Sự kiện nào đánh dấu bước ngoặt quyết định làm chuyển quân đội phát xít Đức sang thế phòng ngự, tạo thế cho quân Đồng minh phản công trong Chiến tranh thế giới thứ hai?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Nóng vội và thiếu dân chủ trong tập thể hóa nông nghiệp: Quá trình hợp tác hóa và đưa nông dân vào các trang trại tập thể (kolkhoz) diễn ra quá gấp gáp, chưa tuân thủ triệt để nguyên tắc tự nguyện, gây ra nhiều khó khăn và phản ứng trong nhân dân. [1, 2]
- Mất cân đối trong cơ cấu kinh tế: Tập trung quá mức ưu tiên cho công nghiệp nặng và quốc phòng, dẫn đến việc chưa chú trọng đúng mức đến phát triển công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng. [1, 2]
- Chưa quan tâm thỏa đáng đến đời sống nhân dân: Việc cải thiện điều kiện sinh hoạt, mức sống vật chất và văn hóa của người dân chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng công nghiệp rất cao của đất nước. [1, 2]
- Cơ chế tập trung quan liêu: Hình thành dần hệ thống quản lý kinh tế – xã hội mang tính tập trung cao độ, quan liêu và bao cấp, thiếu sự linh hoạt và phát huy quyền làm chủ rộng rãi của xã hội. [1]
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam - thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) mang ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, được cô đọng qua 5 ý chính sau:
- Chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước: Sự ra đời của Đảng đã giải quyết triệt để tình trạng bế tắc, khủng hoảng kéo dài về đường lối và giai cấp lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX (khi các con đường cứu nước theo hệ phong kiến hoặc dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại).
- Đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam: Đảng ra đời khẳng định giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kỳ phong trào yêu nước diễn ra tự phát để chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác, có tổ chức và có đường lối đúng đắn.
- Gắn kết cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Đặt cách mạng nước ta thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới, tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
- Là nhân tố quyết định mọi thắng lợi: Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, đồng thời là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này (từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và công cuộc đổi mới).
- Mở ra thời đại mới cho dân tộc: Mở ra thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình.
Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991 [6.8] chủ yếu do sự kết hợp của khủng hoảng kinh tế kéo dài, những sai lầm trong cải cách chính trị, áp lực quân sự và sự tha hóa của bộ máy lãnh đạo.
(Lưu ý: Liên Xô tồn tại trong thế kỷ 20 từ năm 1922 đến 1991, còn thế kỷ 19 là thời kỳ của Đế quốc Nga trước đó).Nguyên nhân chính dẫn đến sự tan rã của Liên Xô- Khủng hoảng kinh tế trầm trọng: Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều yếu kém, trì trệ, thiếu năng động, không bắt kịp cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa tiêu dùng thiết yếu và đời sống nhân dân khó khăn.
- Cải cách sai lầm (Perestroika và Glasnost): Các chính sách cải tổ của Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev về kinh tế và chính trị diễn ra vội vã, thiếu đồng bộ, mất kiểm soát. Việc từ bỏ vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng (Điều 6 Hiến pháp) làm xói mòn hệ thống nhà nước và trật tự xã hội [6.3, 6.8, 6.9].
- Khủng hoảng tư tưởng và mất niềm tin: Sự bất mãn của người dân trước tình trạng suy thoái kinh tế, sự bất lực của bộ máy quản lý, đặc biệt sau thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986 và cách xử lý chậm trễ từ chính phủ, đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm tin vào hệ thống Xô viết [6.9].
- Chủ nghĩa dân tộc cực đoan: Lợi dụng chính sách cởi mở, các lực lượng ly khai tại các nước cộng hòa thành viên trỗi dậy mạnh mẽ, khoét sâu thêm mâu thuẫn sắc tộc và đẩy nhanh tiến trình xé lẻ liên bang.
- Chạy đua vũ trang: Gánh nặng tài chính khổng lồ từ việc đối đầu quân sự kéo dài với phương Tây (Mỹ và khối NATO) trong Chiến tranh Lạnh đã vắt kiệt nguồn lực kinh tế của Liên Xô.
1. Đối với nước Nga
Đập tan bộ máy nhà nước cũ của giai cấp tư sản và phong kiến Nga hoàng.
Lần đầu tiên đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên nắm chính quyền.
Mở ra kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. Đối với thế giới
Làm thay đổi cục diện thế giới, mở ra thời kỳ Lịch sử thế giới hiện đại.
Cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng thế giới (phong trào công nhân ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa).
Để lại nhiều bài học kinh nghiệm vô giá cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong đó có Cách mạng Việt Nam.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) mang tính chất là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, phi nghĩa về cả hai phía (các đế quốc thuộc liên minh Đức - Áo-Hùng và phe Hiệp ước Anh - Pháp - Nga).
Phân tích cụ thể tính chất của cuộc chiến tranh này qua các khía cạnh:
- Mục đích chiến tranh: Cả hai phe tham chiến đều không vì mục đích bảo vệ tổ quốc hay giải phóng dân tộc, mà nhằm xâu xé, chia lại thị trường và hệ thống thuộc địa trên thế giới.
- Nguyên nhân sâu xa: Xuất phát từ sự phát triển không đều về kinh tế và quân sự giữa các nước đế quốc cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt về thuộc địa giữa các đế quốc "già" (Anh, Pháp) và các đế quốc "trẻ" (Đức).
- Hậu quả và tác động: Cuộc chiến tàn phá nặng nề lực lượng sản xuất, gây thảm họa nhân đạo khổng lồ cho nhân dân lao động thế giới (hàng chục triệu người chết và bị thương), đồng thời đè nặng ách bóc lột, áp bức lên nhân dân các nước thuộc địa.
Ngoại lệ duy nhất: Trong toàn bộ cuộc chiến, chỉ có cuộc chiến đấu của nhân dân Xéc-bi (Serbia) và Bỉ là mang tính chất chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc trước sự xâm lược của phe Liên minh.
THAM KHẢO
Nhận xét vai trò của các nước lớn trong chiến tranh
- Các nước lớn có vai trò rất quan trọng, tác động mạnh đến diễn biến và kết quả của chiến tranh thông qua tiềm lực kinh tế, quân sự, chính trị và ngoại giao.
- Sự tham gia của các nước lớn có thể làm thay đổi tương quan lực lượng, thúc đẩy chiến tranh kết thúc hoặc kéo dài xung đột.
- Bên cạnh những đóng góp tích cực trong việc chống chủ nghĩa phát xít, một số nước lớn cũng theo đuổi lợi ích và mục tiêu riêng, gây ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế.
Bài học về gìn giữ hòa bình thế giới hiện nay
- Cần tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia.
- Các nước, đặc biệt là nước lớn, cần kiềm chế, không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp.
- Ưu tiên đối thoại, đàm phán và các biện pháp hòa bình để giải quyết bất đồng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, đề cao vai trò của Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế.
- Mỗi quốc gia cần có trách nhiệm chung trong việc ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới.
Kết luận: Bài học quan trọng nhất là hòa bình không tự nhiên có được mà cần sự hợp tác, tôn trọng và trách nhiệm của tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn.
THAM KHẢO
- Chủ mưu hoặc kẻ khơi mào: Một số nước lớn (như Đức, Nhật Bản, Ý trong WW2) đóng vai trò chủ mưu, phát động chiến tranh nhằm phân chia lại thế giới và tranh giành thuộc địa.
- Lực lượng trụ cột chống phát xít: Các nước lớn khác (như Liên Xô, Mỹ, Anh) đóng vai trò là trụ cột trong phe Đồng minh, chịu trách nhiệm chính về nhân lực, vật lực để đánh bại phe trục.
- Quyết định kết cục chiến tranh: Sự tham chiến và sức mạnh quân sự/kinh tế của các nước lớn quyết định thắng bại của cuộc chiến, đồng thời định hình lại trật tự thế giới sau đó.
- Tuân thủ luật pháp quốc tế: Các nước lớn cần tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp Quốc, để giải quyết các tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.
- Đối thoại thay vì đối đầu: Cần thúc đẩy đối thoại, hợp tác và giải quyết các mâu thuẫn thông qua các biện pháp hòa bình, tránh các hành động gây căng thẳng, quân sự hóa tại các khu vực nhạy cảm.
- Trách nhiệm của cường quốc: Các cường quốc có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa xung đột từ sớm, từ xa và cần có trách nhiệm lớn hơn trong việc bảo vệ an ninh, an toàn quốc tế.


Sự kiện đánh dấu bước ngoặt quyết định làm chuyển quân đội phát xít Đức sang thế phòng ngự, tạo thế cho quân Đồng minh phản công trên tất cả các mặt trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai là Chiến thắng Điện Biên Phủ trên đất Nga - Chiến dịch Stalingrad (kéo dài từ tháng 7/1942 đến tháng 2/1943).
chịu