(4 điểm) Đọc văn bản sau:
Lớp VIII
Nội giám - Tâu Hoàng thượng, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản xin vào bệ kiến.
LÊ TƯƠNG DỰC (cau mặt) - Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp? (nghĩ một lúc) Cho vào.
(Nội giám ra.)
TRỊNH DUY SẢN (quỳ xuống) - Vạn tuế.
LÊ TƯƠNG DỰC - Cho bình thân. Ngươi tìm trẫm chắc vì có việc quân quốc.
TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng, quả có thế.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã phó mặc việc nhớn việc nhỏ cho triều đình, ngươi chắc cũng đã biết. Trẫm còn bận việc Cửu Trùng Đài...
TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng làm vua một nước, phải để ý đến mọi việc, phó thác làm sao cho triều đình được. Hoàng thượng không nên quá tin ở các quan. Họ nói rằng thiên hạ thái bình, thực ra phải nói: thiên hạ sắp loạn.
LÊ TƯƠNG DỰC - Vì cớ sao?
TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên bãi ngay việc xây Cửu Trùng Đài.
KIM PHƯỢNG - Bãi Cửu Trùng Đài!
TRỊNH DUY SẢN - Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn loạn lạc. Hoàng thượng là bậc thanh minh, xin nghĩ lại.
LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi hãy lui ra, trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai nữa, lui ra.
TRỊNH DUY SẢN (nói to) - Hạ thần chỉ lo cho cơ nghiệp nhà Lê, cho Hoàng thượng, nên mới nói thật. Loạn đến nơi rồi!
LÊ TƯƠNG DỰC - Lại mấy đám giặc cỏ chứ gì?
TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng không biết rõ. Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm đã sai tướng đi đánh dẹp.
TRỊNH DUY SẢN - Còn một đám giặc nữa, dân chúng theo có hàng vạn người, thanh thế lừng lẫy...
LÊ TƯƠNG DỰC - Lũ Trần Cao chứ gì?
TRỊNH DUY SẢN - Tâu Hoàng thượng chính vậy. Trần Cao thấy sấm nổi ở phương đông có thiên tử khí, cùng đồ đảng đánh lấy đất Thụy Dương, Đông Triều, tự xưng là Đế Thích giáng sinh, nghiễm nhiên lập một triều đình riêng trong đất Việt... Hiện đã kéo quân đến Đế đô, chực hãm kinh thành.
LÊ TƯƠNG DỰC - Trẫm phải đợi đến ngươi tâu bầy, thì dễ lũ sương cuồng Trần Cao đã làm cỏ kinh thành. Ngươi cứ yên tâm. Trẫm đã sai An Hòa hầu Nguyễn Hoàng Du sang đóng quân ở Bồ Đề chống giữ, giặc đã chạy về Châu Sơn. Kinh thành này vững như bàn thạch.
TRỊNH DUY SẢN - Đã đủ đâu, còn các nơi?
LÊ TƯƠNG DỰC - Dẹp xong cả.
TRỊNH DUY SẢN - Cũng không hết. Dẹp bọn này, bọn khác lại nổi như đầu Phạm Nhan, bệnh nặng phải trừ từ rễ. Giặc giã nổi lên vì dân gian oán triều đình. Chính sự đổ nát...
KIM PHƯỢNG - Nguyên Quận công ăn nói lạ lùng!
LÊ TƯƠNG DỰC - Ngươi không nể mặt trẫm sao? Người trung thần không ai nói thế. Trẫm rộng lượng, vua khác thì ngươi đã không toàn tính mệnh.
TRỊNH DUY SẢN - Hoàng thượng nên xét cho lòng thành thực của hạ thần. Chính sự đổ nát lắm rồi. Muốn cho nước yên thì phải thể lòng dân, mà dân bây giờ ai cũng oán Vũ Như Tô, mấy lũ... cung nữ.
KIM PHƯỢNG (quỳ xuống) - Trời ơi! Thần thiếp có tội gì? (Nắm vạt áo long bào khóc).
LÊ TƯƠNG DỰC - Ái khanh đứng dậy. Ái khanh không có tội gì. (Nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ). Ngươi lui ra, ngươi lui ra. Cung nữ là phận liễu bồ không hề bước chân ra khỏi Tử cấm thành, hỏi họ có tội gì? Có ai dọa làm tội thê thiếp ngươi không, Trịnh Duy Sản?
TRỊNH DUY SẢN - Chính họ đưa Hoàng thượng vào con đường tửu sắc, con đường xa xỉ. Chính vì muốn đẹp lòng họ mà Hoàng thượng cho xây Cửu Trùng Đài.
LÊ TƯƠNG DỰC - Đó là ý trẫm. Ngươi không được nói nữa.
TRỊNH DUY SẢN - Còn như Vũ Như Tô nữa. Nó đã bày vẽ ra Cửu Trùng Đài, hao tiền tốn của vì nó, sưu cao thuế nặng vì nó, triều đình đổ nát, giặc giã như ong là vì nó. Kiệt Trụ mất nước chỉ vì cái bệnh xây cung điện. Xin Hoàng thượng mau mau tỉnh ngộ, tu tỉnh thân mình, xa gái đẹp, đuổi Vũ Như Tô, học thói thanh liêm, thương dân như con kẻo họa đến thân.
LÊ TƯƠNG DỰC - Duy Sản, ngươi bước ngay. Kẻo cái công hãn mã của ngươi trẫm không kể nữa. Trẫm phải nghe ngươi dạy khôn à?
TRỊNH DUY SẢN - Xin Hoàng thượng nghe lời hạ thần đuổi cung nữ, chém Vũ Như Tô... (nắm lấy áo vua).
LÊ TƯƠNG DỰC - Lão ương gàn, quân hủ nho... (rút kiếm) Bước!
TRỊNH DUY SẢN - Hạ thần xin chết về tay Hoàng thượng còn hơn là trông thấy ngày nhà Lê mất nghiệp (quỳ xuống vươn cổ).
(Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng)
Tóm tắt: Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm 5 hồi, viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 - 1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vở kịch xoay quanh cuộc đời nhân vật chính - Vũ Như Tô - một kiến trúc sư tài năng. Lê Tương Dực là một hôn quân, suốt ngày say mê tửu sắc, ăn chơi sa đọa, bỏ bê việc nước. Hắn muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi cùng đám cung nữ. Vũ Như Tô vì quan niệm nghệ thuật thuần khiết, thanh cao đã đưa gia đình đi chốn nhưng vẫn không thể thoát khỏi tay sai của Lê Tương Dực. Khi bị giải vào cung, ông được cung nữ Đam Thiềm thuyết phục và đồng ý xây Cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí vào việc xây dựng cho đất nước một công trình kì vĩ, “tranh tinh xảo với hóa công”, để nước ta không hề thua kém với các nước láng giềng. Thế nhưng, ông đã vô tình gây ra biết bao tai họa cho người dân: Thuế khóa nặng nề, thợ giỏi bị bắt vào cung xây đài, tróc nã, hành hạ những người chống đối, biết bao người chết vì xây Cửu Trùng Đài khiến lòng dân oán hận. Quận công Trịnh Duy Sản đã nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng Lê Tương Dực vẫn chấp mê bất ngộ. Nhân lúc tình hình rối ren, ông đã cầm đầu phe đối lập trong triều, dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm và phá hủy Cửu Trùng Đài.
Câu 1. Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc nào?
Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích trên.
Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: Giặc giã nổi lên khắp nơi. Đó là một điềm bất tường. Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
Câu 5. Từ đoạn trích, em có nhận xét gì về bối cảnh xã hội lúc bấy giờ?
Câu 1:
Đoạn trích trên thuộc kiểu văn bản nghị luận (hoặc văn bản thông tin có yếu tố nghị luận). Cụ thể, nó sử dụng phương thức kể chuyện (ví dụ về việc bắt khỉ ở châu Phi) để dẫn dắt và làm rõ cho luận điểm chính về việc tự giam hãm bản thân và sự cần thiết phải đưa ra quyết định, từ đó thể hiện quan điểm, suy nghĩ của tác giả.
Câu 2:
Vấn đề cốt lõi được bàn luận trong văn bản là sự tự giới hạn bản thân, sự thiếu quyết đoán và nỗi sợ hãi bám víu vào quá khứ hoặc sự ổn định quen thuộc, khiến con người không dám hành động để thay đổi và tìm kiếm hạnh phúc tốt đẹp hơn. Tác giả đặt ra câu hỏi cơ bản về mong muốn thực sự trong cuộc sống của mỗi người.
Câu 3:
Đoạn văn đầu tiên có vai trò là phần mở đầu và đưa ra dẫn chứng/ví dụ cụ thể, mang tính minh họa (exemplification). Việc kể về chú khỉ bị mắc kẹt vì không chịu buông bỏ hòn đá đóng vai trò là một hình ảnh ẩn dụ sinh động, giúp người đọc dễ dàng liên hệ và hình dung về tình trạng tự trói buộc, thiếu quyết đoán mà tác giả sắp phân tích ở các đoạn sau.
Câu 4:
Nếu đoạn văn đó trình bày nội dung tiếp nối từ câu hỏi "Ai là người cảm thấy hạnh phúc hơn?" (có trong hình ảnh thứ hai), thì đoạn đó sẽ được trình bày theo kiểu đoạn văn diễn dịch hoặc tổng – phân – hợp nhằm phân tích, so sánh hai đối tượng (người không dám chơi và người dám chơi) để đi đến kết luận cuối cùng về hạnh phúc
Câu 5;
Theo em, người cảm thấy hạnh phúc hơn là "người lao vào cuộc chơi là để giành chiến thắng". Người chỉ nhăm nhăm không thua thường hành động với tâm thế phòng thủ, sợ thất bại, bị giới hạn bởi nỗi sợ hãi và sự so sánh với tiêu chuẩn an toàn. Ngược lại, người đặt mục tiêu chiến thắng (hay tiến bộ) là người dám chấp nhận rủi ro, chủ động hành động và hướng tới kết quả tích cực, điều này thường mang lại cảm giác thành tựu và ý nghĩa cao hơn cho cuộc sống.
Câu 1.
Kiểu văn bản: Nghị luận.
Câu 2.
Vấn đề: Con người phải dám từ bỏ sự ràng buộc, chấp nhận rủi ro, sống chủ động để đạt được thành công và hạnh phúc.
Câu 3.
Vai trò đoạn (1):
→ Nêu dẫn chứng (câu chuyện con khỉ) để mở đầu, từ đó gợi ra vấn đề nghị luận.
Câu 4.
Đoạn (5): Diễn dịch
Câu 5.
Người “lao vào cuộc chơi để giành chiến thắng” sẽ hạnh phúc hơn, vì:
→ Họ sống chủ động, dám thử thách, tìm cơ hội, có mục tiêu rõ ràng.
→ Còn người chỉ “không muốn thua” thường sợ rủi ro, dễ bỏ lỡ cơ hội, nên khó đạt được niềm vui trọn vẹn.