I. ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
NGƯỜI BẠN MỚI
Buổi học hôm nay có chuyện “hay” quá! Vừa về đến nhà Tú khoe ngay với mẹ:
– Mẹ ơi! Lớp con có một thằng…
Mẹ ngẩng lên:
– Sao lại thằng?
Tú vẫn hớn hở:
– Vâng! Một thằng mới vào học mẹ ạ! Buồn cười lắm!
Mẹ nhìn em:
– Buồn cười làm sao?
– Hí hí! Nó mặc áo con gái, mẹ ạ!
Mẹ hỏi:
– Áo con gái thế nào?
Tú vừa cười vừa kể rằng: Cái “thằng ấy” mới xin chuyển về, vào lớp 5C của con, nó mặc cái quần ngắn ơi là ngắn và cái áo sơ mi ở trong chiếc áo len thì lại cổ lá sen. Kiểu cổ áo của con gái. Thế có buồn cười không?
– Cái thằng ấy, mẹ ạ…
Mẹ lắc đầu:
– Sao con cứ gọi bạn là thằng thế nhỉ? Nói chuyện với mẹ, với bố, con không được gọi bạn là thằng nọ thằng kia. Bạn ấy tốt hay xấu mà con lại gọi thế?
Tú lúng túng:
– Con… con cũng chưa biết ạ!
– Không biết một tí gì hết?
Tú ngần ngừ, rồi thưa:
– Nó nhát lắm mẹ ạ. Chúng con chê là mặc áo con gái, nó chỉ im lặng rồi đứng một mình thôi.
Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui. Mẹ nhìn em có ý trách:
– Hết gọi bạn là thằng, rồi lại gọi là nó. Sao con không gọi hẳn tên bạn ra hoặc là: bạn ấy, bạn con được nhỉ? Tên bạn ấy là gì?
– Là Nam. Phó Văn Nam mẹ ạ. Buồn cười quá cơ!
– Thế thì đến mai, con hãy chơi với Nam và hỏi sao Nam lại mặc áo con gái nhé!
Cậu Nam ấy, hóa ra là một học sinh giỏi. Ngay bài toán đầu tiên làm ở lớp mới, không cần phải hỏi bạn ngồi bên cạnh, không xem bài của ai, cậu ấy đã được hẳn mười điểm. Mà chữ viết nữa chứ, rất đẹp.
Tú làm quen và biết được rằng nhà Nam nghèo thôi. Đến cái ti vi, bố mẹ cậu ấy cũng không có tiền để mua. Nam phải chuyển trường đi theo bố mẹ, vì mãi đến bây giờ cơ quan mới chia nhà cho. Trước đây là đi ở nhờ. Bố mẹ Nam có hai con. Chị Nam là con gái, áo quần mặc chật từ lúc bé, có cái nào mẹ lại mặc cho Nam. Mặc ở nhà và mặc ở trong cũng được. Mẹ Nam bảo Nam là: bộ mặc ở ngoài thì cần phải đúng là của con trai. Lớn hơn nữa, thì thôi. Giờ còn bé thì mặc tạm. Mẹ sẽ dành tiền may cho Nam. Thương mẹ vất vả, nên Nam đã vâng lời. Tú nghe bạn kể mà thương bạn. Mặc áo thừa của chị, mà vẫn học giỏi, lại biết thương mẹ, chứ không đua đòi, thấy ai có cái gì cũng muốn có theo.
Ngay hôm đó, về nhà Tú khoe:
– Mẹ ơi! Bạn Nam ấy, hay lắm mẹ ạ!
Mẹ hỏi:
– Hay làm sao?
– Bạn ấy là học sinh giỏi và… ngoan, mẹ ạ!
Mẹ nhìn em. Ánh mắt mẹ cười vui…
(Phong Thu, Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng)
Câu 1. (0.5 điểm) Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 3. (1.0 điểm) Theo văn bản, vì sao nhân vật Nam mặc áo con gái?
Câu 4. (1.0 điểm) Tìm 1 từ ghép Hán Việt trong văn bản và giải thích nghĩa của từ đó.
Câu 5. (1.0 điểm) Nhận xét về nhân vật người mẹ trong văn bản trên.
Câu 6. (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 5 – 7 câu nêu suy nghĩ của em về bài học rút ra từ văn bản trên.
Nhận định "Xuân Quỳnh khai thác cảm xúc từ những điều gần gũi, bình dị, những kỷ niệm của chính mình để từ đó góp phần vào tình cảm 1 chung của thời đại" hoàn toàn đúng đắn khi nhìn vào "Tiếng gà trưa". Bài thơ bắt nguồn từ âm thanh quen thuộc của làng quê, khơi gợi kỷ niệm tuổi thơ và tình cảm gia đình ấm áp qua hình ảnh người bà tần tảo, đàn gà cục tác, quả trứng hồng. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc làm cho bài thơ dễ dàng chạm đến trái tim người đọc. "Tiếng gà trưa" không chỉ là kỷ niệm cá nhân của Xuân Quỳnh mà còn là kỷ niệm chung của nhiều người Việt Nam, gợi lên tình yêu quê hương, đất nước. Trong bối cảnh kháng chiến chống Mỹ, bài thơ khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở về giá trị truyền thống và tình cảm gia đình. Qua đó, "Tiếng gà trưa" minh chứng cho tài năng của Xuân Quỳnh trong việc biến những điều bình dị thành những vần thơ lay động lòng người, góp phần làm phong phú thêm nền thơ ca Việt Nam.
Bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh đã khai thác từ những hình ảnh rất đỗi thân thuộc, bình dị trong cuộc sống: tiếng gà cục tác, những kỷ niệm tuổi thơ nơi làng quê. Tiếng gà không chỉ là âm thanh thường ngày mà còn trở thành biểu tượng của ký ức, của sự ấm áp gia đình, và của tình yêu thương quê hương.
Xuân Quỳnh không dùng những từ ngữ hoa mỹ mà sử dụng những chi tiết đời thường, gần gũi. Qua đó, bà tạo nên một không gian cảm xúc chân thật mà ai đọc cũng cảm thấy đồng điệu. Hình ảnh bà ngoại chăm sóc đàn gà, những con gà con "lông vàng như nắng" không chỉ gợi lại ký ức tuổi thơ của riêng nhà thơ, mà còn khơi gợi những ký ức chung của bao thế hệ người Việt Nam.
Đặc biệt, từ những điều bình dị ấy, Xuân Quỳnh đã kết nối với tình cảm lớn lao của thời đại – tình yêu đất nước. Tiếng gà gợi nhớ quê hương, làm vững bền thêm ý chí chiến đấu và bảo vệ tổ quốc, khi hình ảnh quê nhà trở thành động lực tinh thần. Như vậy, thơ Xuân Quỳnh không chỉ phản ánh cảm xúc cá nhân, mà còn hòa mình vào dòng chảy tình cảm chung của dân tộc, tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc.
Từ bài thơ "Tiếng gà trưa", chúng ta càng hiểu rõ hơn cách Xuân Quỳnh khai thác cảm xúc từ những điều giản dị, riêng tư để làm bật lên tình cảm lớn lao và sức sống thời đại. Một sự kết nối tuyệt vời giữa cái "tôi" và cái "chúng ta."