K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

15 tháng 2 2025

a: Xét (\(O_1\)) có

ΔAEH nội tiếp

AH là đường kính

Do đó: ΔAEH vuông tại E

=>HE\(\perp\)AC tại E

Xét \(\left(O_2\right)\) có

ΔHFB nội tiếp

HB là đường kính

Do đó: ΔHFB vuông tại F

=>HF\(\perp\)CB tại F

Xét ΔCHA vuông tại H có HE là đường cao

nên \(CE\cdot CA=CH^2\left(1\right)\)

Xét ΔCHB vuông tại H có HF là đường cao

nên \(CF\cdot CB=CH^2\left(2\right)\)

Từ (1),(2) suy ra \(CE\cdot CA=CF\cdot CB\)

=>\(\dfrac{CE}{CB}=\dfrac{CF}{CA}\)

Xét ΔCEF và ΔCBA có

\(\dfrac{CE}{CB}=\dfrac{CF}{CA}\)

\(\widehat{ECF}\) chung

Do đó: ΔCEF~ΔCBA

=>\(\widehat{CEF}=\widehat{CBA}\)

mà \(\widehat{CEF}+\widehat{FEA}=180^0\)(hai góc kề bù)

nên \(\widehat{FEA}+\widehat{FBA}=180^0\)

=>AEFB là tứ giác nội tiếp

 

15 tháng 2 2025
  1. Tính số mol của Zn và Fe.
    • Khối lượng mol của Zn = 65,38 g/mol.
    • Khối lượng mol của Fe = 55,85 g/mol.

Số mol của Zn: n(Zn) = 0,93 g / 65,38 g/mol ≈ 0,0142 mol.

Số mol của Fe: n(Fe) = 0,93 g / 55,85 g/mol ≈ 0,0166 mol.

  1. Tính số mol H2SO4 trong dung dịch. Giả sử ta có 100 ml dung dịch H2SO4 9,8%. Khối lượng dung dịch = 100 g (giả định mật độ của dung dịch là 1 g/ml)
    Khối lượng H2SO4 trong 100 g dung dịch = 9,8 g.
    Số mol H2SO4:
    n(H2SO4) = 9,8 g / 98 g/mol ≈ 0,1 mol.
  2. Tính toán phản ứng. Phản ứng giữa Zn và H2SO4:
    Zn + H2SO4 → ZnSO4 + H2↑.

Phản ứng giữa Fe và H2SO4: Fe + H2SO4 → FeSO4 + H2↑.

Từ phương trình phản ứng, ta thấy rằng 1 mol Zn và 1 mol Fe cần 1 mol H2SO4. Tổng số mol H2SO4 cần cho cả Zn và Fe là: n(H2SO4 cần) = n(Zn) + n(Fe) = 0,0142 mol + 0,0166 mol = 0,0308 mol.

  1. So sánh số mol H2SO4 có và cần.
    Số mol H2SO4 có trong dung dịch là 0,1 mol, trong khi số mol H2SO4 cần chỉ là 0,0308 mol.

Vậy, số mol H2SO4 còn dư là: n(H2SO4 dư) = n(H2SO4 có) - n(H2SO4 cần) = 0,1 mol - 0,0308 mol = 0,0692 mol.

11 tháng 2

Ví dụ người có dáng thấp và hơi mập nên chọn áo tối màu, kiểu dáng đơn giản, sọc dọc nhỏ để tạo cảm giác cao hơn, quần hoặc váy cạp cao vừa phải để kéo dài chân, tránh mặc đồ quá rộng hoặc quá chật, tránh họa tiết to và ngang vì làm cơ thể trông thấp và to hơn


11 tháng 2

Các bước chuẩn bị máy may gồm kiểm tra tổng thể máy may xem có bụi bẩn, hư hỏng hay thiếu bộ phận không, vệ sinh sạch khu vực ổ chao, răng cưa và mặt bàn máy, tra dầu bôi trơn đúng vị trí theo hướng dẫn để máy hoạt động trơn tru, lắp kim may đúng loại phù hợp với chất liệu vải và siết chặt kim, lắp suốt chỉ dưới vào ổ chao đúng chiều quay, lắp chỉ trên theo đúng sơ đồ luồn chỉ của máy, điều chỉnh độ căng chỉ trên và chỉ dưới phù hợp, kiểm tra chân vịt và hạ chân vịt đúng vị trí, cắm điện và kiểm tra bàn đạp hoặc công tắc nguồn, chạy thử trên mảnh vải thừa để kiểm tra đường may trước khi may sản phẩm chính

15 tháng 2 2025

Olm chào em, cái này là môn tiếng Anh chứ em. Sao em lại đăng vào môn ngữ văn. Khi đăng câu hỏi trên cộng đồng Olm. Em vui lòng đăng đúng khối lớp để nhận sự trợ giúp tốt nhất từ Olm.

11 tháng 2

Theo em trang phục học đường cần kín đáo, lịch sự, phù hợp với lứa tuổi, màu sắc nhã nhặn, kiểu dáng đơn giản gọn gàng, tạo cảm giác thoải mái khi học tập và vận động, chất liệu thấm hút mồ hôi tốt, dễ giặt và bền, thể hiện được nét đẹp trong sáng và nề nếp của học sinh

11 tháng 2

Các bước thực hiện khi vận hành máy may gồm kiểm tra lại nguồn điện và vị trí đặt máy ổn định, chuẩn bị vải đúng kích thước và đặt vải ngay ngắn dưới chân vịt, hạ chân vịt để cố định vải, giữ nhẹ hai đầu chỉ khi bắt đầu may, đạp bàn đạp từ từ để máy chạy chậm rồi tăng dần tốc độ phù hợp, điều khiển vải thẳng theo đường may đã đánh dấu, kết thúc đường may thì giảm tốc độ và dừng máy, nâng kim lên vị trí cao nhất rồi nhấc chân vịt để lấy sản phẩm ra


Yêu cầu kĩ thuật gồm đường may thẳng đều đúng kích thước quy định, mũi may đều nhau không bỏ mũi không chồng mũi, độ căng chỉ phù hợp không nhăn vải không lỏng chỉ, mép vải được giữ đúng vị trí theo hướng dẫn, sản phẩm không bị bẩn hoặc rách trong quá trình may


Lưu ý khi vận hành gồm không đặt tay quá gần kim may để tránh tai nạn, không kéo hoặc đẩy vải mạnh làm gãy kim, tập trung quan sát đường may khi máy đang chạy, tắt nguồn khi thay kim hoặc vệ sinh máy, giữ khu vực làm việc gọn gàng an toàn


14 tháng 2 2025

Ok

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?- Cháu tên là Ngoan.- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!Mặt cậu...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ

 Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui vẻ, hỏi cậu:

- Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?

- Cháu tên là Ngoan.

- Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!

Mặt cậu bé rạng lên. Cậu nói:

- Cảm ơn cây.

- Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện hơn không? – Cây hỏi.

Cậu bé rùng mình, lắc đầu:

- Đau lắm, cháu chịu thôi!

- Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn?

Câu 1) Em hãy viết bài văn phân tích tác phẩm truyện

Câu 2) Từ văn bản và thực tế đời sống em hãy viết đoạn văn 200 chữ để bày tỏ suy nghĩ của em về cách ứng xử giữa người với người trong cuộc sống

2
11 tháng 2

Câu 1


Truyện Cậu bé và cây si già là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học sâu sắc về cách ứng xử và lòng trắc ẩn. Tác phẩm xây dựng tình huống đơn giản, một cậu bé khắc tên mình lên thân cây si già, hành động tưởng như vô hại nhưng lại gây đau đớn cho cây. Thông qua lời thoại giữa cây và cậu bé, ý nghĩa câu chuyện dần được bộc lộ.


Hình ảnh cây si già được nhân hóa, biết đau, biết nói, biết hỏi han nhẹ nhàng. Khi bị khắc lên thân mình, cây không trách móc gay gắt mà dùng lời lẽ ôn tồn để trò chuyện. Cách hỏi của cây vừa khéo léo vừa thấm thía, đặc biệt là câu hỏi vì sao cậu không khắc tên lên người mình. Chính câu hỏi ấy khiến cậu bé nhận ra sự vô lí trong hành động của mình.


Nhân vật cậu bé đại diện cho sự vô tư, thiếu suy nghĩ của con người khi gây tổn hại cho người khác hay cho thiên nhiên. Khi nghe cây hỏi, cậu rùng mình vì biết đau và sợ đau, từ đó hiểu ra rằng cây cũng có cảm giác như mình.


Truyện gửi gắm thông điệp hãy biết đặt mình vào vị trí của người khác trước khi hành động. Đừng làm điều mình không muốn người khác làm với mình. Qua cách kể giản dị, đối thoại ngắn gọn, tác phẩm để lại bài học đạo đức nhẹ nhàng mà sâu sắc về lòng nhân ái và sự tôn trọng.

11 tháng 2

Câu 2


Trong cuộc sống, cách ứng xử giữa người với người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Từ câu chuyện về cậu bé và cây si già, ta nhận ra rằng trước khi làm điều gì, mỗi người cần biết đặt mình vào vị trí của người khác. Khi ta không muốn bị tổn thương, bị xúc phạm hay bị đối xử thiếu tôn trọng thì cũng không nên làm điều đó với người khác.


Thực tế cho thấy có những lời nói vô tình có thể làm người khác buồn rất lâu, có những hành động thiếu suy nghĩ có thể gây ra tổn thương khó bù đắp. Nếu ai cũng biết suy nghĩ thấu đáo, biết lắng nghe và cảm thông, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng, chân thành và lòng nhân ái chính là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh.


Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cách ứng xử đúng mực, biết yêu thương, chia sẻ và cư xử có trách nhiệm. Khi ta trao đi sự tử tế, ta cũng sẽ nhận lại sự tử tế, đó là quy luật giản dị nhưng bền vững của cuộc sống.

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên. Bài đọc:     (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần...
Đọc tiếp

(2 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cô gái trong đoạn trích trên.

Bài đọc:

    (Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)

    (1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:

    - Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?

    Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.

    (2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.

(Trích Chuyện tình ở Thanh TrìLan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)

1

Trong "Chuyện tình ở Thanh Trì" tác giả đã khéo léo vẽ lên một bức tranh sinh động về cuộc sống và con người trong xã hội Việt Nam trước cách mạng, với những mâu thuẫn sâu sắc và bi kịch con người bị xã hội phong kiến kìm hãm. Câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật chính không chỉ là một cuộc đấu tranh tình cảm mà còn là sựu phản ánh chân thực về những định kiến, bất công và sự phân biệt giai cấp trong xã hội đương thời. Tình yêu của họ bị ràng buộc bởi những quy tắc khắt khe của gia đình, dòng tộc và xã hội, khiến họ không thê tự do sống thật với bản thân. Hình ảnh những con người trong tác phẩm, dù đầy khát vọng và ước mơ, lại phải gánh chịu những đớn đau khi tình yêu chân thành của họ không thể vượt qua được các chuẩn mực xã hội. Qua đó, ông tái hiện một xã hội đầy bất công, nơi mỗi cá nhân đều phải đánh đổi hạnh phúc cá nhân vì trách nhiệm và những quy ước phong kiến. Câu chuyện không chỉ là một bi kịch tình yêu mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ về một xã hội mà ở đó con người không thể lựa chọn hạnh phúc cho mình.