(4 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
(Lược một đoạn: Đăm Săn cùng tôi tớ vào rừng chặt cây thần.)
Tôi tớ: “Cây xờ-múc, cây xờ-mun, những cây gốc không thấy, ngọn không có, những cây đã sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là cây xờ-múc ở phía đông nhà, là cây pơ-lang ở phía tây hiên, những cây đã sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là những cây gốc trong suối, thân trong thung, bóng rợp cả một vùng, tên gọi là gì không rõ. Gốc cây người đi quanh phải một năm. Cành cây chim chuyền phải một tháng. Tán cây chim bay hết một hơi. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây cao không cao, thấp không thấp, đủ chọc đến trời. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, đó là cây Tông Lông vốn có tự xưa. Thân do trời trồng, gốc do trời vun, tự nó vực dậy, tự nó vươn lên. Đó là một cây cành lá xum xuê, một cây của vực thẳm khe sâu, gãy phía nào không rõ, ngã phía nào không hay. Cây thần đó ông ạ.”
Đăm Săn: “Bớ các con, vậy thì ta hạ cây này nào. Ai gãy rìu, hay rèn ngay rìu. Ai gãy chà gạc, hãy rèn ngay chà gạc.”
(Lược một đoạn: Hơ Nhị, Hơ Bhị sau nhiều ngày chờ đợi, quyết định vào rừng tìm Đăm Săn.)
Đến lúc họ tới được nơi ở của Đăm Săn thì họ thấy cây bị chặt đã rung lên.
Hơ Nhị: “Ơ nuê, ơ nuê! Sao nuê lại làm như vậy? Đó là cây xờ-múc ở phía đông nhà, là cây pơ-lang ở phía tây hiên, những cây sinh ra bà xưa, ông cũ của chúng tôi đó. Nếu nuê cứ phăm phăm chặt như vậy, chúng tôi sẽ chết mất. Nuê sẽ ăn gan bò trong thau, ăn gan trâu trong mâm, uống rượu ché tuk, ché tang một mình một cần. Thôi nuê ở lại, chúng tôi về đây.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị đứng nhìn Đăm Săn. Chàng vẫn hăm hở chặt, trông chàng cứ như đang trong ngày hội giết lợn giết trâu, ăn đông uống vui mừng mùa khô năm mới vậy.
Đăm Săn: “Bớ các con, bớ các con! Hãy dũi như lợn, hãy báng như dê, hãy tới tấp vung tay búa tay rìu như chớp giật trong đêm tối.”
Tôi tớ: “Ối ông ơi, ối ông ơi! Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây như muốn gãy. Gốc trong suối, thân trong khe, cây đang lung lay muốn gãy rồi ông ạ.”
Đăm Săn: “Cây lung lay muốn gãy nhưng gốc chưa đứt. Bớ tất cả làng ta, hãy cứ dũi như lợn, cứ báng như dê, hãy cứ tới tấp vung tay búa tay rìu như chớp giật trong đêm tối cho ta!”
Dân làng chặt thì cầm đèn sáp. Đăm Săn chặt thì cầm đuốc. Bóng cây tối như đêm. Cây đang đu đưa nhè nhẹ, rồi lắc lư từ gốc đến ngọn. Nó muốn gãy. Hơ Nhị, Hơ Bhị thấy vậy bỏ chạy. Hai chị em sợ quýnh, muốn chạy ra xa, những rồi cứ quấn lấy cây mà chạy. Cây xà xuống đầu hai người.
Đăm Săn: “Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, chạy tránh đi nhanh.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị chạy phía tây, cây ngã theo phía tây. Chạy phía đông, cây ngã theo phía đông. Hai chị em chạy vào vùng Mnông, cây ngả theo vào vùng Mnông. Chạy xuống vùng Bih, cây ngã theo xuống vùng Bih. Chạy ra vùng Adham, cây cũng ngả theo ra vùng Adham.
Đăm Săn: “Ơ Hơ Nhị, ơ Hơ Bhị, chạy đường về làng.”
Hơ Nhị, Hơ Bhị liền chạy theo đường về làng… Hai chị em về gần đến làng thì cây sà xuống quá đầu. Họ vào đến làng thì cây lao xuống. Họ vào tới cửa thì cây ầm ầm sụp đổ, tiếng dội đến trời xanh. Cây cối khắp nơi đều gãy theo. Rừng gần rừng xa đều tan tác. Các cây cổ thụ cũng gãy hết, cành toác ra như bị bão giật, thân gục xuống như bị lốc xô. Hai chị em bị vật lăn ra giữa nhà, bị quật ngửa ra gần cửa. Hơ Nhị thì nằm ở đây, váy tuột đằng váy, áo tuột đằng áo. Hơ Bhị vào đến nhà trong thì lăn ra chết ở cửa buồng. Còn Đăm Săn từ lúc ấy cũng chạy theo sau. Tóc xổ đằng tóc, khăn tuột mặc khăn, thấy váy nhặt váy, thấy áo nhặt áo đem về. Anh chàng chạy suốt, vừa chạy vừa khóc. Về đến nhà, thấy Hơ Nhị nằm chết giữa nhà, liền bế Hơ Nhị vào buồng. Vào đến buồng lại thấy Hơ Bhị nằm chết ở cửa buồng liền đỡ luôn Hơ Bhị lên đùi. Thế là một bên đùi anh chàng đỡ Hơ Bhị, còn một bên đùi thì anh chàng đỡ Hơ Nhị. Tôi trai tớ gái trong nhà có bao nhiêu người đều hớt hải chạy đến xem hai người chị em bị cây đánh khác nào hồn đã rơi mất trong suối, vía đã lạc mất trong rừng. Mọi người oà lên khóc.
Tôi tớ: “Ối anh ơi, ối anh ơi! Hai chị chúng tôi chết hết cả rồi. Chúng tôi ở với ai bây giờ.”
(Lược một đoạn: Đăm Săn khóc thương vợ thâu đêm suốt sáng. Rồi chàng căn dặn mọi người lo ma chay chu đáo, còn chàng sẽ lên trời để gặp ông Trời.)
Ông Trời: “Cháu lên có việc gì đấy, cháu?”
Đăm Săn đứng lặng thinh không nói không rằng. Ông Trời chìa thuốc mời, tức thì chàng tóm lấy đầu ông.
Đăm Săn: “Tôi chém ông đây này, ông ơi!”
Ông Trời: “Chuyện gì mà cháu muốn chém ông vậy cháu?”
Đăm Săn: “Chuyện gì mà tôi muốn chém ông à? Chuyện tôi kêu tôi gọi, ông không thưa. Chuyện tôi khóc tôi than, ông không nghe. Chuyện rượu tôi đem cúng, lợn trâu tôi đem giết để làm lễ, mà cổng chốt ông không mở, cổng sắt ông vẫn đóng chặt. Ông ơi, ông hãy nhìn thằng Đăm Săn cháu ông đây này, nước mũi ròng đầy cả chén hoa, nước mắt rỏ ròng đầy cả bát sứ, lênh láng khắp chiếu chăn. Ối ông ơi, vợ cháu chết mất rồi. Người vợ nấu cơm đơm canh, người vợ dệt khố dệt áo cháu chết mất rồi! Chính ông là người đã treo ching với char, trộn dầu với sơn, xe duyên chắp mối vợ chồng cháu. Chính ông đã ép ngựa phải chịu cương, ép trâu phải chịu thừng, ép duyên trai với gái. Cháu không ưng không chịu thì ông hăm cháu phải hốt phân ngựa phân bò cho Hơ Nhị, Hơ Bhị. Ông bảo cháu chỉ có lấy Hơ Nhị, Hơ Bhị mới trở nên một tù trưởng giàu có, ching lắm char nhiều. Vậy giữa lúc ching cháu đang đổi, char cháu đang sắm, tôi trai tớ gái cháu đang có này, ai là người nấu cơm canh, ai là người dệt khố, dệt áo cho cháu đây, ông?”
Ông Trời: “Ơ cháu! Vậy thì cháu hãy lấy ngải kpo, ngải kpun đem mài trong ba năm, đem tắm trong ba sáng cho Hơ Nhị, Hơ Bhị.”
Đăm Săn: “Cháu còn làm như vậy để làm gì nữa hả ông? Đã chết rồi thì sao còn đứng dậy được? Đã rữa ra rồi thì sao còn sống lại được, sao mặt mày còn được như cũ, thân hình còn được như xưa. Biết chọn váy áo, xuyến vòng như các cô gái còn son nữa chứ?”
Ông Trời: “Vậy thì cháu lấy củ nén cháu phun vào lỗ tai, cháu lấy gừng cháu phun vào lỗ mũi. Chạng vạng tối cháu ra làm phép ở ngoài sàn sân.”
Thế là vì duyên vì số, Hơ Nhị, Hơ Bhị đã lúa mục cỏ nát, bị ma quỷ bắt đi, nay lại được ông Trời cho sống lại.
(Trích Sử thi Đăm Săn)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Vì sao sau khi Đăm Săn đốn hạ cây thần, chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị lại chết?
Câu 3. Chỉ ra một chi tiết kì ảo trong văn bản và phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo đó.
Câu 4. Tóm tắt văn bản trên bằng những sự kiện chính và nhận xét về cốt truyện của văn bản.
Câu 5. Hành động quyết đốn hạ cây thần và bắt vạ ông Trời của Đăm Săn cho thấy chàng là người như thế nào? Những hành động ấy thể hiện điều gì ở con người thời đó?
câu 1 :
Việc gìn giữ những giá trị truyền thống của dân tộc là điều vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại. Những giá trị này không chỉ là bản sắc văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc, mà còn là nền tảng vững chắc giúp mỗi cá nhân định hướng cuộc sống và phát triển bền vững. Giá trị truyền thống như tôn trọng gia đình, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, hay các lễ hội, phong tục tập quán đã được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Chúng góp phần xây dựng nên một cộng đồng vững mạnh, giữ cho các thế hệ trẻ hiểu rõ về cội nguồn, tự hào về dân tộc, và có trách nhiệm bảo vệ và phát huy những giá trị ấy. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những giá trị truyền thống càng cần được giữ gìn để không bị phai mờ, giúp mỗi dân tộc duy trì sự riêng biệt và bản sắc văn hóa đặc sắc của mình. Đặc biệt, việc bảo tồn các giá trị truyền thống còn giúp tạo nên sự ổn định trong xã hội, nuôi dưỡng tâm hồn và tạo động lực để chúng ta vươn tới tương lai.
câu 2:
Bài văn nghị luận phân tích bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương
Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương, qua vài câu ngắn gọn, đã bộc lộ một cách tinh tế những cảm xúc, suy nghĩ của tác giả về mối quan hệ giữa con người và tình yêu. Với sự mộc mạc của lời thơ, Hồ Xuân Hương đã khéo léo sử dụng hình ảnh "trầu" để gửi gắm những suy tư về tình duyên, tình yêu, đồng thời thể hiện quan điểm của mình về sự gắn bó và duyên nợ giữa con người với nhau.
Về nội dung:
Bài thơ mở đầu với hình ảnh "quả câu nho nhỏ miếng trầu hôi" – đây là hình ảnh gợi nhắc về miếng trầu, một biểu tượng đặc trưng trong đời sống văn hóa của người Việt. Miếng trầu không chỉ là một thức quà bình dị trong giao tiếp mà còn là biểu tượng của sự gắn kết, của tình nghĩa. Câu thơ đầu tiên không chỉ nói về miếng trầu mà còn có thể hiểu là lời mời gọi, mở ra một không gian giao tiếp, một dịp để gắn kết tình cảm.
Tiếp đến, câu thơ "Này của Xuân Hương mới quệt rồi" mang một âm điệu tự nhiên, giản dị nhưng cũng rất duyên dáng, như thể tác giả đang tự mời mình vào một cuộc trò chuyện, một cuộc đối thoại sâu sắc với người đọc. "Xuân Hương" ở đây không chỉ là tên tác giả mà còn mang nghĩa biểu tượng cho một người phụ nữ đang mời gọi tình yêu, một tình cảm nồng nàn, chân thành.
Câu thơ thứ ba, "Có phải duyên nhau thì thắm lại," cho thấy quan niệm của tác giả về tình yêu, về mối quan hệ giữa hai người. "Duyên" ở đây được hiểu như một điều kiện cần thiết, một yếu tố không thể thiếu để tình yêu nảy nở và bền chặt. Duyên không phải là sự gặp gỡ ngẫu nhiên mà là một mối liên kết sâu xa giữa hai tâm hồn, giúp họ vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống.
Câu cuối, "Đừng xanh như lá, bạc như vôi," là một hình ảnh ẩn dụ đầy sâu sắc. "Xanh như lá" có thể hiểu là tình yêu non nớt, thiếu sự chín muồi, dễ dàng phai tàn khi gặp phải thử thách. "Bạc như vôi" lại là hình ảnh của sự phai nhạt, tan biến sau thời gian dài, không còn gì nguyên vẹn. Câu thơ này là lời nhắc nhở về sự bền vững của tình yêu, rằng tình yêu không chỉ cần duyên mà còn cần sự chung thủy, bền bỉ để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Tình yêu ấy cần phải "thắm lại," nghĩa là phải nuôi dưỡng và chăm sóc để mãi mãi tươi đẹp.
Về nghệ thuật:
Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương được viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, với nhịp điệu nhẹ nhàng, du dương nhưng cũng không thiếu sự sâu sắc, tinh tế. Thể thơ này giúp bài thơ dễ dàng đi vào lòng người đọc, đồng thời thể hiện sự mượt mà, dịu dàng, phù hợp với nội dung tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm.
Hồ Xuân Hương sử dụng những hình ảnh mang tính biểu tượng, đậm chất văn hóa dân gian như "trầu" và "quả câu" để truyền tải thông điệp về tình yêu, sự gắn kết giữa con người. Sự lựa chọn những hình ảnh giản dị nhưng đầy hàm ý đã khiến bài thơ không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Câu cú trong bài thơ rất gợi cảm và ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa. Cách sử dụng hình ảnh "xanh như lá, bạc như vôi" thể hiện sự am hiểu sâu sắc của tác giả về sự mong manh của tình cảm con người, cũng như những biến chuyển của tình yêu trong cuộc đời. Từ đó, bài thơ không chỉ là một lời mời trầu đơn giản mà còn là một lời nhắn nhủ, một suy ngẫm về tình yêu và mối quan hệ giữa người với người.
Kết luận:
Qua bài thơ "Mời trầu," Hồ Xuân Hương đã khéo léo kết hợp giữa hình ảnh giản dị và những thông điệp sâu sắc về tình yêu, về sự gắn bó giữa con người với nhau. Bài thơ không chỉ làm sáng tỏ quan niệm của tác giả về tình yêu mà còn thể hiện sự tinh tế trong việc lựa chọn hình ảnh, ngôn từ. Tác phẩm này đã chứng minh tài năng của Hồ Xuân Hương trong việc vận dụng ngôn ngữ thơ để phản ánh những vấn đề sâu xa của cuộc sống, tình yêu và con người, đồng thời làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Câu 2
Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương thể hiện niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của một trái tim nồng nàn và giàu cá tính. Trong thời cuộc nơi mà nhiều nhà thơ thể hiện cảm xúc, suy tư và yêu thương về tình yêu, Hồ Xuân Hương đã sáng tạo nên một tác phẩm tinh tế, phản ánh tâm hồn nhạy cảm và chân thành của người phụ nữ tài ba. Cuộc đời của Hồ Xuân Hương có nhiều gặp gỡ, nhưng tình cảm của bà đều không được bền lâu. Những người bạn tình, dù là trong tuổi trẻ hay là những mối quan hệ phức tạp, đều không đạt được hạnh phúc lâu dài. Sự giỡn cợ của Chiêu Hổ và kiếp làm lẽ tủi nhục trăm bề trong sự lạnh lẽo của Tổng Cóc làm tan nát trái tim của Xuân Hương. Cuộc sống của bà đầy những đau thương và lừng lẫy giữa cuộc đời vô thường. Cuộc sống của Xuân Hương đã gặp nhiều biến động và thách thức, nhưng sự lạnh lùng và cô đơn của bà được thể hiện trong những đêm trường ôm hận một mình. Xuân Hương tìm kiếm sự động viên và an ủi cho bản thân mình trong những bài thơ của mình. Trái tim của bà cảm nhận sự chua chát và cay đắng từ những mối tình đã qua. Bài thơ "Mời trầu" có thể ra đời trong giai đoạn mà nữ sĩ như Hồ Xuân Hương đang tìm kiếm sự chân thành và động viên trong cuộc sống. Bà đã ý thức rằng sự kết hợp với một người bạn đồng điệu và chi kỷ có thể mang lại hạnh phúc lâu dài hơn so với những mối tình nồng cháy thời tuổi trẻ. Những lời nói tâm tình trong bài thơ là biểu hiện của sự trung thực, khiêm tốn và chân thành của Hồ Xuân Hương. Bà tự mình mô tả về mình một cách thẳng thắn, không che giấu những khía cạnh thực tế và cảm xúc riêng tư của mình. Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi. Trong cái bình thường đơn giản của miếng trầu, đó không chỉ là một điều đơn giản thông thường. Bên dưới vẻ bề ngoài hiền lành đó, ẩn chứa một ý nghĩa sâu sắc mà không phải ai cũng có thể hiểu được. Điều này không phải là điều ngẫu nhiên, mà là sự sáng tạo của Xuân Hương trong cách nhìn nhận và tả dụ về tình yêu. Không nên lầm tưởng rằng ý xuân của Xuân Hương chỉ là vẻ nho nhỏ và hôi hương của miếng trầu. Xuân Hương đã kết hợp với cái hồn cau trầu keo sơn gắn bó sâu sắc với dân tộc Việt Nam để nói về tình yêu của mình một cách độc đáo và thi vị. Điều này đồng thời thể hiện sự tinh tế và tài năng nghệ thuật của bà, khi chọn lựa phong cách của dân tộc để truyền đạt thông điệp của mình. Độc đáo trong tác phẩm của Xuân Hương không chỉ đến từ nội dung mà còn từ phong cách riêng biệt - phong cách mà chỉ riêng bà mới có. Bằng cách này, Xuân Hương đã làm cho bức tranh tình yêu của mình trở nên không chỉ là độc đáo mà còn mang đậm dấu ấn cá nhân, làm nổi bật tên tuổi và tài năng của mình trong văn học Việt Nam. Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Hồ Xuân Hương, trong sự thể hiện cái tôi của mình, đã tạo nên một bức tranh tâm hồn vô cùng chuẩn nhị, độc đáo và duyên dáng. Nhà thơ không ngần ngại trải lòng mình, bày tỏ tâm tư, tình cảm một cách chân thật. Quan trọng hơn, bà không lạc quan hoá, không tô điểm hình thức. Sự khách quan trong cách diễn đạt cảm xúc là điều làm nổi bật và độc đáo. Xuân Hương không mê tít bề ngoài, mà cô đặt tâm huyết vào sự chân thành. Cách bày tỏ tình cảm bằng từ ngữ như "quệt" là một phát minh ngôn ngữ đầy sáng tạo. Đó không chỉ là một từ vựng, mà còn là biểu hiện của cái chấp nhận bản thân, cái duyên dáng và sự quý phái. Bằng cách này, bà mang đến một chút dễ thương, thấm đẫm tình yêu và tự hào trong cái quệt đầy cá tính. Có lẽ, những từ ngữ khác nếu được áp dụng sẽ không thể thay thế được vì chúng không thể nào chứa đựng được cái tâm, cái ý mà câu thơ muốn truyền đạt. Cách diễn đạt động từ "quệt" là một ngôn ngữ riêng của Xuân Hương, là chất liệu đặc biệt của tác phẩm. Tuy tô vẻ chân tình một cách bình thản, nhưng bên trong, giọng điệu nhẹ nhàng của bà lại chứa đựng bao cảm xúc, bao nỗi niềm. Sự tinh tế trong từng cung bậc cảm xúc làm cho người đọc không chỉ cảm nhận được sự chân thành mà còn được đắm chìm trong một không gian tâm hồn phong phú và sâu sắc. Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Có lẽ duyên nhau là một cái gì đó mà người đó, người hẹn ước, cùng tâm sự, cùng đồng tình thì mới thấu hiểu được Hồ Xuân Hương cần gì trong "chữ duyên" đó. Đối với bà, người đồng cảm không chỉ là người để cùng xướng họa, ngâm thơ, mà còn là người tri kỷ tri âm, người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn cuộc sống. Người bạn tri kỷ này không chỉ là đối tác mà còn là người gắn bó, tin tưởng và yêu thương, tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ và chân thành. Trái tim của người phụ nữ này chỉ cần được thấu hiểu như vậy thì đã thấy quá khó khăn và xa vời. Nhiều lần, trong sâu thẳm tâm hồn, bà muốn dứt bỏ nhưng không thể, vì trái tim vẫn không ngừng khao khát và ước muốn. Xuân Hương trong tình yêu như đắm say và lo sợ đồng thời, như sợ rằng tình yêu của mình sẽ mất đi vẻ tươi thắm và đơn thuần như ngày ban đầu. Bà sợ sự chia lìa, phai bạc, như những người yêu thương sâu đậm thường lo sợ một ngày mai không còn được nguyên vẹn và tươi mới như ban đầu. Bài thơ chứa đựng nỗi lo lắng về sự phai nhòa và thay đổi của tình yêu, nhưng cũng thể hiện sự khát khao giữ cho nó nguyên vẹn và bền vững. Người như "con thỏ giỡn với bong trăng" của bài thơ đó chính là người phụ nữ có trái tim trong sáng, đầy lòng tin, đã phụ lòng tin của mình một cách chân thành. Câu "tưởng giếng nước sâu, em nối sợi gầu dài – ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây" của ca dao cũng được sử dụng để bày tỏ nỗi lòng tiếc nuối về sự hòa hợp không giữ được một tình yêu chân thật và trung thành. Vì thế, trước những khó khăn trong tình duyên, trái tim khắc khoải của Xuân Hương lên tiếng đòi hỏi chính đáng. Đòi hỏi này không đến nỗi nào, chỉ là muốn nhấn mạnh rằng ai yêu tâm hồn và tình cảm của Hồ Xuân Hương bằng tất cả tâm hồn và tình cảm chân thành của mình, sẽ được nữ sĩ đón nhận. Hồ Xuân Hương tối kỵ sự giả dối, và trong tình yêu, không có chỗ cho sự giả dối. Bà muốn người ta đến với nhau bằng tình yêu nồng thắm, chân thành, vì chỉ có như vậy, cuộc sống, con người và tình yêu mới thực sự có ý nghĩa. Bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương đang là một lời mời trân trọng đến với tình yêu, và những người yêu thơ, yêu Hồ Xuân Hương, hãy đón nhận điều đó.
Câu 1 .
Mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ lại có một bản sắc, một nét đẹp văn hóa khác nhau. Chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa của mình cũng như quảng bá những nét đắc sắc đó đến với bạn bè năm châu. Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng vùng miền của cả đất nước ta. Bên cạnh đó, bản sắc văn hóa dân tộc còn là những giá trị tạo nên sự khác biệt của mỗi quốc gia, sự phong phú trong lối sống, sinh hoạt tập thể của con người và tạo nên sự đa dạng màu sắc cho cuộc sống. Bản sắc văn hóa dân tộc có tầm quan trọng lớn lao đối với cuộc sống của mỗi người nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung. Bản sắc văn hóa dân tộc hay cụ thể hơn là văn hóa vùng miền là nơi con người giao lưu văn hóa, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mình, cũng là nơi con người gắn kết với nhau, vui đùa. Bản sắc văn hóa dân tộc còn là những đặc trưng về văn hóa của quốc gia đó, là nét làm cho đất nước mình không bị nhầm lẫn với bất kì đất nước nào khác. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều nét đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc của Việt Nam ta đang bị mai một, mất dần đi hoặc suy thoái, biến tướng thành nhiều thể loại khác. Chính vì thế, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải có ý thức tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi người học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu, tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.