K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau.  Bài đọc: ​ Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây. PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy. ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi bít tất lụa...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật ông Giuốc-đanh trong đoạn trích sau. 

Bài đọc:

Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục

ÔNG GIUỐC-ĐANH – A ! Bác đã tới đấy à? Tôi sắp phát khùng lên vì bác đây.

PHÓ MAY – Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ phụ xúm lại bộ lễ phục của ngài đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đôi bít tất lụa bác gửi đến cho tôi chật quá, tôi khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được và đã đứt mất hai mắt rồi.

PHÓ MAY – Rồi nó dãn ra thì lại rộng quá ấy chứ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Phải, nếu tôi cứ làm đứt mãi các mắt thì sẽ rộng thật. Lại đôi giày bác bảo đóng cho tôi làm tôi đau chân ghê gớm.

PHÓ MAY – Thưa ngài, đâu có.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đâu có là thế nào!

PHÓ MAY – Không, đôi giày không làm ngài đau đâu mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi, tôi bảo là nó làm tôi đau.

PHÓ MAY – Ngài cứ tưởng tượng ra thế.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi tưởng tượng ra thế vì tôi thấy thế. Bác này lí luận hay nhỉ!

PHÓ MAY – Thưa, đây là bộ lễ phục đẹp nhất triều đình và may vừa mắt nhất. Sáng chế ra được một bộ lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen thật là tuyệt tác. Tôi thách các thợ giỏi nhất mà làm nổi đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi! 

PHÓ MAY – Nào ngài có bảo là ngài muốn may xuôi hoa đâu!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại cần phải bảo may hoa xuôi ư?

PHÓ MAY – Vâng, phải bảo chứ. Vì những người quý phái đều mặc như thế này cả. 

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Những người quý phái mặc áo ngược hoa ư?

PHÓ MAY – Thưa ngài, vâng.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ô! Thế thì bộ áo này may được đấy.

PHÓ MAY – Nếu ngài muốn thì tôi sẽ xin may hoa xuôi lại thôi mà.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Không, không.

PHÓ MAY – Xin ngài cứ việc bảo.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Tôi đã bảo không mà. Bác may thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc áo này có vừa vặn không?

PHÓ MAY – Còn phải nói! Tôi đố hoạ sĩ nào lấy bút mà vẽ hầu ngài bộ áo vừa khít hơn được. Ở nhà tôi có một chú thợ phụ may quần cộc thì tài nhất thiên hạ; và một chủ khác là anh hùng của thời đại về may áo chẽn đấy.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Bộ tóc giả và lông đính mũ có được chững chạc không?

PHÓ MAY – Chững chạc tuổi!

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nhìn áo của bác phó may) – Ô kìa, bác phó! Vải này là thứ hàng tôi đưa bác may bộ lễ phục trước của tôi đây mà. Tôi nhận ra đúng nó rồi.

PHÓ MAY – Chẳng là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã gạn lại một áo để mặc.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Đành là đẹp, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi mới phải.

PHÓ MAY – Mời ngài mặc thử bộ lễ phục chứ ạ?

ÔNG GIUỐC-DANH – Ừ, đưa đây tôi.

PHÓ MAY – Khoan đã, không thể mặc như thế được. Thứ áo này phải mặc đúng thể thức, tôi có đem người đến để mặc hầu ngài theo nhịp điệu. Ớ này ! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ lễ phục này hầu ngài theo cách thức mặc cho các nhà quý phái. 

(Bốn chú thợ phụ ra, hai chú cởi tuột quần cộc của ông Giuốc-đanh mặc lúc tập kiếm vừa rồi, hai chú thì lột áo ngắn rồi họ mặc bộ lễ phục mới vào cho ông. Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục xong, đi đi lại lại giữa đám thợ, phô áo mới cho họ xem có được không. Cởi áo, mặc áo, chân bước, miệng nói, tất cả đều theo nhịp của dàn nhạc.)

THỢ PHỤ – Bẩm ông lớn, xin ông lớn ban cho anh em ít tiền uống rượu.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Anh gọi ta là gì?

THỢ PHỤ – Bẩm, ông lớn ạ.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Ông lớn ư? Ấy đấy, ăn mặc theo lối quý phái thì thế đấy! Còn cứ bo bo giữ kiểu áo quần trưởng giả thì đời nào được gọi là "ông lớn". Đây, ta thưởng về tiếng "ông lớn" đây này!

THỢ PHỤ – Bẩm cụ lớn, anh em chúng tôi đội ơn cụ lớn lắm lắm.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – "Cụ lớn", ồ, ồ, cụ lớn! Chú mày thong thả tí đã. Cái tiếng "cụ lớn" đáng thưởng lắm. "Cụ lớn" không phải là một tiếng tầm thường đâu nhé. Này, cụ lớn thưởng cho các chú đây.

THỢ PHỤ – Dám bẩm đức ông, anh em chúng tôi sẽ đi uống rượu chúc sức khoẻ đức ông.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – Lại "đức ông" nữa! Hà hà! Hà hà! Các chú hãy đợi tí, đừng đi vội. Ta là đức ông kia mà! (nói riêng) Của đáng tội, nếu nó tôn ta lên bậc tướng công, thì nó sẽ được cả túi tiền mất. Đây nữa này, thưởng cho chú về tiếng "đức ông" đấy nhé.

THỢ PHỤ – Dạ, bẩm đức ông, anh em chúng tôi xin bái tạ ơn người.

ÔNG GIUỐC-ĐANH – (nói riêng) – Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả tiền cho nó thôi.

(Bốn người thợ phụ vui mừng nhảy múa.)

(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang, trong Tuyển tập kịch Mô-li-e, NXB Sân khấu, Hà Nội, 1994)

Tóm tắt: Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trích trong vở kịch 5 hồi Trưởng giả học làm sang (1670) và là lớp kịch kết thúc hồi II. Nhân vật trung tâm của vở kịch là ông Giuốc-đanh, tuổi ngoài bốn mươi, con một nhà buôn giàu có. Tuy dốt nát, quê kệch, nhưng ông muốn học đòi làm sang. Nhiều kẻ lợi dụng tính cách đó, săn đón, nịnh hót ông để moi tiền. Ông không tán thành tình yêu của con gái là Luy-xin với chàng Clê-ông chỉ vì chàng chẳng phải là quý tộc. Cuối cùng, nhờ mưu mẹo của Cô-vi-en, là đầy tớ của mình, Clê-ông cải trang làm hoàng tử Thổ Nhĩ Kì đến hỏi Luy-xin làm vợ và được ông Giuốc-đanh ưng thuận.

0

Đề thi đánh giá năng lực

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ đặc điểm của nhân vật thần thoại trong văn bản sau: THẦN MƯA    Thần Mưa là vị thần hình Rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi....
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ đặc điểm của nhân vật thần thoại trong văn bản sau:

THẦN MƯA

   Thần Mưa là vị thần hình Rồng, thường bay xuống hạ giới hút nước biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước ở các nơi. Thần Mưa có tính hay quên, có vùng cả năm không đến, sinh ra hạn hán ở hạ giới, có vùng lại đến luôn, làm thành lụt lội. Do đó mà có lần ở hạ giới phải lên kiện trời vì Thần Mưa vắng mặt lâu ngày. Công việc phân phối nước cho khắp mặt đất rất nặng nề, một mình thần Mưa có khi không làm hết, nên có lần Trời mở một cuộc thi chọn các giống thủy tộc có tài trở thành Rồng hút nước phun mưa giúp sức thần Mưa. Cuộc thi Rồng đó, Trời đã chọn lấy địa điểm ở cửa Vũ (Vũ Môn) thuộc Hà Tĩnh ngày nay. Do đó mà trong dân gian đã có câu hát về việc cá gáy hóa Rồng: Mồng ba cá đi ăn thề, Mồng bốn cá về cá vượt Vũ Môn.

   Khi trời đất mới sinh, chính Trời phải làm mưa cho dân sự làm ăn. Sau vì khó nhọc quá, Trời không làm lấy mưa nữa. Trời mới sai Rồng lấy nước phun xuống làm ra mưa. Nhưng vì số Rồng trên trời ít, không đủ làm mưa cho điều hòa khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kỳ thi kén các vật lên làm Rồng gọi là thi Rồng. Khi chiếu Trời ban xuống dưới Thuỷ phủ, vua Thuỷ Tề loan báo cho các giống dưới nước ganh đua mà dự thi. Trời cắt một viên Ngự sử ra sát hạch. Hạch có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng, con vật nào đủ sức đủ tài, vượt được cả ba đợt, thì mới lấy đỗ mà cho hóa Rồng. Trong một tháng trời, bao nhiêu loài Thủy tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt qua được cả ba đợt sóng. Sau có con cá rô nhảy qua được một đợt thì bị rơi ngay, nên chỉ có một điểm. Có con tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi đã gần hóa Rồng, thì đến lượt thứ ba, đuối sức ngã bổ xuống, lưng cong khoăm lại và chất thải lộn lên đầu. Hai con cùng phải trở lại yên nghiệp ở đồng như trước. Đến lượt cá chép vào thi, thì gió thổi ào ào, mây kéo đầy trời, chép vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng, vào lọt cửa Vũ Môn. Cá chép đỗ, vây, đuôi, râu, sừng tự nhiên mọc đủ, dáng bộ oai nghi, cá chép hóa Rồng phun nước làm ra mưa.

(Trích Quyển ba: Thần thoại (Việt Nam - Trung Hoa)Tuyển tập văn chương nhi đồng, Doãn Quốc Sĩ, NXB Sáng Tạo, 1970, tr. 32 - 33)​

9
23 tháng 1

Trong văn bản Thần Mưa, nhân vật Thần Mưa được xây dựng mang đậm màu sắc thần thoại, kì ảo và gắn bó mật thiết với đời sống con người. Thần Mưa có hình dạng Rồng, có khả năng hút nước từ sông biển rồi phun lên trời tạo thành mưa, giúp cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu. Điều đó cho thấy Thần là biểu tượng của sức mạnh thiên nhiên và ước mơ chinh phục tự nhiên của con người xưa. Thần Mưa làm việc theo lệnh Trời, thể hiện vai trò trung gian giữa trời và hạ giới. Tuy nhiên, Thần cũng có những hạn chế như hay quên, phân phối nước không đều, gây ra hạn hán hoặc lũ lụt. Chi tiết này khiến nhân vật trở nên gần gũi, mang dáng dấp con người. Trước công việc nặng nề, Thần Mưa cần có sự trợ giúp của các loài thủy tộc, qua đó thể hiện tinh thần hợp tác. Nhìn chung, Thần Mưa vừa mang quyền năng siêu nhiên, vừa phản ánh suy nghĩ, niềm tin và khát vọng về cuộc sống no đủ, ấm no của nhân dân.

Nhân vật Thần Mưa trong văn bản là hình tượng tiêu biểu phản ánh cách nhìn và ước mơ của con người thời cổ đại về thiên nhiên và cuộc sống. Thần Mưa dc miêu tả mang hình dáng loài Rồng - loài vật linh thiêng, tượng trưng cho sức mạnh siêu nhiên và quyền năng của trời đất. Công việc của Thần là bay xuống hạ giới hút nước sông, nước biển rồi bay lên trời phun nước làm mưa, đem lại nguồn nước cho con người sinh hoạt, tưới tắm cây cối, giúp mùa màng sinh trưởng. Qua đó, Thần Mưa hiện lên là vị thần có vai trò vô cùng quan trọng, gắn bó mật thiết với đời sống lao động nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước. Tuy nhiên, Thần Mưa không phải là nhân vật toàn năng. Do tính hay quên và sức lực có hạn, Thần không thể làm mưa đều khắp mọi nơi, dẫn tới tình trạng nơi thì hạn hán kéo dài, nơi lại lũ lụt triền miên. Chi tiết Trời phải mở cuộc thi chọn các giống Thuỷ tộc hoá Rồng để giúp thần Mưa cho thấy nhận thức ngây thơ nhưng giàu trí tưởng tượng của người xưa về sự vận hành của tự nhiên. Đặc biệt, hình ảnh cá chép vượt qua ba đợt sóng để hoá Rồng thể hiện ước mơ về sự nỗ lực, vượt khó và khát vọng vươn lên trong cuộc sống. Nhìn chung, nhân vật Thần Mưa vừa mang quyền lực siêu năng, vừa thể hiện niềm tin, ước mong của con người về cuộc sống no đủ, mưa thuận gió hoà.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về nhân vật Dương Lễ trong đoạn trích sau. Bài đọc: Dương Lễ: - Ta nghe bác Lưu Bình đã chiếm bảng khôi khoa Nàng Châu Long đâu chẳng thấy lại nhà Việc tin tức nàng đà không rõ. Châu Long: - Bẩm lạy quan thiếp đã về hầu Dương Lễ: Ta nghe bác Lưu Bình đã chiếm bảng khôi khoa, sao nàng không ở bên ấy cho được hiển vinh,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về nhân vật Dương Lễ trong đoạn trích sau.

Bài đọc:

Dương Lễ: - Ta nghe bác Lưu Bình đã chiếm bảng khôi khoa

Nàng Châu Long đâu chẳng thấy lại nhà

Việc tin tức nàng đà không rõ.

Châu Long: - Bẩm lạy quan thiếp đã về hầu

Dương Lễ: Ta nghe bác Lưu Bình đã chiếm bảng khôi khoa, sao nàng không ở bên ấy cho được hiển vinh, còn về chi chốn chồng chung vợ chạ.

Châu Long: - Bẩm lạy quan chẳng thương thời chớ

Tấm lòng ngay tôi ở với quỷ thần

Chàng ngờ vực, thiếp biết nói làm sao được

Dương Lễ: - Ơ này em, anh cợt miệng nói chơi,

Tấm lòng nàng anh đây đã biết

Giữ một lòng thủ tiết trung trinh

Hầu đâu, vào nhà trong lấy ba lạng vàng ra đây, để ta thưởng cô mày, gọi là của chồng công vợ. Ba lạng vàng này gọi là một chút đền ơn. (Với hầu) Ta cho con vóc hồng một tấm, ngân tử đôi thoi.

Con đưa sang làm lễ hạ ngơi

Mời quan bác sang chơi

Kẻo quan tôi còn đương mắc bận

Xem quan có điều gì buồn bã thì liệu lời mà nói giải ra nhá!

(...)

(Lược một đoạnDương Lễ sai tiểu đồng mang lễ sang mừng Lưu Bình nhưng Lưu Bình đã toan trả lễ. Tiểu đồng biết Lưu Bình đang phiền lòng chuyện không thấy vợ nên đã kể về việc thấy tiên bay về trời ở quán Nghinh Hương - nơi Lưu Bình gặp Châu Long. Sau đó, dưới sự thuyết phục của người hầu, Lưu Bình đã nhận lễ và sang nhà Dương Lễ chơi.)

Tiểu đồng: - Bẩm quan: Có quan tân khoa sang chơi ạ.

Dương Lễ: - Xuất môn tương tiếp

Bái tạ nhân huynh

Xin thỉnh lại tư dinh

Sẽ cùng nhau đàm đạo

(Lưu Bình không trả lời, hai người cùng ngồi)

(...)

Dương Lễ: - Thưa với quan bác,

Tạm trà tô một chén giải lao

Rồi ta sẽ cùng nhau đàm đạo

(Hai người lặng lẽ uống nước)

- Tiểu đồng, bãi trà!

Dạ thưa quan bác

Đường công danh anh ta đã đành làm vậy

Còn đường thê thiếp quan bác được mấy phòng hầu

Đường tử túc được mấy anh nhiêu cùng chỉ ả.

Lưu Bình: - Bác hỏi em, em càng thêm tủi.

Ba năm trước, em sang qua cửa bác

Trở ra về đến quán Nghinh Hương

Gặp một người nhan sắc phi thường

Đem vàng đến giúp công đăng hỏa

Vì nàng ấy nên em mới khá

Ba năm trường tuyết sạch giá trong

Khi em đi thi, nàng còn ngóng trông chừng

Em thi đỗ về, nàng đã ruồng bỏ

(...)

Dương Lễ: - Tiểu đồng! Cho con vào trong nhà mời cô ba ra chuốc rượu mừng mặt quan tân khoa giải sầu đây.

Tiểu đồng: - Dạ! Mời cô ba ra ông đòi.

Châu Long: (Hát từ trong)

Đố ai chưa được rượu tăm

Chừa ăn thuốc chín, chừa nằm chung hơi

Có tôi chừa được mà thôi

Chừa ăn thuốc chín, chung chơi cũng chừa.

(Nói) - Dạ, em có cơi trầu ra mời quan bác

Lưu Bình: (Sụp lạy) Trăm lạy anh, lượng bể khôn dò

Nghìn lạy chị nuôi em khó nhọc

Ba năm ròng em chăm việc học

Nên không biết rằng:

Là vàng của anh, công của chị giúp cho

Khen ai khéo tạc bể hồ

Bao nhiêu cá cả xô về một mạn

(Trích Lưu Bình - Dương Lễ, in trong Tuyển tập chèo cổ, NXB Sân khấu, 1999)

Tóm tắt: Vở chèo kể về hai người bạn là Lưu Bình và Dương Lễ. Dương Lễ đỗ Trạng nguyên, làm quan, còn Lưu Bình thi trượt, sống nghèo khổ. Khi gặp khó khăn, Lưu Bình tìm đến Dương Lễ nhưng bị bạn đối xử lạnh nhạt. Thực tế, Dương Lễ đã nhờ vợ ba của mình là Châu Long đến giúp đỡ bạn. Châu Long mang tiền cùng sự gửi gắm của Dương Lễ để giúp Lưu Bình chuyên tâm học hành và chăm sóc anh suốt ba năm. Sau đó, Lưu Bình đỗ Trạng nguyên. Khi trở về, anh không thấy Châu Long nên đã rất buồn khổ. Đến khi gặp Dương Lễ, anh mới hiểu rõ sự tình và biết về tấm lòng của bạn.

0
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về nhân vật Thị Phương trong đoạn trích sau. Bài đọc: GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ) (Trích chèo Trương Viên) Mụ: - Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng. Thị Phương: (Nói sử) - Mẹ ơi, Con trông bên đông có...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về nhân vật Thị Phương trong đoạn trích sau.

Bài đọc:

GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ)

(Trích chèo Trương Viên)

Mụ: - Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng.

Thị Phương: (Nói sử) - Mẹ ơi,

Con trông bên đông có lửa

Mẹ ngồi đây, con thử vào coi

Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ: (Ra) - Động ta đây nghiêm chỉnh sắp bày

Ủa kìa người họa phúc tới đây

Sai chúng quỷ ra vây bắt lấy

(Xưng danh) Mỗ bạch yêu tinh

Chiếm cao san nhất động

Ngày ngày thường bắt người nuốt sống

Đêm thời đón khách nhai gan

Lộc thiên trù đưa đến tự nhiên

Nay được bữa no say... cha chả!

Này người kia,

Sơn lâm rừng vắng

Đỉnh thượng non cao

Chốn hang sâu sao dám tìm vào

Đi đâu đó, kìa con, nọ mẹ?

Thị Phương: - Trình lạy ông thương đoái

Mẹ con tôi đói khát lắm thay

Xẩy nhà lạc bước đến đây

Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ: - Không khiến kêu van kể lể

Ta quyết nhai tuổi, nuốt sống không tha

Quỷ cái: (Ra) - Chàng ăn thịt gì cho thiếp tôi ăn với!

Quỷ: - Ta ăn thịt Thị Phương.

(Lược một đoạn: Quỷ nói chuyện với Quỷ cái. Thương cho Thị Phương, Quỷ cái nhận Thị Phương là em kết nghĩa để nàng không bị ăn thịt. Quỷ cái còn cho Thị Phương năm lạng vàng để nàng đem về nuôi mẹ.)

Thị Phương: (Quay ra) - Mẹ thức hay ngủ mẹ ơi!

Mụ: - Con vào đấy có được tí gì không?

Thị Phương: - Thưa mẹ, con vào đó, quỷ đông đòi ăn thịt.

Mụ: - Ăn cơm với thịt đông à?

Thị Phương: - Quỷ đông đòi ăn thịt con, mẹ ạ. Quỷ cái ra can rồi lại cho vàng.

Mụ: (Cầm vàng) - Ở hiền rồi lại gặp lành (hát sắp)

Gặp vợ chú quỷ cho thanh tre già

(Nói sử) Ới con ơi,

Mẹ cảm thương thân mẹ

Mẹ lại ngại thân con (Hát văn)

Như dao cắt ruột mẹ ra

Trăm sầu, nghìn thảm chất đà nên con!

(Nói) - Con ơi, trời còn sớm hay đã tối mà con cứ dắt mẹ đi mãi thế này?

Thị Phương: - Trình lạy mẹ,

Vầng ô đã lặn

Vắng vẻ cửa nhà

Mẹ con ta vào gốc cây đa

Nằm nghỉ tạm qua đêm sẽ liệu (ngồi nghỉ).

Thần rừng (Hổ): (Ra) - Ra oai hùm gầm kêu ba tiếng

Phóng hào quang chuyển động phong lôi

Xa chẳng tỏ, nhảy lại ngó coi

Giống chi chi như thể hình người

Đi đâu đó? - Kìa con, nọ mẹ

Muốn sống thời ai chịu cho ai

Vào nộp mệnh cho ta nhai một.

Thị Phương: - Trăm lạy ông,

Nhẽ ngày hôm qua một tận không còn

Tôi kêu trời khấn đất đã vang

Qua nạn ấy, nạn này lại phải

Ơn ông vạn bội

Ông ăn thịt một, còn một ông tha

Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng.

Mụ: (Nói sử) - Trình lạy ông

Con tôi còn trẻ

Công sinh thành, ông để tôi đền

Ông ăn thịt tôi, ông tha cháu nó.

Thị Phương: - Thưa mẹ, mẹ để con chịu cho.

Mụ: - Ới con ơi, con còn trẻ người non dạ, để mẹ chịu cho.

Thần rừng (Hổ): - Nhẽ ra thời ăn thịt cả không tha

Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là

Tha cho đó an toàn tính mệnh.

(Trích Trương Viên, in trong Tuyển tập chèo cổ, Hà Văn Cầu, NXB Sân khấu, 1999)

Tóm tắt đoạn trích: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng mạng mình để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con.

3

Trong đoạn trích chèo Trương Viên, nhân vật Thị Phương hiện lên là một hình tượng phụ nữ lý tưởng, đại diện cho những phẩm chất cao quý nhất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Thị Phương không chỉ là một người vợ thủy chung mà trước hết còn là một người con dâu hết lòng hiếu thảo, luôn đặt sự an nguy của mẹ chồng lên trên tính mạng bản thân khi đối mặt với hiểm nguy nơi rừng sâu. Lời khẩn cầu "Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng" khi đối diện với Hổ dữ đã chạm đến đỉnh điểm của đức hy sinh, cho thấy nàng sẵn sàng dâng hiến mạng sống để bảo vệ mẹ. Hành động này không chỉ là bổn phận mà còn xuất phát từ tình cảm chân thành, sâu sắc của một người con dâu đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm trời ròng rã. Tấm lòng tiết nghĩa của nàng lớn lao đến mức khiến ngay cả Thần rừng vốn tàn bạo cũng phải cảm động mà quyết định tha mạng cho cả hai mẹ con. Hình tượng Thị Phương chính là một bài ca bất hủ về lòng hiếu thảo, giúp thế hệ trẻ hôm nay nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của tình yêu thương và trách nhiệm đạo đức đối với đấng sinh thành.


4 tháng 2

Kịch bản sân khấu, đặc biệt là các loại hình truyền thống như chèo và tuồng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa dân tộc Việt Nam. Kịch bản chèo thường mang tính trữ tình, dân gian, kết hợp lời thoại mộc mạc với làn điệu hát quen thuộc để phản ánh cuộc sống và phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. Trong khi đó, kịch bản tuồng lại trang trọng, ước lệ, xây dựng những xung đột lớn nhằm ca ngợi lòng trung nghĩa, khí phách và đạo lý làm người. Thông qua ngôn ngữ, hành động và âm nhạc, kịch bản sân khấu không chỉ tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật mà còn góp phần gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc


Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Chi-hon trong đoạn trích sau: Hãy chăm sóc mẹ      Ngay sau khi được tin mẹ bị lạc, cô bực tức hỏi mọi người trong gia đình sao không có ai ra ga tàu điện ngầm Seoul đón bố mẹ.      “Còn cô đã ở đâu?”      “Tôi ư?” Cô mím chặt môi. Tận bốn ngày sau khi mẹ bị lạc cô mới biết tin. Mọi người...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Chi-hon trong đoạn trích sau:

Hãy chăm sóc mẹ

     Ngay sau khi được tin mẹ bị lạc, cô bực tức hỏi mọi người trong gia đình sao không có ai ra ga tàu điện ngầm Seoul đón bố mẹ.

     “Còn cô đã ở đâu?”

     “Tôi ư?” Cô mím chặt môi. Tận bốn ngày sau khi mẹ bị lạc cô mới biết tin. Mọi người trong gia đình cô đổ lỗi cho nhau về chuyện mẹ bị lạc nhưng ai cũng cảm thấy day dứt trong lòng.

     Rời khỏi nhà anh cả, cô bắt tàu điện ngầm về nhà nhưng rồi lại xuống ở ga Seoul, nơi mẹ biến mất. Trong nhà ga người đông như nêm, họ chen lấn va quệt vào cô khi cô tìm đường đi tới chỗ mẹ bị lạc. Chắc mẹ cô cũng bị lạc trong tình trạng hỗn loạn như thế này. Mọi người xô đẩy cô khi cô đứng tại nơi mẹ đã tuột mất bàn tay bố. Không ai nói một lời xin lỗi. Có lẽ mọi người đã ào ạt đi qua như thế trong khi mẹ cô đứng đấy, không biết phải làm gì.

     Người ta có thể lật lại hồi ức được bao xa? Hồi ức về mẹ thì sao?

     Từ khi nghe tin mẹ bị lạc đến tận bây giờ, cô không thể tập trung suy nghĩ được gì. Những ký ức cô đã quên lãng từ lâu bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi ân hận cứ bám theo từng ký ức. Cô nhớ lại nhiều năm về trước, mấy ngày trước khi cô rời thị trấn quê nhà lên thành phố, mẹ dẫn cô ra cửa hàng quần áo ngoài chợ. Cô muốn chọn một chiếc váy trơn nhưng mẹ lại chọn cho cô một chiếc váy xếp nếp có đai và đường diềm.

     “Cái này thế nào?” mẹ cô hỏi.

     “Không,” cô nói rồi gạt đi.

     “Tại sao? Con cứ mặc thử đi.”

     Mẹ lúc đó còn trẻ, mở to mắt ngạc nhiên không hiểu. Chiếc váy xếp nếp ấy tương phản hoàn toàn với chiếc khăn cũ kỹ lem nhem mẹ đội trên đầu như hai thế giới tách biệt không ăn nhập gì với nhau.

     “Trông trẻ con quá.”

     “Thật sao?” Mẹ cô nói nhưng vẫn cầm chiếc váy ngắm nghía mãi không nỡ rời. “Nếu là con thì mẹ đã thử cái váy này,” mẹ cô lẩm bẩm.

     Thấy mẹ có vẻ hơi buồn khi cô cho rằng kiểu váy đó trẻ con, cô nói, “Cái này có phải kiểu mẹ hay mặc đâu.”

     Mẹ nói, “Không, mẹ thích kiểu này, chỉ có điều mẹ thì không mặc được.”

     “Mình lẽ ra nên mặc thử cái váy đó”, cô thầm nghĩ. Cô khuỵu chân ngồi xuống có lẽ đúng chỗ mẹ cô đã từng ngồi. Vài ngày sau khi nhất quyết đòi mua váy trơn, cô đã đến chính sân ga tàu điện ngầm Seoul này cùng mẹ. Mẹ nắm chặt tay cô, bước đi giữa biển người với phong thái có thể đe dọa cả những tòa nhà lừng lững đang từ trên cao nhìn thẳng xuống, rồi băng qua quảng trường và đợi anh cả dưới chân tháp đồng hồ. Sao một con người như vậy có thể bị lạc? Khi ánh đèn từ con tàu đang vào ga vừa rọi tới, mọi người đổ xô lại, liếc xéo qua chỗ cô ngồi cứ như thể họ đang bực bội vì cô cứ ngồi trên lối đi.

     Lúc mẹ bị xô tuột khỏi tay bố, cô đang cùng đồng nghiệp tham dự triển lãm sách tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Lúc mẹ cô bị lạc ở ga tàu điện ngầm Seoul, cô đang cầm trên tay bản dịch tiếng Trung cuốn sách của cô tại một quầy sách ở triển lãm. Cô tự hỏi tại sao bố không đi taxi mà lại đi tàu điện ngầm chứ? Chỉ cần bố không đi tàu điện ngầm thì chắc đã không xảy ra chuyện này.

     Bố cô nói ông đã nghĩ tại sao phải đi taxi khi ga tàu hỏa cũng nối liền với ga tàu điện ngầm? Có những khoảnh khắc mà người ta thường suy ngẫm lại sau khi có việc gì đó xảy ra, nhất là sau khi chuyện không may xảy ra. Khoảnh khắc mà người đó nghĩ, “Lẽ ra mình không nên làm vậy”. Khi bố cô nói với cả nhà rằng bố mẹ có thể tự tìm đến nhà anh Hyong-chol, tại sao khác với những lần trước anh chị em cô lại để bố mẹ làm thế? Bình thường mỗi lần bố mẹ lên thành phố thăm các con, trong số anh em cô vẫn có người ra ga xe lửa hay ga tàu điện ngầm Seoul đón họ. Điều gì khiến bố cô, vốn luôn dùng xe của nhà hoặc đi taxi mỗi lần lên thành phố, quyết định đi tàu điện ngầm vào cái ngày định mệnh ấy? Khi tàu điện đến, bố mẹ vội vã chạy lại. Nhưng lúc bố lên tàu, nhìn lại phía sau thì đã không thấy mẹ đâu. Đó là một buổi chiều thứ Bảy đông đúc. Mẹ lạc bố giữa đám đông, đoàn tàu lăn bánh khi mẹ hoàn toàn mất phương hướng.

     (...)

     Bố cô xuống ở bến kế tiếp và quay lại ga tàu điện ngầm Seoul nhưng mẹ cô đã không còn ở đó.

     “Dù không bắt được tàu nhưng sao có thể quên được đường cơ chứ? Bảng hướng dẫn ở đâu cũng có. Mẹ biết dùng điện thoại công cộng, chỉ cần đến bốt điện thoại là có thể gọi được mà.” Chị dâu cô một mực cho rằng chắc chắn đã có chuyện gì đó xảy ra với mẹ, rằng thật khó hiểu khi mẹ không thể tìm thấy nhà anh cả chỉ vì không lên đúng chuyến tàu điện ngầm như bố. Có điều gì đã xảy ra với mẹ ư? Đó là suy nghĩ của những người muốn nghĩ mẹ là một bà già quê mùa.

     Khi cô nói, “Có thể mẹ đã bị lạc đường chứ chị,” thì chị dâu cô tròn mắt ngạc nhiên. “Chị biết dạo này mẹ thế nào rồi đấy,” cô giải thích nhưng chị dâu làm ra vẻ không hiểu cô đang nói gì. Nhưng thực ra cả gia đình đều biết tình trạng của mẹ dạo này. Có thể cô sẽ không tìm được mẹ.

(Shin Kyung Sook (2022), Hãy chăm sóc mẹ, Lý Hiệp Lâm – Lê Nguyễn Lê dịch, NXB Hà Nội, trang 13, 14.)

12

Trong đoạn trích Hãy chăm sóc mẹ, nhân vật Chi-hon trải qua nhiều biến đổi tâm lý sâu sắc khi biết tin mẹ bị lạc. Ban đầu, cô rơi vào trạng thái bàng hoàng, bức xúc và tự trách bản thân vì đã không quan tâm, chăm sóc mẹ chu đáo. Sự lo lắng, hoang mang khiến Chi-hon vội vã đi tìm mẹ giữa dòng người đông đúc, thể hiện tình yêu thương và trách nhiệm đối với đấng sinh thành. Khi hồi tưởng lại quá khứ, những kỉ niệm giản dị về mẹ bất chợt ùa về, khơi dậy trong cô nỗi ân hận và day dứt vì từng thờ ơ với tình cảm của mẹ. Cô nhận ra mình đã vô tâm, chỉ biết đến cuộc sống riêng mà quên đi sự hi sinh thầm lặng của mẹ. Từ lo lắng, sợ hãi đến hối hận và thức tỉnh, tâm lý Chi-hon cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: mỗi người con cần biết yêu thương, trân trọng và chăm sóc cha mẹ khi còn có thể, để không phải sống trong nuối tiếc muộn màng.

23 tháng 1

Trong đoạn trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam đã khắc họa nhân vật Tâm với vẻ đẹp giản dị, giàu tình thương và đức hi sinh. Tâm từng được đi học, có ước mơ và tương lai, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cô sớm rời bỏ sách vở để gánh vác trách nhiệm gia đình. Hằng ngày, Tâm gánh hàng ra chợ trong giá lạnh, mưa rét, buôn bán vất vả để kiếm sống, nuôi mẹ già và các em nhỏ. Dù cuộc sống thiếu thốn, cô vẫn luôn nghĩ cho người khác, từ việc dành quà cho em đến sự quan tâm, lo lắng cho mẹ. Hình ảnh Tâm thu xếp hàng hóa, nhẫn nại chịu đựng mệt nhọc cho thấy phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Khi trở về nhà, được mẹ và các em yêu thương, Tâm cảm thấy hạnh phúc, quên đi mọi vất vả. Qua nhân vật Tâm, Thạch Lam bày tỏ niềm trân trọng đối với những con người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đồng thời gợi lên sự cảm thông sâu sắc với số phận của họ trong xã hội cũ.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén (Thạch Lam) sau:     Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén (Thạch Lam) sau:

    Cô Tâm bớt mệt hẳn đi khi nhìn thấy cây đa và cái quán gạch lộ ra trong sương mù. Cùng một lúc, dãy tre đầu làng gần hẳn lại, cành tre nghiêng ngả dưới gió thổi và nghe thấy tiếng lá rào rào và tiếng thân tre cót két. Cô sắp về đến nhà rồi, gánh hàng trên vai nhẹ đi, và những cái uốn cong của đòn gánh bây giờ nhịp với chân cô bước mau. Cô thấy chắc dạ và ấm cúng trong lòng, bỏ hẳn nỗi lo sợ từ nãy vẫn quanh quẩn trong trí khi cô qua quãng đồng rộng, trơ gốc rạ dưới gió bấc vi vút từng cơn.

     Qua cái cổng gạch cũ, cô vào hẳn trong làng. Ngõ tối hơn, đất mấp mô vì trâu bước, nhưng cô thuộc đường lối lắm. Chân cô dẫm lên lá tre khô và tai nghe tiếng xao xác đã quen; mùi bèo ở dưới ao và mùi rạ ướt đưa lên ẩm ướt. Ði ngang các nhà quen, cô thấy ánh sáng đèn chiếu qua rào, và tiếng những người quen thuộc ở trong đưa ra.

    Cô Tâm lại nghĩ đến mình, mẹ già đang mong đợi và các em đang nóng ruột vì quà. Gói kẹo bỏng cô đã gói cẩn thận để ở dưới thúng, mỗi đứa sẽ được hai cái. Chắc hẳn chúng sẽ vui mừng lắm.

    [...] Tâm đã bước xa rồi, hàng tre vi vút thêm, trời lại lấm tấm mưa lạnh rơi xuống mặt. Cô đi qua nhà bà cụ Nhiêu rồi về đến ngõ. Cánh cửa gỗ chưa đóng. Cô xoay đầu đòn gánh đẩy cửa rồi bước vào. Tất cả cái tối tăm rét mướt, và cánh đồng hoang vắng cô để lại ở ngoài. Ðây là nhà rồi. Mùi phân trâu nồng ấm sặc ngay vào cổ; thoáng qua, cô nghe tiếng chân trâu đập trong chuồng. Con vá thấy động sủa lên, rồi chạy lại vấp vào chân quấn quít. Trong nhà mấy đứa em reo:

    – A, á. Chị Tâm đã về.

    Tâm mỉm cười xoa đầu em. Cô sung sướng vì thấy mẹ săn sóc, các em mến yêu. Bao nhiêu nỗi mệt nhọc cô thấy tiêu tán cả. Những lúc này khiến cô quên hết cả bao nhiêu nỗi e ngại khó khăn. Cô thấy vui vẻ và nẩy nở trong thâm tâm những ý muốn tốt đẹp cho gia đình. Bà Tú lại âu yếm giục:

     – Con ăn cơm đi, không đói. Thôi, hãy để đấy rồi bảo con sen nó cất cho có được không.

    Tâm đáp: "vâng"; nhưng cô vẫn chưa lại ngồi ăn ngay. Cô còn thu xếp hàng đã; hai cái hộp gỗ vuông đựng các thức hàng, và những gói buộc kỹ trong thúng. Tất cả vốn liếng quý báu, bởi nhờ nó, cô kiếm lời nuôi các em, giúp đỡ cha mẹ từ ngày trong nhà sút đi và ông Tú ở trên tỉnh dọn về đã ba bốn năm nay rồi. Ruộng nương chỉ còn hơn mẫu, cấy đủ thóc ăn, và căn nhà gạch cũ này là nhà thờ, chung cả họ. Ông Tú độ mắt kém cũng thôi không dạy học nữa.

    Bữa cơm ngon lành quá, Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và thương mến của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp ba ở trường làng. Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách, để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ. Buôn bán bây giờ mỗi ngày một chật vật, bởi cô vốn ít. Tất cả gánh hàng của Tâm chỉ đáng giá hai chục bạc.

    Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm.

    [...]

(Thạch Lam, Cô hàng xén, NXB Văn học, 2014, tr.171 – 187)

14

Nhân vật cô Tâm trong truyện ngắn Cô hàng xén của Thạch Lam để lại ấn tượng sâu sắc bởi vẻ đẹp bình dị, giàu đức hi sinh của người phụ nữ nông thôn. Tâm hiện lên trong cảnh trở về làng quen thuộc, giữa những hình ảnh thân thương như hàng tre, mùi rạ ướt, ánh đèn nhà dân, tạo cảm giác ấm áp và bình yên. Tuy cuộc sống còn nhiều vất vả, gánh hàng nặng trĩu và buôn bán chẳng lời lãi bao nhiêu, nhưng cô luôn âm thầm chịu đựng để lo cho mẹ già và các em nhỏ. Ở Tâm toát lên tấm lòng yêu thương gia đình sâu nặng, sự đảm đang và tinh thần trách nhiệm đáng trân trọng. Niềm vui của cô rất giản dị: là được về nhà, thấy mẹ khỏe, em ngoan và cả nhà quây quần bên mâm cơm nghèo mà ấm áp. Qua nhân vật cô Tâm, Thạch Lam không tạo nên những bi kịch dữ dội mà nhẹ nhàng khắc họa vẻ đẹp thầm lặng của con người lao động nghèo, từ đó thể hiện sự cảm thông, trân trọng đối với những số phận nhỏ bé nhưng giàu tình yêu thương trong xã hội xưa.


23 tháng 1

Trong đoạn trích truyện ngắn Cô hàng xén, Thạch Lam đã khắc họa nhân vật Tâm với vẻ đẹp giản dị, giàu tình thương và đức hi sinh. Tâm từng được đi học, có ước mơ và tương lai, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, cô sớm rời bỏ sách vở để gánh vác trách nhiệm gia đình. Hằng ngày, Tâm gánh hàng ra chợ trong giá lạnh, mưa rét, buôn bán vất vả để kiếm sống, nuôi mẹ già và các em nhỏ. Dù cuộc sống thiếu thốn, cô vẫn luôn nghĩ cho người khác, từ việc dành quà cho em đến sự quan tâm, lo lắng cho mẹ. Hình ảnh Tâm thu xếp hàng hóa, nhẫn nại chịu đựng mệt nhọc cho thấy phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ nông thôn. Khi trở về nhà, được mẹ và các em yêu thương, Tâm cảm thấy hạnh phúc, quên đi mọi vất vả. Qua nhân vật Tâm, Thạch Lam bày tỏ niềm trân trọng đối với những con người lao động nghèo nhưng giàu lòng nhân ái, đồng thời gợi lên sự cảm thông sâu sắc với số phận của họ trong xã hội cũ.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng dòng sông Hương trong đoạn văn sau. [...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng dòng sông Hương trong đoạn văn sau.

[...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại. Thế kỉ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sâu sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hoá của nó. “Các trung tâm lớn của chúng ta về lịch sử, văn hoá, học thuật và về chính quyền rất nhiều. Phải hiểu rằng Huế là một thành phố kết hợp tất cả những cái đó, giống như các thành phố Luân Đôn, Pa-ri và Béc-lin... Một số trong các di sản đó đã bị phá huỷ lúc Thành Nội Huế bị ném bom. Không thể so sánh sự mất mát này với sự mất mát của một viện bảo tàng hay một thư viện ở Mỹ. Sự phá huỷ những di sản này cũng có tính chất giống như sự mất mát xảy ra đối với nền văn minh châu Âu khi một số công trình của nền văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại bị đổ nát vì các nhà thờ bị phá hoại”. Đó là sự đánh giá đầy phẫn nộ của chính người Mỹ, Ra-pha-en Li-tao-ơ, Noóc-man U-phốp và nhóm giáo sư Đại học Coóc-nen, trong một tác phẩm khoa học đầy mùi thuốc nổ và hoá chất độc mang tên Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương.

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông?, NXB Thuận Hóa, Huế, 2002)

9
23 tháng 1

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa sông Hương không chỉ là một dòng sông thiên nhiên mà còn là chứng nhân lịch sử gắn bó sâu sắc với vận mệnh dân tộc. Từ thời các vua Hùng, sông Hương đã mang trong mình sứ mệnh bảo vệ biên cương đất nước, trở thành dòng sông biên thùy thiêng liêng. Qua các thời kì trung đại, cận đại và hiện đại, con sông vẫn lặng lẽ đồng hành cùng Huế, soi bóng kinh thành, chứng kiến những cuộc khởi nghĩa, những biến động dữ dội của lịch sử. Đặc biệt, trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, sông Hương gắn liền với những mất mát, đau thương khi nhiều di sản văn hóa bị tàn phá, để lại nỗi xót xa sâu sắc. Bằng lối viết giàu tri thức, kết hợp giữa cảm xúc trữ tình và suy ngẫm lịch sử, tác giả đã biến sông Hương thành biểu tượng của truyền thống, của lòng yêu nước và tinh thần kiên cường. Qua đó, hình tượng sông Hương hiện lên như linh hồn của xứ Huế, mang vẻ đẹp bền bỉ, trầm lắng và đầy tự hào dân tộc.

26 tháng 1

Trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hình tượng sông Hương hiện lên không chỉ như một dòng sông thiên nhiên mà còn là nhân chứng lịch sử gắn liền với vận mệnh dân tộc. Sông Hương đã sống cùng những thế kỉ vinh quang của đất nước, từ buổi đầu là dòng sông biên thuỳ xa xôi thời các vua Hùng, đến khi mang tên Linh Giang trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, giữ vai trò bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ Quốc. Dòng sông ấy còn soi bóng kinh thành Phú Xuân, chứng kiến hào khí của thời đại Nguyễn Huệ và những trang lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với các cuộc khởi nghĩa đẫm máu. Không dừng lại ở đó, sông Hương tiếp tục bước vào thời đại Cách mạng tháng Tám và nỗi đau mất mát trong mùa xuân Mậu Thân. Qua cái nhìn sâu sắc ,giàu tri thức và cảm xúc của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương trở thành biểu tượng cho chiều sâu lịch sử, văn hoá và tinh thần bất khuất của Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:     Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:

    Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.

(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân toàn tập, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

12
23 tháng 1

Con sông Đà trong đoạn trích hiện lên vừa hung bạo vừa nên thơ, mang vẻ đẹp vừa dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc vừa trữ tình, vừa giàu chất sử thi. Nguyễn Tuân miêu tả những khúc sông thác đá bằng loạt hình ảnh mạnh mẽ: “bọt nước lềnh đênh”, “hòn đá thác xa xôi”, “đòi dập lên mặt sông” — tất cả tạo nên một không gian âm thanh, chuyển động mãnh liệt. Đồng thời, những chi tiết như “cỏ gianh đồi núi”, “mấy lá ngô non” và tiếng cá đập nước lại đem đến chiều sâu thơ mộng, chất hoang dại mà dịu dàng. Nghệ thuật hiện ra qua biện pháp nhân hóa, so sánh và liệt kê khiến con sông như một nhân vật sống động, có tâm trạng, có tính cách: lúc dữ như kẻ thù, lúc hiền như cổ tích. Giọng văn Nguyễn Tuân pha trộn giữa ngợi ca và trầm ngâm, nhịp câu linh hoạt, giàu nhạc điệu, giúp người đọc vừa sửng sốt trước vẻ hùng vĩ, vừa xao xuyến trước nét duyên của sông. Qua đó, sông Đà không chỉ là cảnh vật mà còn phản chiếu tâm hồn, thẩm mỹ và niềm say mê nghệ thuật của nhà văn, đồng thời khắc họa mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên hùng vĩ.

26 tháng 1

Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời say mê đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, và sông Đà trong Người lái đò sông Đà chính là một phát hiện rất riêng của ông. Ở đoạn trích này, con sông không hiện lên dữ dội mà mang vẻ đẹp trữ tình, êm đềm và đầy chất thơ. Con thuyền trôi chậm giữa khoảng sông " lặng tờ", gợi cảm giác thời gian như ngưng lại từ " đời Trần đời Lê ". Cảnh ven sông hoang sơ,tinh khiết với nương ngô non, cỏ xanh, sương đêm và đàn hươu hiền lành khiến bờ sông mang dáng dấp của một thế giới cổ xưa, vừa " tiền sử" vừa như cổ tích. Giữa không gian tĩnh lặng ấy, một tiếng còi tàu được mong chờ càng làm nổi bật nỗi khát khao giao hoà giữa con người và cuộc sống. Những chuyển động nhẹ như đàn cá quẫy nước ngọt, bọt nước lăn tăn khiến dòng sông thêm sống động mà vẫn dịu dàng. Sông Đà lúc này giống như một" người tình nhân chưa quen biết",kín đáo, sâu lắng,gợi nhiều thương nhớ. Trong nhịp trôi chậm rãi của con thuyền, người đọc như cảm nhận được nhịp thở êm đềm của núi rừng Tây Bắc và cả tình yêu thầm lặng mà Nguyễn Tuân dành cho dòng sông mình say mê. Sông Đà vì thế đi vào trang văn không ồn ào, không phô bày, mà ở lại rất lâu trong lòng người đọc bằng vẻ đẹp dịu dàng và sâu lắng.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:      Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,      Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,          Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.      Buổi chiến trận mạng người như rác,      Phận đã đành đạn lạc tên rơi,          Lập lòe...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích sau:

     Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

     Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,

         Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

     Buổi chiến trận mạng người như rác,

     Phận đã đành đạn lạc tên rơi,

         Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

     Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,

     Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

         Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

     Sống đã chịu một đời phiền não,

     Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

         Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

     Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

     Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

     Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

                                  (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1))

Chú thích: 

Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812).

86
23 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh đã thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo và tinh thần nhân văn cao cả của Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh trong xã hội. Qua những câu thơ giàu sức gợi, tác giả khắc họa hình ảnh những con người nghèo khổ, bị cuốn vào chiến tranh, loạn lạc, mất mát cả mạng sống lẫn tương lai. Họ là những người lính chết nơi chiến địa, những kẻ tha hương, những phụ nữ chịu nhiều đau khổ, những con người sống trong cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa. Bằng sự cảm thông sâu sắc, Nguyễn Du đã cất lên tiếng khóc xót thương cho những kiếp người bị lãng quên. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biện pháp so sánh, ẩn dụ, liệt kê kết hợp với giọng điệu ai oán, thống thiết, tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Nhịp thơ chậm, buồn, góp phần thể hiện không khí tang thương, đau xót. Qua đó, tác phẩm không chỉ là lời cầu siêu cho các linh hồn mà còn là bản cáo trạng đối với xã hội phong kiến bất công, đồng thời khẳng định giá trị nhân đạo bền vững trong sáng tác của Nguyễn Du.

26 tháng 1

Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một trong những phần thể hiện rõ nhất tấm lòng nhân đạo mà sâu sắc của nhà thơ. Qua việc nhắc đến nhiều hạng người khác nhau như kẻ bị bắt đi lính, người phụ nữ lỡ làng, kẻ hành khất lang thang đầu đường xó chợ, Nguyễn Du đã khắc họa một bức tranh đầy ám ảnh về những kiếp người sống trong đau khổ, chết trong cô đơn và tủi phận. Dù số phận mỗi người khác nhau, họ đều chung cảnh đời lầm than, bị chiến tranh áp bức, đói nghèo và xã hội tàn nhẫn xô đẩy đến bước đường cùng. Nỗi thương cảm của Nguyễn Du không dừng ở sự xót xa mà còn là nỗi trăn trở âm thầm , dai dẳng về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ với " phận đàn bà" đầy cay đắng. Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi lối liệt kê liên tiếp, hình ảnh chân thực, giàu sức gợi, ngôn ngữ Nôm gần với đời sống. Giọng điệu văn tế chậm buồn, ai oán khiến nỗi đau của các linh hồn như thấm sâu vào lòng người đọc. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ viết cho người đã khuất mà còn lay động mạnh mẽ lương tri của người đang sống.

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau: - Về thôi nàng ơi Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió Cô đơn giữa mây trời? - Thế để đâu những lời Ta đã hẹn với người ta thương nhớ? - Người ấy chẳng bao giờ về nữa Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao Đất nước qua trăm trận binh đao Lở bồi,...
Đọc tiếp

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về hình tượng "nàng Vọng Phu" trong bài thơ sau:

- Về thôi nàng ơi
Niềm sum họp đã vào từng cánh cửa
Sao nàng còn đứng trong mưa, trong gió
Cô đơn giữa mây trời?

- Thế để đâu những lời
Ta đã hẹn với người ta thương nhớ?

- Người ấy chẳng bao giờ về nữa
Mấy ngàn năm ngắn ngủi lắm sao
Đất nước qua trăm trận binh đao
Lở bồi, dâu bể...

- Người đời biết thân ta hoá đá
Nhưng hay đâu ta hoá đá niềm tin
Hoá đá nỗi cô đơn
Và thời gian chờ đợi!

- Nhưng nàng chẳng thể nào đợi nổi
Ngày người ấy trở về
Chẳng ai hiểu bằng ta điều đó
Chẳng ai hiểu bằng ta nỗi khổ
Của người vợ chờ chồng...

Ta hoá đá đợi triệu lần nỗi đợi
Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong.

(Trò chuyện với nàng Vọng Phu, Vương Trọng, Thơ tình người lính, NXB Phụ nữ, Hà Nội, tr.257 - 258)

89
23 tháng 1

Trong đoạn thơ, hình tượng nàng Vọng Phu hiện lên như biểu tượng cảm động cho lòng chung thủy và đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam. Nàng đứng chờ chồng giữa mưa gió, mây trời, trong cô đơn và khắc khoải, mang theo nỗi nhớ thương khôn nguôi. Thời gian trôi qua, chiến tranh, loạn lạc khiến người ra đi không bao giờ trở lại, nhưng nàng vẫn một lòng son sắt, không từ bỏ niềm tin. Sự chờ đợi bền bỉ ấy dần hóa thành bi kịch khi nàng “hóa đá”, không chỉ là hóa thân về thể xác mà còn là sự hóa thân của nỗi đau, của niềm tin và khát vọng đoàn tụ. Qua đó, tác giả khắc họa nỗi cô đơn, tủi cực và thiệt thòi của người vợ có chồng ra trận. Đồng thời, hình tượng nàng Vọng Phu còn phản ánh những mất mát to lớn do chiến tranh gây ra, để lại bao cảnh chia lìa, dang dở. Bằng giọng thơ da diết, xúc động, tác giả bày tỏ sự cảm thông sâu sắc và trân trọng đối với số phận, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong quá khứ và hôm nay.

26 tháng 1

Hình tượng nàng Vọng Phu trong bài thơ Vọng Phu của Chế Lan Viên hiện lên đầy ám ảnh,mang vẻ đẹp bi thương mà cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong nỗi chờ đợi chiến miên. Nàng đứng " trong mưa trong gió" , cô độc giữa không gian mênh mông của trời đất, gợi lên dáng hình nhỏ bé nhưng bền bỉ trước sự khắc nghiệt của thời gian và lịch sử. Bi kịch của nàng không chỉ là người chồng " chẳng bao giờ về nữa" ,mà còn là sự tan vỡ của lời hẹn ước trước những " binh đao, dâu bể ". Đặc biệt hình ảnh nàng " hoá đá " không đơn thuần là sự hóa thân thể xác, mà là sự hóa thân của niềm tin, của nỗi cô đơn và của năm tháng chờ mong vô tận. Nàng chấp nhận hoá đá để giữ trọn lòng thuỷ chung, để gánh chịu nỗi đau thay cho bao người vợ trong suốt chiều dài lịch sử. Qua đó, Chế Lan Viên đã nâng nàng Vọng Phu từ một số phận cá nhân thành biểu tượng sâu nhân văn sâu sắc về đức hi sinh và lòng chung thuỷ bất tử của người phụ nữ.