 5:
Qua bài thơ Yêu của Xuân Diệu, em nhận ra rằng tình yêu là một tình cảm đẹp đẽ nhưng cũng đầy thử thách. Khi yêu, con người không chỉ được hạnh phúc mà còn phải chấp nhận hi sinh, đau khổ và đôi khi là cô đơn. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm của mình và của người khác, sống chân thành, thủy chung, không ích kỉ hay vô tâm. Đồng thời, chúng ta cũng cần có sự tỉnh táo, biết yêu đúng cách để không làm tổn thương bản thân và những người xung quanh. Đối với người trẻ, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn phải gắn với trách nhiệm, giúp nhau cùng tiến bộ và hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng nhất là phải biết cân bằng giữa tình cảm và học tập, tương lai, để tình yêu trở thành động lực tốt đẹp trong cuộc sống.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại phương Bắc đã thi hành nhiều chính sách cai trị hà khắc đối với nhân dân ta nhằm củng cố ách thống trị
- Chúng thực hiện chính sách đồng hóa bằng cách ép người Việt phải theo phong tục, tập quán của người Hán, bắt học chữ Hán và du nhập văn hóa Trung Hoa
-Chúng bóc lột tài nguyên bằng cách đặt ra nhiều thứ thuế nặng nề, bắt nhân dân ta cống nạp sản vật quý hiếm và lao dịch khổ sai
-Chúng thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ
Trong số đó, chính sách đồng hóa là thâm độc nhất vì nó không chỉ nhằm kiểm soát kinh tế và chính trị mà còn muốn xóa bỏ bản sắc dân tộc Việt, khiến người Việt mất đi ý thức độc lập. Tuy nhiên, dù bị áp bức, nhân dân ta vẫn kiên cường chống lại, giữ vững bản sắc văn hóa và tinh thần yêu nước