K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

18 tháng 11 2025

Olm chào em, cảm ơn đánh giá của em về chất lượng bài giảng của Olm, cảm ơn em đã đồng hành cùng Olm trên hành trình tri thức. Chúc em học tập hiệu quả và vui vẻ cùng Olm em nhé!


14 tháng 11 2025
Câu 1. Phân tích nhân vật Đan Thiềm (Khoảng 200 chữ) Do bạn không cung cấp văn bản đọc hiểu cụ thể, tôi sẽ phân tích nhân vật Đan Thiềm dựa trên tác phẩm kịch nổi tiếng "Vũ Như Tô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, tác phẩm mà nhân vật này thường xuất hiện trong các đề thi Ngữ văn. (Đoạn văn phân tích): Trong vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng, nhân vật Đan Thiềm nổi bật như một hình ảnh đại diện cho cái đẹp và sự thấu hiểu bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa. Xuất thân là một cung nữ, Đan Thiềm không chỉ là người chứng kiến mà còn là người trực tiếp tham gia vào vòng xoáy biến động của triều đình và cuộc đời Vũ Như Tô. Nàng là tri âm, là người duy nhất thực sự hiểu được khát vọng cháy bỏng của Vũ Như Tô: xây dựng Cửu Trùng Đài vĩ đại để lưu danh muôn đời và làm rạng rỡ quốc gia. Khác với những kẻ ham quyền lực hay đám dân đen chỉ nhìn thấy sự bóc lột, Đan Thiềm nhìn thấy ở Vũ Như Tô một thiên tài đang bị giam cầm bởi thực tế phũ phàng. Nàng khuyên Vũ Như Tô chạy trốn khỏi vòng xoáy nguy hiểm, nhưng khi ý nguyện xây đài của chàng quá mãnh liệt, nàng lại dốc lòng ủng hộ, thậm chí hy sinh bản thân để bảo vệ chàng. Bi kịch của Đan Thiềm là bi kịch của một tâm hồn cao đẹp, khao khát bảo vệ cái đẹp tuyệt đối trong một xã hội loạn lạc. Sự ra đi của nàng, dù không được miêu tả trực tiếp, vẫn để lại sự day dứt về việc cái đẹp và sự thấu cảm bị chà đạp bởi sự vô cảm và bạo lực của thời cuộc. Qua Đan Thiềm, Nguyễn Huy Tưởng ngợi ca những tấm lòng biết trân trọng và bảo vệ tài năng, đồng thời tô đậm thêm tính chất bi kịch không lối thoát của người nghệ sĩ trong xã hội phong kiến. Câu 2. Nghị luận về mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia (Khoảng 600 chữ) (Bài văn nghị luận): Hiền tài là nguyên khí quốc gia Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh hùng hồn một chân lý: sự hưng vong của một quốc gia luôn gắn liền mật thiết với việc trọng dụng và phát huy sức mạnh của hiền tài. Câu chuyện bi kịch của Vũ Như Tô trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng, dù đặt trong bối cảnh lịch sử đầy biến động, vẫn là một minh chứng sâu sắc và day dứt về mối quan hệ biện chứng, sống còn giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia. Hiền tài là những người có đức độ và tài năng xuất chúng, là "nguyên khí" – khí chất ban đầu làm nên sự sống còn, phát triển của đất nước. Họ không chỉ là những bộ óc định hướng chiến lược, mà còn là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nâng tầm văn hóa và bảo vệ bờ cõi. Một quốc gia muốn vững mạnh, thịnh vượng không thể không dựa vào nguồn lực quý báu này. Câu chuyện về kiến trúc sư Vũ Như Tô là một ví dụ điển hình về sự lãng phí hiền tài do đặt nhầm chỗ và không thấu hiểu giá trị cốt lõi. Vũ Như Tô là một thiên tài, ấp ủ hoài bão xây dựng một công trình vĩ đại "bền như sao Băng, vững như núi Thái Sơn", làm rạng danh đất nước. Hoài bão đó, tự thân nó là chính đáng và cao đẹp. Tuy nhiên, bi kịch xảy ra khi tài năng ấy bị lợi dụng để phục vụ cho những dục vọng cá nhân của vua chúa (xây Cửu Trùng Đài tốn kém, xa hoa), gây nên sự oán thù trong dân chúng. Cuối cùng, chính tài năng ấy lại trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết oan khuất của người nghệ sĩ. Cái chết của Vũ Như Tô không chỉ là bi kịch cá nhân, mà còn là sự mất mát to lớn của quốc gia khi một hiền tài không được sử dụng đúng mục đích, đúng thời điểm. Qua bi kịch này, ta thấy rõ mối quan hệ hai chiều giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia. Về phía quốc gia, việc trọng dụng hiền tài phải đi đôi với việc tạo môi trường để tài năng đó phát huy giá trị chân chính, phục vụ lợi ích chung của nhân dân, chứ không phải phục vụ cho một cá nhân hay một nhóm lợi ích nào. Một chính sách đúng đắn là bệ phóng cho hiền tài cống hiến; một chính sách sai lầm sẽ biến hiền tài thành công cụ, thậm chí là nạn nhân của sự hỗn loạn. Ngược lại, về phía hiền tài, bản thân người tài cũng cần có tầm nhìn và sự tỉnh táo. Tài năng cần gắn liền với trách nhiệm xã hội và đạo đức. Vũ Như Tô vì quá say mê cái đẹp tuyệt đối, mải miết với mộng "ngàn năm", mà quên đi thực tế phũ phàng, quên đi nỗi thống khổ của nhân dân. Sự thiếu nhạy bén chính trị, sự lãng quên mục đích phục vụ quần chúng đã khiến tài năng của ông trở nên vô nghĩa, thậm chí phản tác dụng. Trong thời đại ngày nay, khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi những bước đột phá mạnh mẽ, mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để đất nước phát triển, chúng ta cần những "Vũ Như Tô" biết xây dựng những "Cửu Trùng Đài" của khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, những công trình đó phải là vì dân, do dân. Tóm lại, hiền tài là tài sản vô giá của quốc gia. Mối quan hệ giữa hai yếu tố này không thể tách rời. Chỉ khi quốc gia có chính sách trọng dụng hiền tài đúng đắn, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, và bản thân hiền tài nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với nhân dân, thì đất nước mới có thể phát triển phồn vinh và bền vững. Bi kịch của Vũ Như Tô vẫn là lời cảnh tỉnh sâu sắc cho các thế hệ mai sau về nghệ thuật dùng người và đạo đức của người tài.
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]

VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

[…]

ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]

VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]

VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. 

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?

3
14 tháng 11 2025

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Đan Thiềm lén gặp Vũ Như Tô trước khi ông diện kiến vua, hai người trò chuyện về cảnh ngộ của mình; Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài và cuối cùng ông dao động, thay đổi ý định.


Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu và nêu tác dụng.

  • Chỉ dẫn sân khấu: “(Chàng rơm rớm nước mắt.)”, “(lược một đoạn…)”, lời hướng dẫn động tác, cảm xúc, bối cảnh…
  • Tác dụng: Giúp người đọc/học sinh hình dung rõ hành động, tâm trạng nhân vật; hỗ trợ diễn viên khi biểu diễn; tăng tính kịch và tính chân thực cho tình huống.

Câu 3. Ý nghĩa của từ “đồng bệnh”.

“Đồng bệnh” nghĩa là cùng chung nỗi khổ. Cách dùng này cho thấy Đan Thiềm cảm thông sâu sắc với Vũ Như Tô vì họ đều là người có tài năng nhưng bị chế độ phong kiến khắc nghiệt vùi dập → khắc hoạ nhân vật Đan Thiềm như một người đa cảm, thấu hiểu và trân trọng tài năng.


Câu 4. Xung đột trong văn bản là giữa những nhân vật nào? Ý nghĩa?

  • Xung đột: giữa Vũ Như Tô (người có tài, có nhân cách nhưng bị dằn vặt giữa lý tưởng và hiện thực) và vua Lê Tương Dực (bạo chúa), đồng thời là xung đột giữa Vũ Như Tô và chính bản thân mình (làm hay không làm Cửu Trùng Đài); cuộc đối thoại với Đan Thiềm làm xung đột bộc lộ rõ.
  • Ý nghĩa: làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa trong xã hội phong kiến; thể hiện tư tưởng của tác phẩm: tài năng lớn dễ gặp bi kịch khi đối lập với hiện thực tàn bạo.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô quyết định thế nào? Vì sao sau lời khuyên của Đan Thiềm lại thay đổi?

  • Ban đầu: Vũ Như Tô nhất quyết không xây Cửu Trùng Đài, thà chết chứ không chịu làm việc cho bạo chúa.
  • Sau đó thay đổi vì:
    • Đan Thiềm đánh vào khát vọng sáng tạo và lý tưởng nghệ thuật của ông.
    • Bà thuyết phục rằng xây đài không phải để phục vụ vua mà để cống hiến cho đất nước, cho hậu thế, ghi dấu tài năng muôn đời.
    • Ông nhận ra đây là cơ hội duy nhất để thực hiện mộng lớn kiến trúc mà cả đời theo đuổi.

→ Vì vậy, ông dao động và chấp nhận đưa tài năng vào công trình.

19 tháng 12 2025

câu1 cuộc gặp gỡ và trò chuyện giữa vũ như tô và đan thiềm


14 tháng 11 2025

Câu 1. (2,0 điểm – khoảng 200 chữ)

Phân tích nhân vật Đan Thiềm

Trong đoạn trích, Đan Thiềm hiện lên là một nhân vật giàu lòng nhân ái, biết trân trọng tài năng và có tấm lòng vượt lên hoàn cảnh cung cấm khắc nghiệt. Dù bản thân là cung nữ bị giam hãm suốt hai mươi năm, mang nỗi “cung oán” dằng dặc, Đan Thiềm vẫn giữ được sự tinh tế và lòng cảm thông đối với những người tài hoa bị vùi dập. Khi gặp Vũ Như Tô, bà lập tức nhận ra nỗi khổ của “người đồng bệnh” – những con người có tài mà không được dùng, có tâm mà không được trọng. Sự chia sẻ chân thành cùng tiếng lòng thấu hiểu cho thấy Đan Thiềm là người sâu sắc, biết nhìn xa hơn những câu chuyện cá nhân để nghĩ cho vận mệnh quốc gia. Quan trọng hơn, bà là người có “con mắt xanh” hiếm có trong xã hội phong kiến suy tàn: bà không chỉ thương tài mà còn biết khơi dậy, nâng đỡ tài năng để thực hiện những giá trị lớn lao cho đất nước. Tư tưởng thuyết phục Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho thấy Đan Thiềm là người có lý tưởng thẩm mỹ, có khát vọng làm đẹp cho non sông, vượt lên cách nhìn thiển cận về việc phục vụ bạo chúa. Vì thế, Đan Thiềm là điểm sáng nhân văn của tác phẩm, đại diện cho khát vọng trân trọng và bảo vệ hiền tài.


Câu 2. (4,0 điểm – khoảng 600 chữ)

Nghị luận: Mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia

Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, ta lại được nhắc nhở về một chân lý có giá trị bền vững: hiền tài luôn giữ vai trò đặc biệt đối với sự hưng thịnh của đất nước. Bi kịch của người nghệ sĩ tài hoa bị vùi lấp trong xã hội phong kiến không chỉ là nỗi đau của một cá nhân, mà còn là sự suy yếu chung của quốc gia khi không biết trọng dụng người tài. Bởi vậy, việc nhận thức đúng đắn và trân trọng hiền tài là điều kiện tiên quyết để xây dựng sự nghiệp lớn lao của dân tộc.

Hiền tài trước hết là những con người có trí tuệ, bản lĩnh và tấm lòng hướng về lợi ích chung. Họ là nguồn lực đặc biệt – không phải nguồn lực vật chất mà là nguồn lực tinh thần, sáng tạo và ý chí. Một đất nước muốn mạnh, muốn phát triển, nhất thiết phải dựa vào tầng lớp tinh hoa này. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh điều ấy: thời Lý – Trần rực rỡ nhờ có các bậc hiền tài như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo; thời Lê Thánh Tông thịnh trị nhờ trọng dụng những trí thức như Nguyễn Trãi, Thân Nhân Trung. Không phải ngẫu nhiên mà Thân Nhân Trung đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Nguyên khí thịnh thì quốc gia mạnh, nguyên khí suy thì đất nước yếu. Đó là quy luật không bao giờ thay đổi.

Tuy nhiên, hiền tài chỉ có thể cống hiến khi họ được đặt vào đúng môi trường phát triển. Câu chuyện của Vũ Như Tô là một bài học đắt giá: chế độ phong kiến thối nát đã làm cho người tài trở thành tội nhân, chà đạp họ bằng gông cùm và nghi kỵ. Người nghệ sĩ, vốn mang trong mình khát vọng sáng tạo, rơi vào bế tắc vì bị cản trở bởi những thế lực tăm tối. Khi quốc gia không biết tôn trọng người tài, thì tài năng sẽ héo tàn, sự nghiệp chung sẽ lụi bại. Đó chính là nguyên nhân khiến đất nước nghèo nàn, nghệ thuật trì trệ, công trình kiến trúc không thể sánh với các quốc gia xung quanh. Bi kịch của Vũ Như Tô cũng là cảnh tỉnh: lãng phí hiền tài là tội lỗi với tương lai dân tộc.

Ngày nay, mối quan hệ giữa hiền tài và đất nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cạnh tranh không chỉ bằng tài nguyên mà bằng trí tuệ, sáng tạo, khoa học công nghệ, việc thu hút và bồi dưỡng nhân tài trở thành trách nhiệm sống còn. Một quốc gia muốn tiến bộ phải tạo môi trường công bằng, minh bạch, trọng dụng đúng người. Đồng thời, mỗi người trẻ cũng cần ý thức nuôi dưỡng tài năng của bản thân để góp phần vào sự phát triển chung.

Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, ta hiểu rằng hiền tài chỉ có thể phát huy khi được đặt đúng chỗ. Một đất nước biết trọng dụng hiền tài là đất nước có tương lai vững mạnh. Vì vậy, phát hiện – bồi dưỡng – sử dụng – bảo vệ người tài chính là con đường ngắn nhất để xây dựng một quốc gia phồn thịnh, văn minh và trường tồn.

23 tháng 12 2025

Câu 1:

Trong đoạn trích, Đan Thiềm hiện lên là một nhân vật có tâm hồn cao thượng và tư tưởng sắc sảo. Bà không chỉ là một cung nữ có số phận bất hạnh, bị giam hãm trong cung cấm suốt 20 năm, mà còn là người có khả năng thấu thị tài năng và lòng người. Sự "đồng bệnh" mà Vũ Như Tô nhận ra ở bà chính là sự đồng điệu của những tâm hồn nghệ sĩ bị vùi dập bởi thời thế. Đan Thiềm hiện thân cho tấm lòng "biệt nhãn liên tài" (con mắt tinh đời trân trọng người tài). Bà sẵn sàng gạt bỏ những định kiến về một "bạo chúa" để khuyên Vũ Như Tô lợi dụng thời cơ xây dựng Cửu Trùng Đài. Với Đan Thiềm, tài năng không nên để "mục nát với cỏ cây" mà phải đem dâng hiến cho non sông để khẳng định vị thế dân tộc trước thế giới. Qua lời khuyên can đầy quyết đoán: "Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả... hậu thế sẽ xét công cho ông", Đan Thiềm không chỉ cứu rỗi tâm hồn bế tắc của người nghệ sĩ mà còn thể hiện một khát vọng lớn lao về sự bất tử của cái đẹp. Bà chính là chất xúc tác quan trọng, đưa Vũ Như Tô từ một kẻ sĩ cứng nhắc trở thành một nghệ sĩ dám dấn thân vì lý tưởng nghệ thuật vĩ đại.

Câu 2:

Thân nhân Trung đã từng khẳng định: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Qua câu chuyện của kiến trúc sư Vũ Như Tô và lời khuyên của Đan Thiềm, ta càng thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa người có tài và sự hưng thịnh của một dân tộc.

Hiền tài là những người có cả tài năng xuất chúng và nhân cách cao đẹp, là lực lượng nòng cốt dẫn dắt sự phát triển của xã hội. Trong văn bản, Vũ Như Tô đại diện cho những người có "thiên tư đặc biệt", có thể tạo ra những công trình "tranh tinh xảo với hóa công". Khi hiền tài được trọng dụng, quốc gia sẽ có những bước tiến vượt bậc về văn hóa, kinh tế và vị thế. Như Đan Thiềm đã nói, một công trình vĩ đại có thể giúp nhân dân hãnh diện, khiến quốc gia láng giềng phải kiêng dè.Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ thực sự bền vững khi có sự gặp gỡ giữa khát vọng cá nhân và lợi ích quốc gia. Nếu người tài bị vùi dập, không có đất dụng võ như thực trạng "nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp" mà Vũ Như Tô trăn trở, thì tài năng ấy sẽ tàn lụi, dẫn đến sự suy thoái của cả một nền kiến trúc, văn hóa. Một quốc gia không biết trân trọng người tài thì "nhân tài nhiều sao được", và hệ quả là sự lạc hậu so với thế giới.Ngược lại, người tài cũng cần có tầm nhìn chiến lược. Vũ Như Tô ban đầu chỉ quan tâm đến tiết tháo cá nhân, không muốn phục vụ kẻ xấu. Nhưng Đan Thiềm đã chỉ ra một hướng đi khác: dùng quyền lực và tiền bạc của triều đình để thực hiện "cái mộng lớn" cho muôn đời sau. Điều này dạy cho chúng ta rằng, hiền tài cần biết vượt lên trên những tiểu tiết để hướng tới mục tiêu phụng sự quốc gia bền vững.Trong bối cảnh hiện đại, mối quan hệ này càng trở nên sống động. Quốc gia cần có những chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc tự do để người tài cống hiến. Đồng thời, mỗi cá nhân ưu tú cần ý thức được trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Tài năng không chỉ là tài sản riêng mà là nguồn lực để quốc gia vươn tầm quốc tế.

hiền tài và sự nghiệp quốc gia là hai yếu tố không thể tách rời. Một đất nước muốn hùng cường phải biết vun đắp và sử dụng "nguyên khí" một cách đúng đắn. Bài học từ Vũ Như Tô vẫn còn nguyên giá trị: Đừng để tài hoa trở thành bi kịch chỉ vì thiếu đi sự thấu hiểu giữa người cầm quyền và người nghệ sĩ


(4,0 điểm) Đọc văn bản sau: [Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.] VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh. ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người. VŨ NHƯ TÔ –...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:

[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]

VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.

ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.

VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.

ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.

VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.

ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?

VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.

ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.

VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.

ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...

VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.

[…]

ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?

VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.

ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...

VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.

ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]

VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...

ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.

VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...

ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.

VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?

ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]

VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.

ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.

VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.

(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?

Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng. 

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?

16
14 tháng 11 2025

cáhch học giỏi

14 tháng 11 2025
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì? Sự việc chính trong văn bản là cuộc đối thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm [1]. Trong cuộc nói chuyện, Đan Thiềm khuyên Vũ Như Tô nên sử dụng tài năng của mình để xây Cửu Trùng Đài, bất chấp bối cảnh vua chúa hôn quân và sự khổ nhục mà ông đã trải qua [1]. Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng.
  • Chỉ dẫn sân khấu: Các cụm từ được đặt trong ngoặc đơn, in nghiêng (nếu có), ví dụ: (Chàng rơm rớm nước mắt.) và các từ đặt trước lời thoại để chỉ nhân vật đang nói, ví dụ: VŨ NHƯ TÔĐAN THIỀM [1].
  • Tác dụng:
    • Giúp người đọc hình dung được hành động, thái độ, và cảm xúc của nhân vật trong lúc nói chuyện, làm cho nội dung kịch trở nên sinh động và dễ hiểu hơn [1, 2].
    • Xác định rõ ràng người đang nói trong đoạn đối thoại, tránh nhầm lẫn [1].
    • Thể hiện rõ bối cảnh, trạng thái của nhân vật, ví dụ như Vũ Như Tô đang tiều tụy, đau khổ (Chàng rơm rớm nước mắt.), từ đó làm nổi bật bi kịch của người tài bị đối xử bất công [1].

Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm? Từ “đồng bệnh” ở đây cho thấy Đan Thiềm và Vũ Như Tô có một sự tương đồng sâu sắc trong cảnh ngộ [1]. Ý nghĩa của nó là:
  • Sự đồng cảm và thấu hiểu: Đan Thiềm, với nhan sắc của mình, cũng bị mắc kẹt trong chốn cung đình, bị giam cầm và lãng phí tuổi xuân. Nàng hiểu được nỗi đau khổ của người có tài năng bị chèn ép, không được "thi thố", giống như Vũ Như Tô [1].
  • Điểm tựa tinh thần: Sự thấu hiểu này giúp Đan Thiềm trở thành tri kỷ của Vũ Như Tô, là người duy nhất thực sự hiểu và chia sẻ nỗi đau với ông trong bối cảnh xung quanh toàn là kẻ thù và sự nghi kị [1].

Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.
  • Xung đột: Xung đột chính trong văn bản là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai nhân vật, mà cụ thể là xung đột giữa quan điểm của Vũ Như Tô và Đan Thiềm về việc sử dụng tài năng [1].
  • Ý nghĩa:
    • Vũ Như Tô: Ban đầu, ông từ chối xây đài vì không muốn tài năng của mình phục vụ cho một "bạo chúa" và trở thành "bia miệng cho người đời" [1].
    • Đan Thiềm: Nàng thuyết phục Vũ Như Tô phải "lợi dụng cơ hội" để xây nên một công trình vĩ đại, vì "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Ý nghĩa của xung đột: Xung đột này làm nổi bật bi kịch của người nghệ sĩ trong một xã hội không trọng tài năng, phải đứng trước sự lựa chọn giữa việc giữ gìn phẩm giá (không xây đài) và việc hiện thực hóa khát vọng nghệ thuật (xây đài) [1].

Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?
  • Quyết định ban đầu: Ban đầu, Vũ Như Tô kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài và thà chịu chết [1]. Ông cho rằng việc phục vụ "hôn quân", "bạo chúa" là một việc làm "ô uế" [1]. Ông cũng muốn "trả lại tài cho trời đất" vì cảm thấy tài năng không được trọng dụng [1].
  • Lí do thay đổi quyết định: Sau khi nghe Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô thay đổi vì:
    • Cái đẹp vĩnh hằng: Đan Thiềm đã giúp ông nhìn ra rằng những việc làm của hôn quân, cung nữ chỉ là "tiểu tiết" và rồi sẽ "mất đi" [1]. Còn "sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời" [1].
    • Khát vọng nghệ thuật: Lời khuyên của Đan Thiềm đã đánh thức khát vọng lớn lao nhất của một người nghệ sĩ: để lại một công trình kiến trúc vĩ đại cho hậu thế, làm cho "đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian" [1].
    • Tìm thấy tri âm: Đan Thiềm là người đầu tiên thực sự hiểu và trân trọng tài năng của Vũ Như Tô. Lời khuyên của nàng đã "khai" cho "cái óc u mê" của ông, giúp ông tìm thấy một lối thoát cho khát vọng nghệ thuật của mình [1].

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bản sắc văn hoá dân tộc chính là "hồn cốt", là những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, hun đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một quốc gia. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá lại càng trở nên cấp thiết và mang ý nghĩa sống còn. Khi thế giới trở nên "phẳng" và các nền văn hoá có sự giao thoa mạnh mẽ, nếu không giữ vững bản sắc, chúng ta rất dễ bị "hòa tan", đánh mất đi chính mình. Bản sắc dân tộc chính là "thẻ căn cước" để phân biệt dân tộc ta với các quốc gia khác, là "bộ lọc" thông minh giúp ta "hòa nhập mà không hòa tan". Khi có một nền tảng văn hoá vững chắc, ta mới đủ tự tin để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngoại lai, độc hại. Hơn nữa, đây còn là nguồn sức mạnh mềm, là niềm tự hào, là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai.

13 tháng 11 2025

Câu 2:

Nghệ thuật sinh ra là để làm đẹp cho tâm hồn con người, và mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong mình một sức hấp dẫn riêng biệt, một thông điệp thẩm mỹ sâu sắc. Trong vô vàn những tác phẩm đã từng đi qua tâm trí, bài hát "Để Mị nói cho mà nghe" của ca sĩ Hoàng Thùy Linh và nhóm sáng tác DTAP đã để lại trong tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ đến từ giai điệu bắt tai, mà còn ở cách "làm mới" những giá trị văn học truyền thống một cách đầy sáng tạo và nhân văn.


Ngay từ khi ra mắt, "Để Mị nói cho mà nghe" đã tạo nên một hiện tượng, và sức hút đầu tiên phải kể đến chính là âm nhạc. Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại Pop, World Music hiện đại với những âm hưởng dân gian đặc trưng của vùng núi Tây Bắc. Tiếng sáo, tiếng khèn được phối một cách nhịp nhàng trên nền nhạc điện tử sôi động, tạo nên một tổng thể vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Giai điệu bài hát cực kỳ bắt tai, thôi thúc người nghe phải nhún nhảy theo. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tác phẩm tiếp cận nhanh chóng và mạnh mẽ đến giới trẻ, những người luôn tìm kiếm sự mới mẻ trong âm nhạc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở âm nhạc, "Để Mị nói cho mà nghe" sẽ khó lòng tạo được sức sống lâu bền đến vậy. Giá trị lớn nhất và cũng là sức hấp dẫn cốt lõi của tác phẩm nằm ở phần nội dung và hình ảnh. Lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, bài hát không kể lại bi kịch của Mị, mà là "viết tiếp" một khao khát, một hành trình "giải phóng" cho Mị. Nhân vật Mị trong bài hát không còn cam chịu, thụ động nữa; cô đã dám cất lên tiếng nói của mình ("Để Mị nói cho mà nghe"), dám vứt bỏ những ràng buộc của hủ tục ("Bao nhiêu con trâu, con bò/ Đổi lại một bó mỡ, một con lợn/ Mị cũng không cần"), để được sống với khát khao tự do, được "đi chơi" trong đêm tình mùa xuân.

Không chỉ giải phóng cho Mị, video âm nhạc (MV) của bài hát còn xây dựng cả một "vũ trụ văn học" khi đưa vào hình ảnh của Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ... Tất cả họ đều được "Mị" kéo ra khỏi số phận bi thảm của mình để cùng hòa vào một lễ hội của niềm vui và sự tự do. Đây là một góc nhìn vô cùng hiện đại và nhân văn. Nó không phủ nhận hiện thực tàn khốc mà các nhà văn đã miêu tả, nhưng nó cho thấy một tinh thần lạc quan, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng.


Cuối cùng, sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" còn đến từ việc tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt. Toàn bộ MV là một bức tranh rực rỡ sắc màu của thổ cẩm, của những điệu múa, những phiên chợ vùng cao. Tác phẩm đã thành công trong việc đưa chất liệu dân gian vào nghệ thuật đương đại, khiến văn hoá truyền thống trở nên gần gũi, "thời thượng" hơn trong mắt người trẻ. Nó chứng minh rằng, văn hoá dân tộc là một kho báu vô tận cho sáng tạo, chỉ cần chúng ta biết cách khai thác.


Sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" là sự cộng hưởng của giai điệu hiện đại, nội dung nhân văn và những giá trị văn hoá sâu sắc. Tác phẩm đã thành công khi vừa đáp ứng thị hiếu của công chúng, vừa thực hiện được sứ mệnh của nghệ thuật: khơi gợi những cảm xúc đẹp và lan toả niềm tự hào về văn hoá dân tộc.

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:CHIẾC CHÌA KHOÁ VÀNG ĐỂ HỘI NHẬP Hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam qua thành công của Đức Phúc tại sân chơi quốc tế Intervision 2025. Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025 (Nguồn: FBNV) Intervision 2025 khép lại với ngôi vị quán quân thuộc về ca sĩ Đức Phúc − một trong những gương mặt...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau:

CHIẾC CHÌA KHOÁ VÀNG ĐỂ HỘI NHẬP

Hành trình xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam qua thành công của Đức Phúc tại sân chơi quốc tế Intervision 2025.

OLM, Đọc hiểu văn bản thông tin

Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025

 (Nguồn: FBNV)

Intervision 2025 khép lại với ngôi vị quán quân thuộc về ca sĩ Đức Phúc − một trong những gương mặt trẻ nổi bật của nhạc Việt. "Phù Đổng Thiên Vương" − ca khúc giúp anh toả sáng không phải một bản ballad ngọt ngào quen thuộc mà là một sáng tác mang đậm hơi thở văn hoá truyền thống Việt Nam với giai điệu lấy cảm hứng từ bài thơ "Tre Việt Nam" của nhà thơ Nguyễn Duy và truyền thuyết "Thánh Gióng".

Hoà quyện giữa phần nghe và nhìn, bài thi của đại diện Việt Nam được nhận xét là một trong những tiết mục dàn dựng phức tạp nhất tại chương trình: Trình diễn cùng vũ công, sử dụng các đạo cụ gồm nón lá, mô hình cây tre, cờ, màn hình LED dẫn người xem hiểu hơn về truyền thuyết với chi tiết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời,… Đặc biệt, tác phẩm đã bám sát tinh thần cuộc thi: Phát triển hợp tác văn hoá, nhân đạo quốc tế và thúc đẩy các giá trị truyền thống.

Trong nhiều năm, âm nhạc Việt trên thị trường quốc tế thường mang hơi hướng học hỏi, vay mượn từ K-pop, J-pop hay các dòng nhạc Âu − Mỹ. Điều này giúp nghệ sĩ bắt nhịp với xu hướng, nhưng đôi khi cũng làm mất đi dấu ấn riêng. Thành công của một số nghệ sĩ trẻ như Đức Phúc hay Hoà Minzy cho thấy khi quay về khai thác chất liệu di sản văn hoá có thể tạo nên một bản sắc độc đáo mà thế giới phải chú ý.

Intervision 2025 đã chứng minh rằng tiếng đàn bầu, điệu hò, tiếng trống hội,… khi được phối khí sáng tạo và đặt trong khung cảnh quốc tế, lại mang một sức sống mới, chạm đến trái tim khán giả toàn cầu. Nó giống như một cuộc đối thoại văn hoá với các nền âm nhạc khác, nơi âm nhạc trở thành một công cụ ngoại giao mềm, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

Thành công tại sự kiện này cũng là lời nhắc nhở sức mạnh của âm nhạc Việt nằm trong kho báu truyền thống từ dân ca, nhạc cụ, giai điệu vùng miền, đến trang phục, mỹ thuật,… Đây chính là "mỏ vàng" để khai thác sáng tạo cho phù hợp với thẩm mỹ toàn cầu. Khéo léo giữ tinh thần truyền thống nhưng đặt trong hình thức, nhịp điệu và phối khí hiện đại chính là hướng đi sáng tạo được một số nghệ sĩ trẻ Việt Nam lựa chọn và đã thành công trong việc thu hút khán giả quốc tế.

Nhìn ra thế giới, nhóm nhạc nổi tiếng BTS của Hàn Quốc từng đưa nhạc cụ và triết lý phương Đông vào các ca khúc, các nghệ sĩ Latinh biến điệu nhạc dân gian thành xu hướng toàn cầu… khẳng định chất liệu truyền thống chính là chiếc chìa khoá vàng để hội nhập. Không ngẫu nhiên âm nhạc được nhiều người gọi là "tấm hộ chiếu văn hoá", bởi nó không cần phiên dịch, không cần giải thích nhưng lại dễ chạm đến trái tim.

Trong thư chúc mừng gửi ca sĩ Đức Phúc và những người yêu âm nhạc, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, ca khúc "Phù Đổng Thiên Vương" kể lại câu chuyện về sức mạnh đoàn kết, bản lĩnh quật cường và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam. Từ thành công tại Intervision 2025, Thủ tướng mong đội ngũ văn nghệ sĩ tiếp tục phát huy tài năng, không ngừng sáng tạo, đóng góp tích cực cho nền âm nhạc nước nhà và quảng bá văn hoá Việt Nam ra thế giới.

Tuy nhiên, không thể mơ mộng quá nhanh về một thương hiệu V-pop toàn cầu chỉ sau một vài chiến thắng ở đấu trường quốc tế. Hội nhập là cả một chặng đường đòi hỏi sự chuẩn bị hệ thống cùng sự đầu tư bài bản. Nghệ sĩ cần được đào tạo về kỹ thuật, khơi dậy ý thức đang mang hình ảnh quốc gia trên vai. Người sáng tác cần đầu tư nhiều hơn cho việc kết hợp di sản với hơi thở đương đại, ngành công nghiệp âm nhạc cần có nguồn lực cùng chiến lược truyền thông quốc tế…

Phải khẳng định việc xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt vẫn còn là một hành trình dài đầy thử thách, nhưng đó cũng là giấc mơ đáng để các thế hệ nghệ sĩ và người làm văn hoá cùng theo đuổi.

(Theo Hà Anh, https://baoquocte.vn/chiec-chia-khoa-vang-de-hoi-nhap-328953.html)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Chỉ ra những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin.

Câu 2. Văn bản trên viết về vấn đề gì?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung văn bản với nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập".

Câu 5. Văn bản "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập" mang lại cho em những thông tin và nhận thức bổ ích gì? Hãy liệt kê 3 việc mà anh/chị có thể làm để góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập.

20
13 tháng 11 2025

Câu 1. Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin:

- Cung cấp thông tin khách quan, xác thực: Văn bản đưa tin về một sự kiện có thật (Đức Phúc đoạt quán quân Intervision 2025), nêu tên nhân vật cụ thể (Đức Phúc, Hoà Minzy, BTS, Thủ tướng Phạm Minh Chính), tác phẩm cụ thể ("Phù Đổng Thiên Vương", "Tre Việt Nam"), và bối cảnh cụ thể (cuộc thi Intervision 2025).

- Trình bày dữ liệu rõ ràng: Văn bản cung cấp chi tiết về bài thi (dàn dựng phức tạp, nón lá, cây tre, ngựa sắt), tinh thần cuộc thi (phát triển hợp tác văn hoá), và trích dẫn ý kiến (lời Thủ tướng Phạm Minh Chính).

- Nêu rõ nguồn tin: Văn bản có ghi rõ nguồn của hình ảnh "(Nguồn: FBNV)" và nguồn của bài viết "(Theo Hà Anh, https://baoquocte.vn...)", cho thấy tính chất của một bài báo, bản tin.

- Mục đích chính: Mục đích của văn bản là cung cấp thông tin cho người đọc về một sự kiện và bàn luận về ý nghĩa, tác động của sự kiện đó (vai trò của văn hoá truyền thống trong hội nhập).

13 tháng 11 2025

Câu 2. Vấn đề văn bản trên viết về:

Văn bản viết về thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025 và dùng sự kiện này làm dẫn chứng để bàn luận về một vấn đề lớn hơn: Vai trò và tầm quan trọng của việc khai thác các chất liệu di sản văn hoá truyền thống (bản sắc dân tộc) trong việc xây dựng thương hiệu âm nhạc Việt Nam (V-pop) và hội nhập quốc tế.

13 tháng 11 2025

Câu 1 (2 điểm):

Ước mơ là điều đẹp đẽ và cần có trong cuộc sống mỗi người. Hành trình theo đuổi ước mơ không bao giờ dễ dàng, vì luôn có thử thách và thất bại. Nhưng chính khó khăn lại giúp ta rèn luyện nghị lực, bản lĩnh và niềm tin. Giống như ngọn cỏ trong bài thơ của Lam – dù bị sâu ăn vẫn xanh rì – con người cũng cần kiên cường, không bỏ cuộc. Theo đuổi ước mơ là hành trình giúp ta trưởng thành, hiểu giá trị của nỗ lực và tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.


Câu 2 (4 điểm):

Bài thơ của Lam nói về sức sống kiên cường và ý nghĩa của niềm tin. Ngọn cỏ dù bị sâu ăn vẫn cố xanh rì, vì nó biết mình sống để làm gì. Hình ảnh ấy tượng trưng cho con người trong cuộc sống: dù tổn thương vẫn không buông bỏ. Tác giả dùng ngôn từ giản dị, giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu sắc, thể hiện triết lý sống tích cực: hãy mạnh mẽ vượt qua khó khăn để tiếp tục vươn lên và tỏa sáng giữa đời.

13 tháng 11 2025

Câu 1:

Bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều có những ước mơ, nhưng ước mơ sẽ mãi chỉ là "mộng tưởng" nếu không có một "hành trình" dũng cảm để biến nó thành hiện thực. Như tác giả Mộng Tuyết trong văn bản "Chơi Phú Quốc", bà đã biến "cảnh bấy lâu trong mộng tưởng" thành hiện thực bằng một chuyến đi, một hành trình thực thụ. Điều đó cho thấy, theo đuổi ước mơ không phải là việc ngồi chờ đợi, mà là hành động dấn thân, lên đường. Hành trình ấy có thể đòi hỏi 6 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển, hoặc thậm chí là 10 năm miệt mài học tập. Sẽ có những "sóng to gió lớn" hay những "khó khăn nguy hiểm" như cách đi thuyền buồm ngày xưa. Nhưng nếu ta dám vượt qua, dám hít thở "cái không khí thanh tân" của sự thử thách, phần thưởng ta nhận được sẽ vô cùng ngọt ngào. Đó là cảm giác "sung sướng, mạnh mẽ" khi chạm đến đích, là sự trưởng thành và những trải nghiệm "thanh kì" mà không gì thay thế được. Vì vậy, đừng chỉ mơ, hãy bắt đầu hành trình.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Còn thời cưỡi ngựa bắn cungCó hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.INDIRA GANDHI      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa:...
Đọc tiếp

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung

Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

INDIRA GANDHI

      Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi thích vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên, cô bé muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa: “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”. Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn là nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may.”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu: “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.". 

      Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

      Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng: “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta lạc đường không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

      Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, hãy trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

      Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu nằm bên khu chợ nhỏ xíu ở một thị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn buộc phải làm.

      Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha anh ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần với xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch, tốt cho sức khỏe và chất lượng hảo hạng.

      Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với mơ ước ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

      Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

      Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

      Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

      Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, nó giống như một tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người cho rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mại không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

      Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi nghe hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung,

Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun… bắn ruồi.”

       Âu cũng là lẽ thường tình vậy.

      Oprah Winfrey có nói: “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Chỉ có người ngốc nghếch mới tin rằng mình có thể giương cung được mãi.

      Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ông chỉ tập trung vào cái mình đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì thì tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

      Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) đều làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi là một thợ gốm học việc, ông vẫn tận tâm như vậy.

      Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra minh chứng trong văn bản thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho những ước mơ, nghề nghiệp trong cuộc sống. 

Câu 3. Chi tiết về Hosokawa Morihiro có ý nghĩa như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Em rút ra được những thông điệp nào từ văn bản? 

8
13 tháng 11 2025

Câu 1.

Kiểu loại của văn bản:
→ Văn bản “Còn thời cưỡi ngựa bắn cung” thuộc kiểu văn bản nghị luận (nghị luận xã hội), bàn về thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, danh tiếng và hạnh phúc trong cuộc sống.


Câu 2.

Minh chứng thể hiện cái nhìn sai lệch, phân biệt, gắn mác cho ước mơ – nghề nghiệp:

“Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!”
“Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con.”

→ Những lời nói này cho thấy định kiến xã hội: coi thường nghề bình thường (như thợ may), chỉ đề cao nghề danh giá, nổi tiếng.


Câu 3.

Ý nghĩa của chi tiết về Hosokawa Morihiro:
Câu chuyện về Hosokawa Morihiro – người từng là Thủ tướng Nhật Bản rồi trở thành nghệ nhân gốm chuyên tâm và hạnh phúc – thể hiện thông điệp rằng:
→ Dù ở vị trí nào, làm nghề gì, nếu con người chuyên tâm, yêu nghề và sống đúng với mình, thì đều đáng trân trọng.
→ Đồng thời, chi tiết này minh chứng cho luận điểm của tác giả: hạnh phúc không đến từ danh vọng mà đến từ sự tận tâm với công việc mình yêu thích.


Câu 4.

Nhận xét về cách dẫn dắt và lập luận của tác giả:

  • Cách dẫn dắt tự nhiên, gần gũi: Bắt đầu từ một câu chuyện đời thường (ước mơ làm thợ may của cô bé) rồi mở rộng dần đến vấn đề xã hội.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Tác giả sử dụng nhiều dẫn chứng thực tế, tiêu biểu (người bạn làm nông dân, Hosokawa Morihiro, Oprah Winfrey...) để minh họa cho quan điểm.
  • Giọng văn nhẹ nhàng, triết lý, giàu cảm xúc giúp người đọc suy ngẫm sâu về giá trị của lao động và hạnh phúc thật sự.

Câu 5.

Những thông điệp rút ra từ văn bản:

  • Không có ước mơ hay nghề nghiệp nào là tầm thường, chỉ có cách ta làm việc mới quyết định giá trị của nó.
  • Danh tiếng không phải mục tiêu cao nhất; điều quan trọng là được làm công việc mình yêu thích với sự chuyên tâm và tự hào.
  • Mọi người đều có vai trò riêng trong xã hội, hãy trân trọng, không phân biệt nghề nghiệp.
  • Hạnh phúc và thành công thật sự đến từ sự tận tâm và bình thản trong lao động.
13 tháng 11 2025

Câu 1. Xác định kiểu loại của văn bản.

Văn bản "Còn thời cưỡi ngựa bắn cung" thuộc kiểu loại văn bản nghị luận, bàn về quan niệm sống, về giá trị của ước mơ, nghề nghiệp và danh vọng.

13 tháng 11 2025

Câu 1.

Qua đoạn trích, nhân vật Vũ Như Tô hiện lên là một nghệ sĩ thiên tài mang bi kịch sâu sắc. Trước hết, ông là người có khí phách phi thường. Dù thân mang gông xiềng, đối diện "uy quyền" tuyệt đối của vua Lê Tương Dực, ông vẫn không hề sợ hãi ("tiện nhân không sợ chết"), dám đối đáp sòng phẳng, thậm chí chỉ trích cả nhà vua ("Hoàng thượng xử đãi như thế mà không biết ngượng sao?"). Song song đó là sự tự tin tột độ, kiêu hãnh về tài năng mà ông có được sau 20 năm khổ luyện: "phi Vũ Như Tô này, không ai làm nổi", "phần hồn thì chỉ ở lòng tiện nhân". Tuy nhiên, Vũ Như Tô không chỉ kiêu ngạo, ông còn có lý tưởng cao đẹp khi mượn cơ hội này để đòi vua phải "trọng đãi công ngang sĩ", "xin cho lũ hậu tiến", nâng cao vị thế người thợ. Bi kịch của ông cũng nảy sinh từ đây: vì quá khát khao sáng tạo một công trình vĩ đại "cùng với vũ trụ trường tồn" ("vì tiện nhân thì nhiều"), ông đã chấp nhận "cúc cung tận tụy" cho bạo chúa, thậm chí đòi quyền "chém bêu đầu". Đây chính là mâu thuẫn bi kịch giữa người nghệ sĩ tài hoa, có lý tưởng và một con người kiêu ngạo, xa rời thực tế, đặt nghệ thuật lên trên cả sinh mạng con người.

13 tháng 11 2025

Trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại, khi tri thức nhân loại được cập nhật mỗi ngày và sự cạnh tranh ngày một gay gắt, con người không thể giữ mãi một vị trí nếu không tự mình vận động. Giữa hàng tỷ người trên thế giới, để không bị bỏ lại phía sau, để tạo nên dấu ấn riêng và có một cuộc sống ý nghĩa, việc không ngừng "nâng cao giá trị bản thân" trở thành một hành trình tất yếu và vô cùng quan trọng.


Vậy, "giá trị bản thân" là gì? Đó không đơn thuần là địa vị xã hội hay sự giàu có về vật chất. Giá trị bản thân là tổ hợp của nhiều yếu tố: là tri thức, kỹ năng, là phẩm chất đạo đức, là sức khỏe thể chất và tinh thần, và là khả năng cống hiến những điều tốt đẹp cho cộng đồng. "Nâng cao giá trị bản thân" chính là quá trình rèn luyện, học hỏi không ngừng nghỉ để làm giàu thêm những yếu tố đó, để phiên bản của chúng ta ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua.


Ý nghĩa của việc này trước hết là đối với chính mỗi cá nhân. Khi ta đầu tư vào tri thức, ta có được "vũ khí" sắc bén nhất để bước vào đời. Khi ta rèn luyện kỹ năng, ta có trong tay công cụ để biến ý tưởng thành hiện thực, giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả. Một người có giá trị cao, có chuyên môn giỏi, có kỹ năng giao tiếp tốt và thái độ cầu thị, sẽ luôn là người mà mọi tổ chức, mọi tập thể mong muốn có được. Điều này mở ra cho chúng ta vô vàn cơ hội trong công việc và cuộc sống. Quan trọng hơn, quá trình tự nâng cấp bản thân mang lại cho ta sự tự tin, lòng tự trọng và sự độc lập. Ta không còn phải sống dựa dẫm hay chờ đợi sự ban phát cơ hội từ người khác, mà tự mình tạo ra cơ hội và làm chủ cuộc đời mình.


Không chỉ vậy, việc nâng cao giá trị bản thân còn mang ý nghĩa tích cực đối với xã hội. Một xã hội được tạo nên từ nhiều cá nhân. Khi mỗi cá nhân đều ý thức tự hoàn thiện, họ sẽ tạo nên một cộng đồng vững mạnh, một quốc gia phát triển. Một người bác sĩ không ngừng học hỏi kỹ thuật mới sẽ cứu được nhiều bệnh nhân hơn. Một người giáo viên liên tục đổi mới phương pháp sẽ truyền cảm hứng cho nhiều học trò hơn. Một người công nhân rèn luyện tay nghề sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng hơn. Chính sự nỗ lực của từng "viên gạch" nhỏ bé đã góp phần xây nên "tòa tháp" văn minh chung của nhân loại. Hơn nữa, những người có giá trị cao thường trở thành nguồn cảm hứng, lan tỏa năng lượng tích cực, thúc đẩy những người xung quanh cùng nhau phấn đấu.


Tuy nhiên, cần hiểu rằng nâng cao giá trị bản thân không phải là một cuộc chạy đua so bì, ganh ghét với người khác. Đó là một hành trình tự thân, so sánh với chính mình của ngày hôm qua. Đó cũng không phải là việc chỉ tập trung vào kiếm tiền hay danh vọng, mà bỏ quên việc bồi đắp tâm hồn, lòng nhân ái. Một người có giá trị thực sự là người cân bằng được giữa năng lực chuyên môn và phẩm hạnh đạo đức.


Việc nâng cao giá trị bản thân là một hành trình đầu tư không bao giờ lỗ vốn. Đó là con đường duy nhất để mỗi người khẳng định vị thế của mình, sống một cuộc đời ý nghĩa, tự do và hạnh phúc. Như viên kim cương chỉ trở nên lấp lánh sau hàng ngàn nhát mài giũa, con người cũng chỉ thực sự tỏa sáng khi không ngừng rèn luyện và tự hoàn thiện mình mỗi ngày.