K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1. (2 điểm)      Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Dung trong đoạn trích sau:      (Lược một đoạn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)      Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ...
Đọc tiếp

Câu 1. (2 điểm)

     Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Dung trong đoạn trích sau:

     (Lược một đoạn: Dung là con thứ bốn trong gia đình bị sa sút kinh tế. Nàng lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của gia đình. Rồi bị mẹ già bán cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc.)

     Khốn nạn cho Dung từ bé đến nay không phải làm công việc gì nặng nhọc, bây giờ phải tát nước, nhổ cỏ, làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày. Đã thế lại không có người an ủi. Chồng nàng thì cả ngày thả diều, chả biết cái gì mà cũng không dám cãi lại bà cụ. Còn hai em chồng nàng thì ghê gớm lắm, thi nhau làm cho nàng bị mắng thêm.

     Những lúc Dung cực nhọc quá, ngồi khóc thì bà mẹ chồng lại đay nghiến:

     - Làm đi chứ, đừng ngồi đấy mà sụt sịt đi cô. Nhà tôi không có người ăn chơi, không có người cả ngày ôm lấy chồng đâu.

     Rồi bà kể thêm:

     - Bây giờ là người nhà tao rồi thì phải làm. Mấy trăm bạc dẫn cưới, chứ tao có lấy không đâu.

     Dung chỉ khóc, không dám nói gì. Nàng đã viết ba bốn lá thư về kể nỗi khổ sở của nàng, nhưng không thấy cha mẹ ở nhà trả lời.

     (Lược một đoạn: Dung ăn trộm tiền của mẹ chồng để trốn về nhà nhưng bị mẹ đẻ đay nghiến. Sáng hôm sau, mẹ chồng xuống tìm nàng.)

     Bị khổ quá, nàng không khóc được nữa. Nàng không còn hi vọng gì ở nhà cha mẹ nữa. Nghĩ đến những lời đay nghiến, những nỗi hành hạ nàng phải sẽ chịu, Dung thấy lạnh người đi như bị sốt. Nàng hoa mắt lên, đầu óc rối bời, Dung ước ao cái chết như một sự thoát nợ.

     Nàng không nhớ rõ gì. Ra đến sông lúc nào nàng cũng không biết. Như trong một giấc mơ, Dung lờ mờ thấy cái thành cầu, thấy dòng nước chảy. [...] Nàng uất ức lịm đi, thấy máu đỏ trào lên, rồi một cái màng đen tối kéo đến che lấp cả.

     Bỗng nàng mơ màng nghe thấy tiếng nhiều người, tiếng gọi tên nàng, một làn nước nóng đi vào cổ. Dung ú ớ cựa mình muốn trả lời.

     […] Hai hôm sau, Dung mạnh khỏe hẳn. Bà mẹ chồng vẫn chờ nàng, hỏi có vẻ gay gắt thêm:

     - Cô định tự tử để gieo cái tiếng xấu cho tôi à? Nhưng đời nào, trời có mắt chứ đã dễ mà chết được. Thế bây giờ cô định thế nào? Định ở hay định về?

     Dung buồn bã trả lời:

     -  Con xin về.

(Trích Hai lần chết, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2008)

Câu 2. (4 điểm)

     Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề bình đẳng giới hiện nay.

5
17 tháng 12 2025

-- Câu 1 (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ): Dung là một người phụ nữ có số phận bất hạnh trong truyện Hai lần chết của Thạch Lam. Sinh ra trong gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt và còn bị mẹ ruột bán đi như một món hàng. Về nhà chồng, cuộc đời nàng càng rơi vào bế tắc khi phải làm lụng nặng nhọc suốt ngày, không nhận được sự cảm thông hay che chở. Chồng nhu nhược, mẹ chồng cay nghiệt, em chồng độc ác đã đẩy Dung vào cảnh cô độc, tủi nhục và tuyệt vọng. Những lời mắng nhiếc, hành hạ tinh thần khiến nàng dần mất hết niềm tin vào cuộc sống. Khi không còn chỗ dựa tinh thần, không còn hi vọng nơi cha mẹ ruột, Dung coi cái chết như một lối thoát. Qua nhân vật Dung, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho số phận người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, đồng thời lên án sự tàn nhẫn, bất công đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của họ. --- Câu 2 (4 điểm) Bài văn nghị luận về bình đẳng giới (khoảng 400 chữ – viết gọn): Bình đẳng giới là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong xã hội hiện nay. Đó là việc nam và nữ được đối xử công bằng, có cơ hội như nhau trong học tập, lao động và đời sống xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Nhiều phụ nữ vẫn phải chịu định kiến “trọng nam khinh nữ”, bị hạn chế cơ hội học tập, thăng tiến và thậm chí còn là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong khi đó, nam giới đôi khi cũng chịu áp lực phải gánh vác trách nhiệm nặng nề chỉ vì quan niệm xã hội. Những bất công ấy không chỉ gây tổn thương cho cá nhân mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức. Mỗi người phải hiểu rằng giới tính không quyết định giá trị hay khả năng của con người. Gia đình cần giáo dục con cái sự tôn trọng và chia sẻ từ sớm. Nhà trường và xã hội phải tạo điều kiện công bằng trong học tập, việc làm và pháp luật cần bảo vệ quyền lợi chính đáng của cả nam và nữ. Là học sinh, em cần thể hiện sự tôn trọng, không phân biệt đối xử, lên tiếng trước những hành vi bất công về giới. Khi bình đẳng giới được thực hiện, con người sẽ được sống đúng với giá trị của mình và xã hội sẽ phát triển bền vững, nhân văn hơn. --- Nếu bạn muốn rút ngắn hơn nữa (ví dụ chỉ 150 chữ / 300 chữ) hoặc viết theo kiểu học sinh trung bình – khá, mình chỉnh ngay cho nhé.

27 tháng 12 2025

hrrxrx

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương ThS. Đinh Văn Thiện          (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

ThS. Đinh Văn Thiện

         (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra sẽ rất hạnh phúc. Hành động ghen tuông của người chồng đã đẩy người vợ đến chỗ uất ức quá phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng tỏ sự trong trắng thuỷ chung của mình. Từ góc độ đề tài, truyện không có gì mới mẻ. Tuy nhiên truyện vẫn rất hấp dẫn bởi đã xây dựng được một tình huống rất độc đáo. Đó là tình huống, sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải theo lệnh của triều đình, người chồng may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con của mình trong tình cha con đằm thắm, nào ngờ chính đứa con lại nói: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít”. Đứa con còn kể tiếp: “Trước đây thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người vợ nói thế nào người chồng cũng không tin. Hàng xóm phân giải mọi điều về sự hiếu thảo, thuỷ chung của người vợ ở nhà, người chồng cũng chỉ cho là người vợ do khéo mồm khéo miệng mà được hàng xóm bao che. Tình huống ấy buộc người đọc phải theo dõi câu chuyện đến tận cùng xem kết cục là vì sao lại như vậy. Vì chuyện ghen tuông xưa nay vẫn có đến một ngàn lẻ một cách lí giải khác nhau, làm sao cắt nghĩa hết được! Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta nói: “Cha Đản đấy”.

        (2) Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ. Trò chơi này hết sức thú vị, vì từ hai bàn tay người chơi có thể tạo ra bao nhiêu hình thù vừa quen thuộc vừa kì lạ khác nhau, dựa vào tài khéo léo, óc tưởng tượng của cả người chơi và người xem. Trong trò chơi này ai cũng là người chơi, ai cũng là người xem nên có cái vui nhộn của không khí dân chủ và bình đẳng. Người vợ, vì chồng vắng nhà dằng dặc như thế, tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy. Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con. Gia đình, vì thế, lúc nào cũng cảm thấy sum vầy đông đủ, sự trống trải đã được khỏa lấp bằng hình ảnh của cái bóng êm đềm.

        (3) Từ một trò chơi dân dã, hết sức phổ biến, người kể chuyện đã đẩy lên thành một cái cớ để xây dựng thành một tình huống truyện độc đáo. Đó chính là sự tài hoa, sâu sắc của người kể chuyện. Cái bóng chỉ là cái cớ để xây dựng tình huống, là một chi tiết nghệ thuật, sao chúng ta lại gọi nó là “cái bóng oan khiên"? Đừng gán cho nó cái giá trị tư tưởng vốn không phải của nó mà quên mất cái đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của người xưa. Trò chơi ấy cũng còn cho thấy tấm lòng của người vợ nhớ chồng da diết nhường nào, thương con đến nhường nào. Người vợ làm sao có thể nghĩ tới việc sau này đứa con sẽ nói với người cha của nó những câu như ta đã thấy để tránh né câu chuyện vui đùa mà tình nghĩa và xúc động kia. Vì thế làm sao ta lại có thể phán xét rằng chính người vợ cũng có lỗi về cái chết của nàng một khi biết tính chồng hay đa nghi lại còn đùa với con như vậy. Lỗi và tội ở đây là cái sự ghen tuông đến mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.

        (4) Cũng chính vì mục đích sâu xa là lên án một cách gay gắt, quyết liệt thói ghen tuông (chứ không phải để lên án chiến tranh phong kiến loạn lạc, như một số nhận xét thường thấy) mà Nguyễn Dữ đã viết thêm đoạn kết (không có trong văn bản truyện cổ dân gian) có tính chất “thần kỳ”. Đoạn kết ấy không phải chỉ để câu chuyện thêm hấp dẫn! Đó là một kết thúc “mở” có ý nghĩa trả lại cho Vũ Nương sự trong sạch của một tấm lòng thuỷ chung, trong sáng, đồng thời thể hiện một thái độ bao dung đối với sai lầm của người chồng và của chính nàng mà thôi.

        (5) Truyện đã không để Vũ Nương về với chồng con. Điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học mà truyện đặt ra. Người bị oan, cuộc đời có thể giải oan giúp họ. Còn hậu quả của những sai lầm do chính con người gây ra thì khôn lường và không phải bao giờ cũng khắc phục được. Đoạn kết của truyện đã xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa bởi cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi, chỉ do thói ghen tuông của người cha...

(Văn học và Tuổi trẻ, số 7 (190), năm 2009)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản. 

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

11
17 tháng 12 2025

Câu 1. Luận đề của văn bản: Ý nghĩa và giá trị nghệ thuật đặc sắc của chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương. Câu 2. Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, đứa con ngây thơ nhầm “cái bóng” là cha, gây nên bi kịch ghen tuông và cái chết oan khuất của Vũ Nương. Câu 3. Mục đích nêu tình huống truyện ở phần mở đầu là làm nổi bật sự độc đáo của cốt truyện, thu hút người đọc và dẫn dắt vào việc phân tích chi tiết “cái bóng”. Câu 4. Chi tiết khách quan: trò chơi soi bóng trên tường. Chi tiết chủ quan: cảm nhận, suy luận của người vợ và đứa con về cái bóng. → Hai cách trình bày kết hợp hài hòa, giúp câu chuyện vừa chân thực vừa giàu cảm xúc. Câu 5. Chi tiết “cái bóng” là chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì tạo nên tình huống truyện độc đáo, hợp lí, thể hiện bi kịch ghen tuông mù quáng và số phận oan khuất của người phụ nữ, qua đó làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

17 tháng 12 2025

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4 điểm) Câu 1. Luận đề của văn bản: Chi tiết cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, được Nguyễn Dữ sáng tạo khéo léo nhằm xây dựng tình huống truyện độc đáo và qua đó lên án thói ghen tuông mù quáng, đồng thời làm nổi bật bi kịch của Vũ Nương. Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, bị chính lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha chỉ nín thin thít” làm nảy sinh nghi ngờ, dẫn đến bi kịch gia đình. Chỉ đến khi đứa trẻ chỉ vào cái bóng và nói “Cha Đản đấy” thì sự thật mới được sáng tỏ. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu là: Thu hút sự chú ý của người đọc, tạo hứng thú theo dõi vấn đề được bàn luận Đặt nền tảng cho việc phân tích chi tiết cái bóng – trung tâm lập luận của văn bản Làm rõ tính độc đáo trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nguyễn Dữ Câu 4. Chi tiết trình bày khách quan trong đoạn (2): “Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường...” Chi tiết trình bày chủ quan: “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình…” Nhận xét: Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu bối cảnh sinh hoạt đời sống xưa, còn cách trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm đánh giá của người viết. Hai cách trình bày này bổ sung cho nhau, làm cho lập luận vừa có cơ sở thực tế, vừa giàu chiều sâu cảm xúc và thuyết phục. Câu 5. Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: Nó được lấy từ một trò chơi dân gian quen thuộc, rất đời thường và tự nhiên Được nâng lên thành cái cớ để xây dựng tình huống truyện độc đáo Góp phần thể hiện tình yêu thương con, nỗi nhớ chồng sâu nặng của Vũ Nương Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bi kịch, qua đó tố cáo thói ghen tuông mù quáng của con người PHẦN II. LÀM VĂN Câu 1. (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ) Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững của cha mẹ và cuối cùng bị chính mẹ già bán gả để đổi lấy tiền bạc. Cuộc sống làm dâu của nàng đầy tủi nhục khi phải lao động cực nhọc, bị mẹ chồng cay nghiệt, em chồng hành hạ, còn chồng thì vô tâm, nhu nhược. Không chỉ bị đày đọa về thể xác, Dung còn chịu nỗi cô đơn tinh thần khi không nhận được sự an ủi từ chính gia đình ruột thịt. Bị dồn đến bước đường cùng, nàng đã từng tìm đến cái chết như một cách trốn chạy số phận. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ bị chà đạp quyền sống, đồng thời lên án xã hội bất công đã đẩy con người vào ngõ cụt bi thảm. Câu 2. (4 điểm) Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ): Suy nghĩ về vấn đề bình đẳng giới hiện nay Bình đẳng giới là một trong những vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại, thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức về quyền con người. Tuy nhiên, trên thực tế, bình đẳng giới vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và triệt để. Trước hết, bình đẳng giới là việc nam và nữ có quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội. Ngày nay, phụ nữ đã có nhiều cơ hội học tập, làm việc và khẳng định bản thân hơn trước. Tuy vậy, định kiến giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi: phụ nữ bị đánh giá thấp trong công việc, gánh nặng gia đình thường đổ dồn lên vai họ, trong khi nam giới đôi khi bị áp đặt phải mạnh mẽ, không được bộc lộ cảm xúc. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức của mỗi cá nhân. Mỗi người phải biết tôn trọng, lắng nghe và đánh giá người khác dựa trên năng lực chứ không phải giới tính. Gia đình cần giáo dục con cái về sự công bằng ngay từ nhỏ, không phân biệt việc nhà là của nữ hay việc lớn là của nam. Nhà trường và xã hội cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, tạo môi trường học tập và làm việc công bằng cho cả hai giới. Bản thân học sinh cần có thái độ đúng đắn: biết tôn trọng bạn bè, không trêu chọc hay định kiến về giới, đồng thời chủ động rèn luyện năng lực của mình. Tóm lại, bình đẳng giới không chỉ là quyền lợi của phụ nữ mà là thước đo sự văn minh của xã hội. Khi bình đẳng giới được thực hiện đúng đắn, xã hội sẽ phát triển hài hòa và bền vững hơn.

19 tháng 4

Đoạn 1. Nhân vật Hoài trong truyện “Bồng chanh đỏ” hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, nhạy cảm và giàu tình yêu thiên nhiên, cuộc sống. Hoài say mê khu vườn bồng chanh, gắn bó với từng chi tiết nhỏ bé như màu sắc, hương thơm, qua đó thể hiện tâm hồn tinh tế và trong trẻo. Cậu còn là người giàu cảm xúc, biết rung động trước vẻ đẹp giản dị của quê hương, điều này được thể hiện qua cách quan sát tỉ mỉ và những suy nghĩ đầy yêu thương. Nhân vật Hoài góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tuổi thơ gắn với thiên nhiên, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương tha thiết. Qua đó, tác giả bộc lộ sự trân trọng đối với những tâm hồn trong sáng, nhạy cảm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật chủ yếu qua miêu tả nội tâm, kết hợp với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giúp Hoài hiện lên chân thực và gần gũi.

19 tháng 4

Câu 1. Nhân vật Hoài trong truyện Bồng chanh đỏ của Đỗ Chu hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, giàu tình cảm và gắn bó sâu sắc với quê hương. Hoài yêu thiên nhiên, yêu khu vườn, đặc biệt là cây bồng chanh đỏ, coi đó như một phần thân thiết trong cuộc sống của mình. Khi cây bị chặt, Hoài đau buồn, tiếc nuối, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tình yêu tha thiết với những gì thân thuộc. Qua đó cho thấy Hoài là một đứa trẻ sống tình cảm, biết trân trọng vẻ đẹp giản dị của cuộc sống. Tác giả đã xây dựng nhân vật bằng cách miêu tả tâm lí tinh tế kết hợp với những chi tiết gần gũi, giúp người đọc cảm nhận rõ cảm xúc của Hoài. Qua nhân vật này, tác giả bộc lộ sự trân trọng đối với tuổi thơ và thiên nhiên. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hoài nổi bật ở việc khắc họa nội tâm chân thực, giàu cảm xúc.

Câu 2. Nhân vật Hiền trong truyện cũng là một hình ảnh đẹp của tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên và giàu lòng yêu thương. Hiền gắn bó với Hoài, cùng chia sẻ những kỉ niệm tuổi thơ và tình cảm với cây bồng chanh đỏ. Khi chứng kiến sự thay đổi của cảnh vật, Hiền cũng thể hiện sự tiếc nuối và đồng cảm sâu sắc, cho thấy tâm hồn tinh tế và nhạy cảm. Hiền là người bạn tốt, sống chân thành, biết chia sẻ và đồng cảm với người khác. Tác giả đã xây dựng nhân vật Hiền thông qua hành động, lời nói giản dị nhưng giàu ý nghĩa, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật. Qua đó thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng tuổi thơ và tình bạn trong sáng. Nghệ thuật xây dựng nhân vật Hiền thành công ở sự giản dị, tự nhiên nhưng vẫn gợi nhiều cảm xúc sâu lắng.

21 tháng 11 2024
Câu 1: Phân tích nhân vật Lê Tương Dực

Trong đoạn trích, Lê Tương Dực hiện lên như một nhân vật có chiều sâu tâm lý và tinh thần kiên cường. Là một người con của đất nước, Dực thể hiện sự nhạy cảm trước nỗi đau của dân tộc và trách nhiệm của bản thân trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Từ những dòng suy nghĩ của mình, ta thấy rõ sự trăn trở, lo lắng về tương lai của đất nước. Lê Tương Dực không chỉ đơn thuần là một người lính, mà còn là một người nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm, luôn khao khát hòa bình và công lý.

Dực có một lòng yêu nước mãnh liệt, thể hiện qua những hành động và quyết định của mình. Anh không ngại khó khăn, thử thách để bảo vệ quê hương, dù biết rằng cái giá phải trả có thể là tính mạng. Sự dũng cảm của Dực không chỉ nằm ở việc cầm súng chiến đấu, mà còn ở khả năng nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống và những gì mình đang bảo vệ.

Ngoài ra, Dực còn mang trong mình nỗi cô đơn, sự mất mát khi chứng kiến cái chết của đồng đội, điều này càng làm nổi bật tâm hồn nhạy cảm và sâu lắng của anh. Từ đó, nhân vật Lê Tương Dực không chỉ là hình mẫu của một người lính, mà còn là biểu tượng của tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và khát vọng hòa bình trong bối cảnh lịch sử đầy gian nan.

Câu 2: Nghị luận về bệnh vô cảm của giới trẻ hiện nay

Trong xã hội hiện đại, bệnh vô cảm đang trở thành một vấn nạn đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Vô cảm không chỉ là sự thờ ơ trước những vấn đề xã hội, mà còn là sự thiếu kết nối và đồng cảm với những người xung quanh. Tình trạng này đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh vô cảm trong giới trẻ có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố. Đầu tiên, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã khiến cho các mối quan hệ trở nên xa cách hơn. Thay vì giao tiếp trực tiếp, nhiều bạn trẻ chọn cách tương tác qua màn hình, dẫn đến sự thiếu hụt cảm xúc và sự đồng cảm. Thứ hai, áp lực từ học tập, công việc và cuộc sống hàng ngày cũng khiến cho giới trẻ trở nên mệt mỏi, từ đó dẫn đến sự thờ ơ với những vấn đề xung quanh. Cuối cùng, một phần không nhỏ do giáo dục và môi trường sống không khuyến khích sự chia sẻ, đồng cảm và trách nhiệm xã hội.

Hậu quả của bệnh vô cảm là rất nghiêm trọng. Nó không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ cá nhân mà còn tác động đến cộng đồng. Khi mỗi người đều sống trong sự thờ ơ, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo, thiếu tình người. Những vấn đề như bạo lực học đường, xung đột xã hội hay thiên tai, dịch bệnh sẽ không nhận được sự quan tâm cần thiết, dẫn đến những hệ lụy khó lường.

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự chung tay từ gia đình, nhà trường và xã hội. Giáo dục cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng sống, khuyến khích sự đồng cảm và tinh thần trách nhiệm. Các hoạt động tình nguyện, thiện nguyện cũng nên được khuyến khích để giúp giới trẻ hiểu rõ hơn về giá trị của việc chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau.

Tóm lại, bệnh vô cảm trong giới trẻ là một vấn đề cần được giải quyết một cách nghiêm túc. Chỉ khi mỗi cá nhân nhận thức được giá trị của sự đồng cảm và kết nối, xã hội mới có thể trở nên tốt đẹp hơn.

16 tháng 12 2025

Câu 1

Trong đoạn trích, Lê Tương Dực không chỉ đơn thuần là một vị vua. Hắn ta còn là một người có óc thẩm mỹ và khao khát những công trình vĩ đại. Chính vì lẽ đó, hắn đã giao trọng trách xây dựng Cửu Trùng Đài cho Vũ Như Tô, bất chấp sự tốn kém và nỗi khổ của dân chúng. Tuy nhiên, sự đam mê nghệ thuật của Lê Tương Dực lại đi kèm với sự độc đoán và tàn bạo. Hắn sẵn sàng trừng phạt những ai dám chống lại ý mình, kể cả những người tài giỏi như Vũ Như Tô. Sự mâu thuẫn trong tính cách của Lê Tương Dực đã góp phần đẩy bi kịch của Vũ Như Tô lên đến đỉnh điểm, đồng thời phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam. Có thể thấy, Lê Tương Dực là một nhân vật đa diện, vừa có những phẩm chất đáng quý, vừa mang trong mình những thói hư tật xấu của một ông vua thời loạn.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.  Lớp VIII Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến. LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào. (Nội giám ra.) TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế. LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc. TRỊNH DUY SẢN - Tâu...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. 

Lớp VIII

Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến.

LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào.

(Nội giám ra.)

TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc.

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng, quả có thế.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã phó mặc việc nhớn việc nhỏ cho triều đình, ngươi chắc cũng đã biết. Trẫm còn bận việc Cửu Trùng Đài...

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng làm vua một nước, phải để ý đến mọi việc, phó thác làm sao cho triều đình được. Hoàng thượng không nên quá tin ở các quan. Họ nói rằng thiên hạ thái bình, thực ra phải nói: thiên hạ sắp loạn.

LÊ TƯƠNG DỰC - Vì cớ sao?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên bãi ngay việc xây Cửu Trùng Đài.

KIM PHƯỢNG - Bãi Cửu Trùng Đài!

TRỊNH DUY SẢN - Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn loạn lạc. Hoàng thượng là bậc thanh minh, xin nghĩ lại.

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi hãy lui ra, trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai nữa, lui ra.

TRỊNH DUY SẢN (nói to) - Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!

LÊ TƯƠNG DỰC - Lại mấy đám giặc cỏ chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng không biết rõ. Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã sai tướng đi đánh dẹp.

TRỊNH DUY SẢN - Còn một đám giặc nữa, dân chúng theo có hàng vạn người, thanh thế lừng lẫy...

LÊ TƯƠNG DỰC - Lũ Trần Cao chứ gì?

TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng chính vậy. Trần Cao thấy sấm nổi ở phương đông có thiên tử khí, cùng đồ đảng đánh lấy đất Thụy Dương, Đông Triều, tự xưng là Đế Thích giáng sinh, nghiễm nhiên lập một triều đình riêng trong đất Việt... Hiện đã kéo quân đến Đế đô, chực hãm kinh thành.

LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm phải đợi đến ngươi tâu bầy, thì dễ lũ sương cuồng Trần Cao đã làm cỏ kinh thành. Ngươi cứ yên tâm. Trẫm đã sai An Hòa hầu Nguyễn Hoàng Du sang đóng quân ở Bồ Đề chống giữ, giặc đã chạy về Châu Sơn. Kinh thành này vững như bàn thạch.

TRỊNH DUY SẢN - Đã đủ đâu, còn các nơi?

LÊ TƯƠNG DỰC - Dẹp xong cả.

TRỊNH DUY SẢN - Cũng không hết. Dẹp bọn này, bọn khác lại nổi như đầu Phạm Nhan, bệnh nặng phải trừ từ rễ. Giặc giã nổi lên vì dân gian oán triều đình. Chính sự đổ nát...

KIM PHƯỢNG - Nguyên Quận công ăn nói lạ lùng!

LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi không nể mặt trẫm sao? Người trung thần không ai nói thế. Trẫm rộng lượng, vua khác thì ngươi đã không toàn tính mệnh.

TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên xét cho lòng thành thực của hạ thần. Chính sự đổ nát lắm rồi. Muốn cho nước yên thì phải thể lòng dân, mà dân bây giờ ai cũng oán Vũ Như Tô, mấy lũ... cung nữ.

KIM PHƯỢNG (quỳ xuống) - Trời ơi! Thần thiếp có tội gì? (Nắm vạt áo long bào khóc).
LÊ TƯƠNG DỰC - Ái khanh đứng dậy. Ái khanh không có tội gì. (Nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ). Ngươi lui ra, ngươi lui ra. Cung nữ là phận liễu bồ không hề bước chân ra khỏi Tử cấm thành, hỏi họ có tội gì? Có ai dọa làm tội thê thiếp ngươi không, Trịnh Duy Sản?

TRỊNH DUY SẢN - Chính họ đưa Hoàng thượng vào con đường tửu sắc, con đường xa xỉ. Chính vì muốn đẹp lòng họ mà Hoàng thượng cho xây Cửu Trùng Đài.

LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là ý trẫm. Ngươi không được nói nữa.

TRỊNH DUY SẢN - Còn như Vũ Như Tô nữa. Nó đã bày vẽ ra Cửu Trùng Đài, hao tiền tốn của vì nó, sưu cao thuế nặng vì nó, triều đình đổ nát, giặc giã như ong là vì nó. Kiệt Trụ mất nước chỉ vì cái bệnh xây cung điện. Xin Hoàng thượng mau mau tỉnh ngộ, tu tỉnh thân mình, xa gái đẹp, đuổi Vũ Như Tô, học thói thanh liêm, thương dân như con kẻo họa đến thân.

LÊ TƯƠNG DỰC - Duy Sản, ngươi bước ngay. Kẻo cái công hãn mã của ngươi trẫm không kể nữa. Trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?

TRỊNH DUY SẢN - Xin Hoàng thượng nghe lời hạ thần đuổi cung nữ, chém Vũ Như Tô... (nắm lấy áo vua).

LÊ TƯƠNG DỰC - Lão ương gàn, quân hủ nho... (rút kiếm) Bước!

TRỊNH DUY SẢN - Hạ thần xin chết về tay Hoàng thượng còn hơn là trông thấy ngày nhà Lê mất nghiệp (quỳ xuống vươn cổ).

(Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)

Tóm tắt: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm 5 hồi, viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vở kịch xoay quanh cuộc đời nhân vật chính - Vũ Như Tô - một kiến trúc sư tài năng. Lê Tương Dực là một hôn quân, suốt ngày say mê tửu sắc, ăn chơi sa đọa, bỏ bê việc nước. Hắn muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi cùng đám cung nữ. Vũ Như Tô vì quan niệm nghệ thuật thuần khiết, thanh cao đã đưa gia đình đi chốn nhưng vẫn không thể thoát khỏi tay sai của Lê Tương Dực. Khi bị giải vào cung, ông được cung nữ Đam Thiềm thuyết phục và đồng ý xây Cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí vào việc xây dựng cho đất nước một công trình kì vĩ, “tranh tinh xảo với hóa công”, để nước ta không hề thua kém với các nước láng giềng. Thế nhưng, ông đã vô tình gây ra biết bao tai họa cho người dân: Thuế khóa nặng nề, thợ giỏi bị bắt vào cung xây đài, tróc nã, hành hạ những người chống đối, biết bao người chết vì xây Cửu Trùng Đài khiến lòng dân oán hận. Quận công Trịnh Duy Sản đã nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng Lê Tương Dực vẫn chấp mê bất ngộ. Nhân lúc tình hình rối ren, ông đã cầm đầu phe đối lập trong triều, dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài.   

Câu 1. Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc nào?

Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích trên. 

Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.

Câu 5. Từ đoạn trích, em có nhận xét gì về bối cảnh xã hội lúc bấy giờ?

12
16 tháng 12 2025

Câu 1

- tái hiện lại sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực

Câu 5

Đất nước loạn lạc, nhân dân khổ cực , vua ham ăn chơi

17 tháng 12 2025

Câu 1. Đoạn trích tái hiện cuộc đối thoại căng thẳng giữa Trịnh Duy Sản và vua Lê Tương Dực, khi Trịnh Duy Sản vào can gián việc xây Cửu Trùng Đài và báo tình hình giặc giã, dân chúng oán loạn. Câu 2. Một lời độc thoại của nhân vật (Trịnh Duy Sản): “Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!” Câu 3. Chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực thể hiện rõ tính cách hoang dâm, độc đoán, nóng nảy, coi thường trung thần, qua các hành động như: cau mặt, xua đuổi, giận dữ, rút kiếm. Câu 4. Biện pháp tu từ liệt kê (kể tên các nơi có giặc, các hành động tàn bạo, nỗi khổ của dân). → Tác dụng: làm nổi bật tình cảnh xã hội loạn lạc, đau khổ cùng cực của nhân dân, tăng sức tố cáo triều đình mục nát. Câu 5. Xã hội lúc bấy giờ rối ren, triều đình thối nát, vua ăn chơi sa đọa, dân chúng lầm than, giặc giã nổi lên khắp nơi, báo hiệu sự sụp đổ tất yếu của vương triều.


19 tháng 4

Câu 1.
Gọi nguyên tử khối của A là a, của B là b

Vì A, B là kim loại hóa trị II nên muối cacbonat có dạng
ACO3, BCO3

Số mol các muối là
nACO3 = 23,5/(a + 60)
nBCO3 = 8,4/(b + 60)

Sau khi hòa tan vào HCl rồi cô cạn, điện phân nóng chảy hoàn toàn thì thu được ở catot các kim loại A và B với số mol đúng bằng số mol muối ban đầu, nên
nA = 23,5/(a + 60)
nB = 8,4/(b + 60)

Khối lượng kim loại tạo ra ở catot là
m = 23,5a/(a + 60) + 8,4b/(b + 60)

Theo đề, phân tử khối oxit của B bằng nguyên tử khối của A
b + 16 = a

Khi cho m gam hỗn hợp A, B tác dụng với H2SO4 dư, số mol H2 thu được là
nH2(AB) = nA + nB

Với m gam Ni, số mol H2 là
nH2(Ni) = m/59

Theo đề
nH2(AB) + nH2(Ni) = 2,675.nH2(Ni)

Suy ra
nA + nB = 1,675.m/59

Thử cặp kim loại hóa trị II thỏa mãn a = b + 16, ta có
Ca và Mg vì 40 = 24 + 16

Kiểm tra
nCaCO3 = 23,5/100 = 0,235 mol
nMgCO3 = 8,4/84 = 0,1 mol

Khối lượng kim loại thu được
m = 0,235.40 + 0,1.24
= 9,4 + 2,4
= 11,8 gam

Số mol H2 do Ca và Mg tạo ra
nH2(AB) = 0,235 + 0,1 = 0,335 mol

Số mol H2 do 11,8 gam Ni tạo ra
nH2(Ni) = 11,8/59 = 0,2 mol

Tổng số mol H2 khi trộn với Ni
0,335 + 0,2 = 0,535 mol

Ta có
0,535/0,2 = 2,675

Đúng với đề bài

Vậy
A là Ca
B là Mg

Khối lượng tạo ra ở catot
mCa = 9,4 gam
mMg = 2,4 gam

Phần trăm khối lượng
%Ca = 9,4/11,8 . 100% ≈ 79,66%
%Mg = 2,4/11,8 . 100% ≈ 20,34%

Kết luận
A là canxi, kí hiệu Ca
B là magie, kí hiệu Mg
Thành phần phần trăm khối lượng ở catot là
Ca 79,66%
Mg 20,34%

10 tháng 12 2024

Nhân vật Đạm Tiên trong Truyện Kiều có số phận đáng thương, cũng là kiếp “hồng nhan bạc mệnh” mà Nguyễn Du vô cùng xót thương. Lúc còn trẻ, nàng nổi danh “tài sắc”, tiếng vang khắp thiên hạ. Tuy nhiên, thân phận ca nhi trong xã hội xưa vốn thấp hèn, bị người đời coi thường, là món hàng mua vui cho nam nhân. Cũng có khách làng chơi mến vì tài sắc, tìm đến với mong muốn được yêu thương nàng. Nhưng thật đáng tiếc, mệnh nàng ngắn ngủi, chưa kịp đón nhận hạnh phúc đã đoản mệnh, khiến cho người khách khóc than, tiếc nuối vì mối tình “vô duyên”. Người tri kỉ chỉ có thể an táng nàng chu đáo nhất. Nhưng càng đáng thương hơn khi phần mộ của nàng kể từ đó về sau không ai trông coi, chăm sóc, thành ngôi mộ vô chủ. Linh hồn nàng hẳn là cô đơn, đau đớn lắm! Đại thi hào Nguyễn Du xót thương cho thân phận người mệnh bạc nên đã dành cho nàng những hình ảnh thơ trang trọng nhất: hồng nhan, gãy cành thiên hương, trâm gãy, bình rơi; nếp tử, xe châu….. Đó là tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du, không chỉ thương cho người sống mà còn thương cho cả những linh hồn đã khuất.

15 tháng 12 2025

Câu 1

Bài làm

Trong đoạn trích "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du, nhân vật Đạm Tiên dù chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Nàng là một ca nữ tài sắc vẹn toàn, nổi tiếng một thời về nhan sắc và tài hát xướng. Tuy nhiên, cũng như bao hồng nhan tài tử khác trong xã hội phong kiến, nàng phải chịu đựng số phận bi kịch, bạc mệnh, chết khi còn trẻ và trở thành oan hồn không nơi nương tựa. Ngôi mộ hoang lạnh ven đường không người hương khói chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự phũ phàng của tạo hóa và định mệnh nghiệt ngã.Thông qua Đạm Tiên, Nguyễn Du đã gửi gắm tấm lòng nhân đạo sâu sắc, sự đồng cảm xót thương vô hạn đối với những kiếp người tài hoa nhưng lận đận. Đặc biệt, sự xuất hiện của Đạm Tiên còn đóng vai trò quan trọng trong việc dự báo trước về tương lai đầy sóng gió, khổ đau và bi kịch mà nhân vật chính Thúy Kiều sắp phải trải qua, củng cố thêm cho chủ đề chính của tác phẩm là "tài tình lận đận".

Câu 2

Bài làm

(4.0 điểm) Đọc văn bản sau: Sè sè nấm đất bên đàngDầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh,Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” Vương Quan mới dẫn gần xa:“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1). Nổi danh tài sắc một thì,Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh(2),Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3). Có người...
Đọc tiếp

(4.0 điểm) Đọc văn bản sau:

Sè sè nấm đất bên đàng
Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”
Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi(1).
Nổi danh tài sắc một thì,
Xôn xao ngoài cửa, hiếm gì yến anh.
Phận hồng nhan có mong manh(2),
Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương(3).
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.
Thuyền tình(4) vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy, bình rơi(5) bao giờ!
Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Khóc than khôn xiết sự tình,
Khéo vô duyên bấy là mình với ta!
Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau.
Sắm sanh nếp tử(6) xe châu(7),
Bụi hồng một nấm(8), mặc dầu có hoa.
Trải bao thỏ lặn, ác tà(9),
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!”
Lòng đâu sẵn mối thương tâm,
Thoắt nghe Kiều đã dầm dầm châu sa(10):
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa:
“Đau đớn thay, phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

(Nguyễn Du, Truyện Kiều, GS. Vũ Ngọc Khánh chú giải và khảo cứu, NXB Văn học, tr.16 – 17)

Chú thích: 

(1) Ca nhi: Gái hát, cũng như ta nói ả đào.

(2) Phận hồng nhan có mong manh: Ý nói số phận mong manh của người con gái đẹp.

(3) Nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương: Ý nói đang giữa tuổi xuân thì người đẹp chết.

(4) Thuyền tình: Người khách viễn phương đến tìm Đạm Tiên.

(5) Trâm gãy, bình rơi: Ý nói người đã chết, lấy ý tứ từ câu thơ Đường: Nhất phiến tình chu phương đáo ngạn / Bình trâm hoa chiết dĩ đa thì (Một lá thuyền tình vừa tới bến / Bình rơi hoa gãy đã từ lâu).

(6) Nếp tử: Áo quan làm bằng gỗ tử.

(7) Xe châu: Linh xa có treo rèm châu, ý nói linh xa lịch sự sang trọng.

(8) Vùi nông một nấm: Ý chỉ một nấm mồ thấp, sát mặt đất.

(9) Thỏ lặn, ác tà: Thỏ đại diện cho Mặt Trăng, ác là con quạ, cùng nghĩa với chữ "ô", chỉ Mặt Trời. 

(10) Châu sa: Ý chỉ nước mắt rơi xuống. Sách xưa chép rằng: Xưa có giống người ở giữa biển gọi là Giao nhân – một thứ cá hình người. Giống người này khóc thì nước mắt đọng lại, kết thành hạt ngọc.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Xác định kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ sau:

Rằng: “Sao trong tiết thanh minh,

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”

Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, Thuý Kiều đã có tâm trạng, cảm xúc gì? Điều này cho thấy Thuý Kiều là người con gái như thế nào?

Câu 5. Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, em rút ra được bài học gì cho bản thân? Vì sao?

76
14 tháng 12 2025

Thể thơ lục bát


18 tháng 12 2025

Câu 1 Văn Bản trên được viết theo thể thơ lục bát

Câu 2 hai Dòng thơ

"Rằng:'Sao trong tết Thanh Minh

Mà đây Hương khói vắng tanh thế mà?"'

Sử dụng lời thoại trực tiếp dc đặt trong dấu ngoặc kép có từ dẫn' rằng'

Câu 3

Tac gia su dung nhieu tu lay goi hinh,goi cam nhuw xo xac, raafu raafu



20 tháng 11 2024

cánh đồng lúa , giếng , ao cá ,...  các bác nông dân làm ruộng ,...